thánh phan-xi-cô: tiểu sử-linh đạo- bút tích

Thánh Phan-Xi-Cô Sa-Lê: Tiểu Sử – Linh Đạo – Bút Tích

  • Joseph Domyth, SDB

PHẦN I

TIỂU SỬ – LINH ĐẠO THÁNH PHANXICÔ SALÊ

PHẢI CHĂNG CÓ ĐƯỢC MỘT NỀN LINH ĐẠO SALÊDIÊNG?

Tác giả: Claude Roffat

        Linh đạo là gì? Tại sao cần phải có nhiều trường dạy linh đạo? Mục đích và những phương thế trọn lành. Nhiều sắc thái trong cách thức họ thực hiện. Vấn đề nhấn mạnh. Những vị nhạc trưởng thiêng liêng. Hướng về một vẻ hài hòa Salêdiêng.

        Các cấu tố lịch sử của nền linh đạo Salêdiêng. Sự chiến thắng của nền nhân bản phục hưng : “Điều lộng lẫy là con người”. Phản ứng của Thệ phản : “Con người đáng khinh bỉ và bị kết án”. Phanxicô Salê đối kháng lòng khiêm nhường với tính kiêu ngạo thời phục hưng và niềm tin tưởng với chủ nghĩa yếm thế thời Cải cách.

        Phải chăng có một nền linh Salêdiêng? Đây là một trong những câu hỏi đã được đặt ra và cần phải được giải quyết đầu tiên. Nếu người ta trình lên cho chính thánh Phanxicô Salê, thì chắc chắn Ngài sẽ trả lời là: “không”, vì khiêm nhường, nhưng không chắc là người ta phải tin vào lời ngài. Đó là điều mà người ta muốn chứng minh trong bài này.

        Người ta có thể gán cho từ ngữ linh đạo vài ba ý nghĩa rộng hay hẹp. Nó không cống hiến cho ta nhiều ý nghĩa cho bằng từ ngữ “thần bí”, qua từ ngữ này người đồng thời với chúng ta đã xử dụng quá nhiều đến – thường quá xa xôi với khoa thần bí thật sự – đó là một tiếng cũng dễ được gán cho nhiều cách cắt nghĩa khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ ghi nhận ý nghĩa cổ điển được sử dụng trong thần học. Vả lại linh đạo được hiểu theo phần thần học này là môn học bàn về sự trọn lành Kitô giáo. Đó là ý nghĩa lý thuyết, linh đạo được coi như một khoa học, nhưng nếu chúng ta muốn hiểu nó trong cách thế nó được áp dụng, như là một nghệ thuật sống, thì ta sẽ nói rằng linh đạo không là gì khác ngoài việc đem những nguyên tắc và những phương thế trọn lành Kitô hữu ra áp dụng.

        Bởi thế, có thể và trên thực tế đã có nhiều nền linh đạo. Là vì nếu những nguyên tắc và phương thế thánh hóa đều chung cho tất cả mọi linh hồn ước muốn trọn lành, thì việc đem chúng ra áp dụng sẽ biến đổi hầu như là với mỗi một thứ linh đạo, theo lúc, theo tình trạng cuộc sống, theo tính khí và nhất là theo những lời kêu gọi vô cùng khác biệt của ân sủng thần linh.

        Các nguyên tắc đều mang tính cách tổng quát, được áp đặt, không thể bị bàn cãi. Chúng đến trực tiếp từ Phúc Âm, dưới hình thức những điều răn cốt yếu của Đức Kitô Giêsu. Con người được tạo dựng để yêu mến Thiên Chúa và cận nhân trong Thiên Chúa: đó là mục đích duy nhất của mọi thứ trọn lành Kitô giáo. Chưa bao giờ đã có, sẽ chẳng bao giờ có mục đích nào khác nữa. Theo thánh Phaolo, khi người ta nói rằng con người đã được tạo dựng vì vinh danh Thiên Chúa, hay để ngợi khen Thiên Chúa, thì quả thật người ta nói cùng một điều dưới một hình thức khác: đó là tình yêu của chúng ta, chỉ mình nó mới có thể dâng cho Thiên Chúa vinh quang và lời ngợi khen Người mong chờ nơi ta. Đó là lý tưởng phải hướng về ngày càng hơn, nhưng đồng thời là ta cũng không hy vọng là có thể đạt tới cách hoàn hảo trên mặt đất này, trong tình trạng lữ hành mà không bao giờ ta đạt tới: sự trọn lành không thể chiếm đoạt được ở dưới thế, nó tiến đến dần dần.

        Những phương thế trọn lành không còn để ta chọn lựa cũng như mục đích phải nhắm tới vậy. Đối với tất cả mọi người, đó là việc chối bỏ tội lỗi và thực hành những nhân đức Kitô giáo. Chiến đấu chống lại những nết xấu và luyện tập các nhân đức, đó chính là khía cạnh lưỡng diện đồng thời và bổ túc cho nhau của mọi tác động siêu nhiên theo ý nghĩa trọn lành. Không ai có thể lánh khỏi đó mà không qua hành động đó, lánh khỏi điều răn của Đức Giêsu: “Nếu ai muốn theo Ta, thì hãy vác thánh giá mình mà theo Ta”.

        Tất cả những điều đó không thể thay đổi. Như vậy, do đâu lại có nhiều trường phái linh đạo Kitô giáo khác nhau?

        Đó chính là việc đem áp dụng những phương thế để đạt tới mục đích không đồng nhất.Nó sẽ biến đổi tùy theo những nhu cầu hay những khuynh hướng của từng người. Linh hồn này sẽ phải chiến đấu với những khuyết điểm nhiều hơn hay là khó sửa trị và ngoan cố hơn, linh hồn khác sẽ cảm nhận là mình bị lôi cuốn nên luyện tập nhân đức luân lý mà mình thích hơn là một nhân đức khác về mặt siêu nhiên: người thì đức trong sạch, người thì đức nghèo khó, hay về một ơn gọi nhất định nào đó, người thì cuộc sống hoạt động và người kia thì cuộc sống chiêm niệm.

        Những khuynh hướng và những lời mời gọi này đôi khi sẽ cụ thể hóa trong con người một vài vị Thánh lớn, các Ngài sẽ trở thành những người đứng đầu trường phái và sẽ qui tụ theo sau mình những tâm hồn mà Thánh Kinh hướng dẫn bằng những nẻo đường giống như những nẻo đường mà các Ngài đã đi . Tất cả chỉ tìm tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, trong việc chống lại những bản năng tội lỗi và thực hành những nhân đức luân lý và đối thần, nhưng với một sự khác biệt lớn lao về cách thế nhấn mạnh những điểm nổi bật.

        Thánh Bênêđettô sẽ nhấn mạnh đến việc thờ phượng ca ngợi phải được dâng lên cho Thiên Chúa trong thần vụ và Thánh lễ và linh đạo Biển Đức sẽ chủ yếu mang sắc thái phụng vụ. Thánh Phanxicô Assisi sẽ nhấn mạnh đến con tim, việc bắt chước Đức Giêsu với tình yêu mến trong cuộc đời nghèo khó, đau khổ, bác ái, và việc đạo đức Phan-sinh sẽ được hài hòa giữa lòng êm ái, đơn sơ, khiêm nhượng. Qua sự rũ bỏ trọn vẹn, trong thinh lặng, sa mạc và đêm tối. Thánh Gioan Thánh Giá và thánh Têrêsa sẽ tìm kiếm việc nhận biết Thiên Chúa cách khoái trá, và sự chiêm niệm tông đồ sẽ là nét đặc biệt của nền linh đạo Cát minh. Cũng như thế đối với vị sáng lập vĩ đại xây nên các trường phái linh đạo Kitô giáo mà Giáo Hội ngày nay cống hiến cho những ước vọng và khuynh hướng của các con cái mình, ước ao đáp trả lời mời gọi đích xác của Thiên Chúa. Và vì đó cho nên, trong khi đi tìm con đường trọn lành, thì ta có được tinh thần Biển Đức, Đa minh, Phan Sinh, Y Nhã, Bérulle và những vị khác nữa.

        Từ đó phát sinh những vị thầy trong nền linh đạo như những vị nhạc trưởng. Cũng như một bản nhạc, các đề tài và hòa âm đều đồng nhất cho mọi người, các nhạc sĩ đề cử bản nhạc cũng đồng nhất luôn. Và dầu vậy mặc lòng, người ta vẫn còn nhiều thoải mái cho vị nhạc trưởng trong việc giải nghĩa một kiệt tác. Theo sở thích, ông có thể làm nổi bật chủ đề kia và  tạo sắc thái cho bản nhạc bằng cách gán cho nó tầm quan trọng hơn kém vào đàn giây, hay nhạc khí bằng gỗ hoặc phong cầm; đàn dây thì nhấn mạnh đến phần trầm, còn dương cầm thì réo rắt bay bổng; hay bằng cách làm nổi bật điệu, hoặc bằng cách làm nó bàng bạc trong hòa âm.

        Chỉ cần nghe bản hòa âm thứ 5 của Beethoven được Furtwangler và Toscanini giải thích để hiểu rõ những tiết điệu rất đặc biệt do người này hay người kia mang lại theo lối diễn tả tư tưởng âm nhạc của người soạn nhạc vĩ đại. Như thế, các bậc thầy của đời sống nội tâm là toàn thể những nhà giải thích tư tưởng Đức Kitô cách trung thực, nhưng lại nhấn mạnh hay bỏ quên khía cạnh này hoặc khía cạnh kia của Thầy, không thể làm cho tất cả chúng được sống lại với cường độ đồng nhất trong một cuộc sống nhân loại. Trong bó hoa phong phú nhiều nhân đức Kitô giáo, mỗi người khai khẩn bông hoa cá nhân mình, mà không che khuất những người khác, dầu vậy lại tạo được vẻ hài hòa toàn thể nhờ mầu sắc riêng biệt của hoa.

        Đó cũng là cách so sánh được Phanxicô Salê sử dụng ngay đầu quyển Đời sống sủng ái, Cô hàng hoa Glycêra, người hiểu rất rõ cách thế “xếp đặt được nhiều kiểu khác nhau và pha trộn được lắm thứ hoa khác nhau cùng với những thứ cây đó”.

        Hạnh phúc thay! Hình như cô hàng hoa là hình ảnh Chúa Thánh Thần, Đấng an bài và xếp đặt với nhiều vẻ khác biệt những lời chỉ dạy về sủng ái mà Ngưới ban phát qua miệng lưỡi và ngòi bút của các đầy tớ Người, mà giáo thuyết thì luôn luôn là một, nhưng các bài đàm luận được hình thành từ đó thì quả khác biệt biết bao”. Và thánh Phanxicô Salê kết thúc đoạn văn của Ngài bằng lời cầu mong quý báu này, mà chúng tôi sắp ghi lại để biện minh cho câu chuyện của chúng ta:

        “Đã hẳn, tôi chỉ có thể và chỉ muốn viết quyển Dẫn nhập vào những điều các bậc tiền bối đã viết. Bạn đọc thân mến, đây tôi cũng sẽ trình bày với bạn những đóa hoa như họ, song chắc chắn bó hoa tôi sẽ khác với các bó hoa họ vì cách xếp đặt có phần khác (Dẫn vào đời sống sủng ái, lời tựa III, 5-6)

        Bó hoa khác nhau thì hương thơm cũng khác nhau. Nền linh đạo Salêdiêng sẽ không gì khác ngoài việc trình bày mang tính cách cá nhân những nguyên tắc và những phương thế trọn lành Kitô giáo, trong một tinh thần lạc quan thiêng liêng, được đặt nền trên sự khiêm nhường tươi vui của linh hồn và lòng phó thác trọn vẹn của Ngài vào Thiên Chúa, như chúng ta sẽ thấy trong suốt những trang giấy này. Đó là hương thơm Salêdiêng. Thái độ tâm hồn của thánh Phanxicô Salê chắc chắn tỏ lộ cho chúng ta thấy rõ qua tính khí cá nhân và qua những hoàn cảnh Ngài đã sống, nhưng nó có một giá trị vô thời gian và giữ được một ảnh hưởng phổ quát cho phép Ngài tìm thấy được âm vang trong trăm ngàn linh hồn giống tựa linh hồn Ngài và được hướng đến ảnh hưởng trong trường của Ngài. Dầu vậy thái độ sẽ được hưởng thấu đáo hơn nếu chúng ta lại đặt nó trong khoảng thời gian của Ngài để xác định được những thành tố lịch sử của nó. Ta hãy thử xem!

        Thánh Phanxicô Salê vào đời giữa những lúc nền nhân bản đang hoàn toàn khởi thắng. Khi còn du học ở Paris và Padova và rồi trong lúc trao đổi với những bậc sĩ phu nổi tiếng vào thời Ngài, vào thời phấn khởi trí thức rất ư là đặc biệt của thế kỷ thứ 16. Ngài tham dự vào nỗi thất vọng về tri thức những điều mới lạ, vào sự tò mò không thể thỏa mãn được về những điều thuộc tinh thần. Chính Ngài tham dự vào, và người ta biết rằng Ngài đã thành lập “Hội chơi hoa sơn cước” trong thành phố Annecy.

        Đã vậy, nền nhân bản thời Phục hưng, theo từ ngữ của Henri Bremond, “chủ yếu là một khuynh hường nhắm đến việc biểu dương vinh dự con người. Được khám phá ra vẻ đẹp cố sơ kích thích và đặc biệt sự vĩ đại của nền văn hóa Roma đánh động, các nhà nhân bản thời Phục hưng ở Pháp, Ý hay Anh đã đồng loạt ca ngợi “điều lộng lẫy là con người”. Con người tự nhiên, là điều hiển nhiên.

        Trái lại không thành vấn đề khi học hỏi tác động ân sủng nơi hết mọi người lương dân tuyệt diệu này mà Giám mục Amyot tốt lành khi đem tác phần của Plutarque ra dịch, đã làm cho các học sinh và các tín hữu trong giáo phận mình phải khâm phục. Điều rất dễ hiểu là bởi chính mình con người có khả năng vươn lên tới nhân đức cao cả nhất và con người được giải thoát, được sinh ra mạnh khỏe, được dạy dỗ kỹ càng, thì tự nhiên có một bản tính và vật kích thích thúc đẩy họ làm những hành vi nhân đức và giảm thiểu tật xấu như cụ Francis Rabelais đã viết khi giới thiệu quyển tu viện Thélème.

        Nhưng, hỡi ơi! kinh nghiệm quá xót xa làm cho họ phải cụt hứng. Không cần phải nói gì thêm nữa, trong thực tế hằng ngày, sự phó thác được đảm bảo này vào sự tốt lành căn bản của bản tính con người lại xuất hiện khá chân thành, nơi những tinh thần tôn giáo của quá nhiều nhà nhân bản phục hưng sẽ không chậm trễ.

        Nó sẽ tràn ngập bờ mốc và cách rộng rãi với các nhà sáng lập nên phong trào Cải Cách. Đối với Martin Luther, một tâm hồn có nền tảng tôn giáo, bị hành hạ bởi một tính khí quá nồng nhiệt, thì bản tính con người thật không đáng được những danh hiệu vinh quang mình đáng được. Trái lại, theo ông, với sức lực riêng của mình mà thôi, con người tuyệt đối không thể chống lại với những làn sóng dập dồn của các bản năng nảy lên nơi mình và với chút ít tự do mà con người nhận được quá khôi hài đã sớm làm cho nó ra đen tối trong một cuộc giao chiến chênh lệch. May mắn thay, Đức Kitô xuất hiện để nhờ ân sủng dồi dào mà che phủ đi sự thối nát nhân loại và khoan nhân cứu chuộc tạo vật đáng khinh bỉ của Người.

        Nhưng, Calvin hỏi: Phải chăng Thiên Chúa quá khoan dung? Và ông đã trả lời tiêu cực. Thiên Chúa công bằng và nghiêm khắc. Việc hy vọng là khối đông con người u ám trong ô nhục có thể được cứu chuộc cách dễ dàng là điều ảo tưởng: chỉ có một số ít thoát khỏi được hình phạt Thiên Chúa đã thấy trước, Đấng, mà qua mệnh lệnh công bình vĩnh cửu, chỉ kêu gọi cứu rỗi những linh hồn ưu tuyển, đã được tiền định sống ở đời này một cách nhiệm nhặt làm sao đạt được mức độ để cứu mình khỏi cảnh hư hoại phổ quát.

        Đó là những luồng tư tưởng lớn lãnh đạo các thái độ tâm hồn, mà Phanxicô Salê tìm thấy chung quanh mình. Nhưng, chính Ngài là Đấng Quan Phòng đã định để trả lời cho những khuynh hướng chống đối này bằng cách nắm giữ con đường giáo thuyết phúc âm nguyên tuyền. Phanxicô không thích Rabelais de Chantai, ngày 8.12.1610 (14,376) và dưới ngòi bút của ngài, một tĩnh từ như thế đáng được ta lưu ý nhưng Ngài còn chống đối cách mạnh mẽ hơn nữa lạc giáo Thệ phản mà Ngài sẽ chiến đấu suốt đời Ngài một cách vinh quang.

        Đối với nền nhân bản quá tin cậy vào sức riêng của bản tính con người mà thôi. Phanxicô Salê sẽ đem sự hồ nghi Kitô giáo ra để đối kháng lại; cho rằng con người tự nhiên hướng về sự dữ và tuyên bố là nhân đức nền tảng cho mọi nỗ lực trong cuộc sống nội tâm là lòng khiêm nhường. Đối với thuyết bi quan đen tối của nhà Cải Cách, Ngài sẽ chống lại bằng sự tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa là Đấng không ngừng đến giúp đỡ sự khốn khổ của chúng ta được nâng ta lên cao và cho phép ta được sử dụng sức lực ta hầu phụng sự Người. Đối với Luther là người đã chỉ cho Ngài thấy con người hư hỏng và đáng khinh bỉ, Phanxicô trả lời rằng con người đáng khinh nhưng lại dễ thương, và đối với Calvin, người giảng cho Ngài một Thiên Chúa nghiêm khắc, Ngài trả lời bằng cách ca khen người Cha hay thương xót. Và như vậy Ngài hướng dẫn toàn bộ nền linh đạo Kitô giáo về với một thuyết lạc quan thảnh thơi, không còn được xây nền trên sự tự chủ của con người nhưng là trên Thiên Chúa, hướng về giữa hai cực là lòng khiêm nhường và tín thác.

        Chúng ta sẽ có dịp trở lại với đặc tính chủ yếu của nền linh đạo Salêdiêng, và sẽ chứng minh dài dòng hơn bằng những bút tích của vị thánh tiến sĩ. Ngay bây giờ cùng với những người khác ta chỉ cần nhận định chỗ đứng của thánh Phanxicô Salê như là một chủ thuyết lạc quan quân bình, mong cống hiến định hướng hữu ích hầu hiều rõ giáo thuyết của Ngài cho những ai sẽ tỏ ý muốn đọc kỹ điều mà chúng ta viết.

        Giáo thuyết phong phú với những lối áp dụng thực tiễn và thật lắm điều yên ủi. Quả vậy, ước gì phần đa số, chớ không phải là một nhóm nhỏ, được mời gọi không chỉ lãnh nhận ơn cứu rỗi mà thôi nhưng còn được nên trọn lành trong đạo Chúa Kitô, thích hợp với bậc sống của mình, như điều mà thánh Phanxicô Salê đã thường xác quyết, phải chăng đây là niềm xác tín sinh ích lợi cho bao linh hồn đã bị gục ngã quá nhanh do bởi những thất bại của họ và nản chí trước những sự thánh thiện không thể có được? Vị Giám mục Genève tốt lành sẽ nâng họ lên, và cầm tay họ cách êm ái, dịu dàng, khỏi nản chí và sẽ chỉ cho họ thấy rằng sự trọn lành ở vừa tầm với của họ và là điều dễ dàng với hai điều kiện, một là khiêm nhường hoàn toàn và tươi vui, hai là phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Khi ý thức được sự khốn nạn của ta mà làm ta nản lòng, đó là vì ta quên không ý thức được tình thương của Thiên Chúa, điều thứ hai đáp trả cho điều thứ nhất miễn là điều thứ nhất kêu cầu điều thứ hai. Và chắc chắn chúng ta không bao giờ ý thức đầy đủ sắc bén về sự thiếu sót của mình, Không bao giờ chúng ta có một tri thức đủ sắc bén về sự yếu đuối của riêng ta và sẽ luôn luôn phải chiến đấu chống lại tính hay chiều lòng mình, tính này sẽ chỉ chết sau chúng ta 15 phút, nhưng đó luôn sẽ là cơ hội mới cho chúng ta tựa nương vào sự trợ giúp được Thiên Chúa bảo đảm với trọn tình tín thác, để ta trao trọn mình ta cho Người dẫn dắt mà thôi, đến độ là đạt tới mức không còn ước ao gì ngoài những điều lệnh Người cấm đoán, bằng cách là nhìn thấy dấu hiệu ân sủng Người trao ban là lời tình yêu Người mời gọi trong mọi sự. Hình như, chỉ vào cuối thời Phanxicô Salê mới đạt tới cách sống thường xuyên trong tình trạng “dửng dưng thánh thiện”. Khi mà một trạng thái như vậy đối với nhiều người vẫn còn là một lý tưởng nguyên tuyền mà thôi, thì dầu vậy mặc lòng, ta vẫn phải mong mỏi ngài, phải hướng về ngài, về trường của ngài, với trọn lòng tín thác và khiêm nhường.

BÀI SUY NIỆM VỀ THÁNH PHANXICÔ SALÊ

Thánh Anphong Liguori

(Trích từ quyển “Con đường cứu độ”, xuất bản vào năm 1766)

  1. ĐỨC TIN CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ THẬT LỚN LAO

        Ngài đã say đắm vẻ đẹp của đạo thánh chúng ta đến nỗi trong cơn thán phục, không ai có thể cấm Ngài kêu lên: “Ôi trời hỡi, vẻ đẹp của đức tin thánh thiện của chúng ta thật quá kiều diễm đến nỗi cha chết đi vì yêu. Cha đề nghị mình phải nắm chặt ân huệ quí giá mà Thiên Chúa đã gia ân cho Cha trong một trái tim hoàn toàn được tỏa ngát hương sùng kính.” Ngài cũng không ngừng tạ ơn Chúa đã cho Ngài được sinh ra trong lòng Giáo Hội Công giáo. “Lạy Thiên Chúa con, con phải tạ ơn Ngài dường nào, vì muôn ơn lành Ngài đã tuôn đổ trên con, nhất là làm sao và cho đến bao giờ con mới có thể tạ ơn Ngài vì ánh sáng đức tin được?”. Ngài thú nhận: “Mặc dầu cha có thường xuyên thảo luận với người lạc giáo, nhưng không một nghi ngờ nhỏ bé nào về các chân lý đức tin đã lướt qua linh hồn cha.”

        Khi yêu mến Thiên Chúa, ta không nghi ngờ những mầu nhiệm thánh thiện của ta; ta nghi ngờ những chân lý mạc khải, khi không sống xứng hợp với những lời Thiên Chúa dạy dỗ.

  1. ĐỨC CẬY CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ CŨNG LỚN LAO.

        Ngài tin chắc chắn rằng Thiên Chúa luôn lo đến ích lợi của chúng ta. Ngài cũng luôn luôn điềm tĩnh vô cùng đến độ chẳng chút sợ hãi trong những mối giây nguy hiểm lớn lao nhất. Dẫu cho những chướng ngại vật từ phía những người phản kháng chống Ngài đã bày ra có khó khăn không vượt nổi đến đâu đi nữa với các kế hoạch của ngài, trong khi mà những công việc Ngài đảm nhận chỉ có một mục đích duy nhất là vinh danh Thiên Chúa, thì lòng tín thác của Ngài luôn luôn kiên vững, Lòng tín thác kiểm chứng này, Ngài sẽ khắc ghi vào những người khác. Ngài viết cho một tâm hồn rụt rè: “Con có ước là thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa không? Con đừng sợ sự yếu đuối của con vì đó không phải là nơi con nương tựa. con chẳng hy vọng vào Thiên Chúa sao? Vậy thì ai hy vọng vào Thiên Chúa lại phải bị bẽ mặt? Con đừng sợ những mối lo ngại của con”. Khi người ta yêu mến nhiều, người ta cậy trông tin tưởng nhiều. Tình yêu đuổi xa sự sợ hãi.

III. SAU CÙNG TÌNH YÊU CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA CŨNG LỚN LAO

        Một cơn cám dỗ mãnh liệt vào thời thanh xuân đã làm Ngài sợ là không có hạnh phúc yêu mến Thiên Chúa đời đời. Nó đã làm cho sức khỏe Ngài tàn kiệt và bắt Ngài phải đem mạng sống ra mà trả giá đắt đỏ. Sau này, tình yêu Ngài đã thường xuyên đẩy Ngài ra đương đầu với cái chết để làm vinh danh Thiên Chúa. Ngài chú ý hết sức làm sao gạt ra khỏi lòng mình mọi thứ tình cảm nào mà không có Thiên Chúa làm đối tượng; một ngày nọ, người ta nghe Ngài thốt lên: “Nếu cha biết trong lòng cha có một sợi tơ nào đó không phải là của Thiên Chúa và cho Thiên Chúa thì cha vứt bỏ nó ngay lập tức”. Việc Ngài khát vọng tình yêu trong sạch không hề bị ngắt quãng: “Cha thà ra hư không còn hơn là không phải trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa.” Ngài viết cho một người: “lòng cha tràn ngập một sự ước ao bao la là được sát tế mãi mãi cho tình yêu tinh tuyền của Đấng Cứu Thế”.

        Bạn muốn có được một bằng chứng về tình yêu của ngài, về tình thân ái đối với Đức Giêsu Kitô không? Một đoạn sách Ngài viết đã cung cấp cho bạn bằng chứng đó: ”Chúng ta hãy chiêm ngắm Ngài, Đấng Cứu thế thần thiêng, giang tay trên thập giá để chết vì yêu mến chúng ta. Ôi bằng tinh thần ta lại không lao mình vào Ngài để chết trên thập giá với Ngài, Đấng vốn yêu thương ta đã khát khao cho được chết đi hay sao! Tôi sẽ giữ Ngài lại và sẽ không bao giờ từ bỏ ngài, tôi sẽ chết với Ngài và được thiêu đốt trong những ngọn lửa tình yêu của Ngài cùng một ngọn lủa đó sẽ làm tiêu hao Đấng tạo hóa thần linh này và thụ tạo yếu ớt của Ngài. Tôi sẽ viết số người và chết trên ngực Ngài. Dầu sống, dầu chết cũng không bao giờ tách lìa tôi khỏi Ngài”.

        Ôi lạy Đấng Thánh rất dấu yêu của con, giờ đây Ngài đang yêu mến Đức Giêsu trong những luồng ánh sáng rực rỡ của cảnh đối diện. Xin cầu cho con: Xin khấng ban cho con được ơn yêu mến Thiên Chúa như Ngài đã yêu mến khi còn ở trên trần này.

THÔNG ĐIỆP VỀ THÁNH PHANXICÔ SALÊ

của Đức Piô XI

        Trong một bức thông điệp gần đây, Ta đã sưu tầm tìm ra phương thức chữa trị những thác loạn phổ cập hiện đang thống chế trần gian. Ta nhận thấy rằng sự dữ nảy sinh ngay trong tâm hồn và người ta chỉ có thể chữa trị nó dựa vào Đức Kitô, Thầy thuốc thần diệu qua trung gian Giáo Hội (Ubi arcano ngày 23.12.1922).

        Thật vậy, sự dữ xảy ra cũng là do lòng dạ vô đáy, cội nguồn của chiến tranh và xung khắc khiến cho đời sống xã hội và việc bang giao quốc tế trở nên bất khả thực hiện. Đang khi đó, cũng cần khuyên các tâm hồn để họ đừng chạy theo sự phồn vinh giả tạo, mau tàn và dẫn họ vào thiện ích vĩnh cửu không thể hủy diệt mà phần lớn ai cũng thấy rõ cái cảnh hững hờ không tin được. Xã hội chỉ có thể tố đẹp hơn khi mà mọi người quyết tâm chu toàn phận vụ của mình với ý thức đạo đức.

        Quả thế, trong giáo huấn và tác vụ của mình, Giáo Hội chỉ nhằm một mục đích mà thôi. Đó là giảng dạy cho con người biết chân lý mạc khải và thánh hóa họ bằng cách tuôn đổ dồi dào ơn Chúa xuống trên họ. Nhờ đó, Giáo Hội điều chỉnh để chính những xã hội trước kia đã từng hình thành và khuôn rập theo nguyên lý Kitô giáo, một khi vừa mới lạc đường đã có thể trở về chính lộ. Giáo Hội thể hiện vai trò thánh hóa này một cách hữu hiệu nơi mọi người một khi Thiên Chúa trao ban đặc ân, đồng thời Giáo Hội cũng có sứ mệnh phải mời gọi tất cả các tín hữu biết noi gương những người con vinh hiển đã thực tập mọi nhân đức một cách đáng nể phục. Làm như thế, Giáo Hội đã hành động đúng với bản tính của mình” Đức Kitô, Vị Sáng lập đã chẳng gầy dựng Giáo Hội như cơ chế thánh hóa đó ư? Và tất cả những ai coi ý Chúa là đường hướng quản trị cho mình lại không ý thức họ có bổn phận tiến tới sự trọn lành đó sao? Thánh Phaolô viết: thánh ý Chúa là việc thánh hóa con người anh em (1 Tx 4,3). Chính Chúa đã giải thích việc thánh hóa thế này: “Hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành (Mt 5,48).

        Đừng ai tưởng lệnh truyền đó chỉ dành riêng cho một số tâm hồn đặc tuyển, còn những người khác có thể tùy ý sống ở bậc thấp kém hơn về nhân đức. Quy luật này hiển nhiên là buộc mọi người cách tuyệt đối chứ không có chuẩn miễn nào cả. Hơn nữa, lịch sử đã minh xác rằng những người trong thực tế đạt tới sự trọn lành Kitô giáo thật là đông đảo. Họ thuộc mọi lứa tuổi và mọi cảnh huống. Hết thảy đã từng cảm nếm bản tính yếu đuối và đã lướt thắng các nguy hiểm như mọi tín hữu khác. Đúng thế, theo thánh Augustino thì “Thiên Chúa không truyền điều bất khả, nhưng khi ban lệnh, Ngài nhắc nhở cần phải thực thi điều ta có thể và cần xin trợ lực để hoàn thành điều ta không có khả năng thực hiện (De Natura et Gratia 43, 50. Pl 44,271).

        Thế nên, chư huynh đáng kính, năm ngoái chúng ta đã long trọng cử hành đệ tam bách chu niên, việc phong thánh cho những vị đại anh hùng là Ignatio Loyola, Phanxicô Xavie, Philip Nêri, Têrêsa Cả và Isidoro Nông phu. Việc đó như đã cống hiến đáng kể cho việc thức tỉnh các tín hữu về lòng nhiệt thành xứng đáng đời Kitô hữu của họ.

        Giờ đây chúng ta đề nghị cử hành đệ tam bách chu niên mừng sinh nhật trên trời của một thánh nhân khác, Ngài là vị thánh tuyệt vời, nổi tiếng không những đã thực tập mọi nhân đức, nhưng còn khởi xướng những nguyên tắc và phương pháp sống thánh nữa. Ta có ý nói đến thánh Phanxicô Salê, Giám mục thành Genève và là tiến sĩ Giáo Hội. Giống như những mẫu gương sáng ngời về sự trọn lành và khôn ngoan Kitô giáo mà Ta mới dẫn chứng. Cả Ngài nữa cũng được Thiên Chúa dùng để ngăn chặn lạc thuyết của nhóm Cải cách. Đó là khởi điểm của phong trào tách rời xã hội khỏi Giáo Hội. Cho tới nay, mọi người thiện tâm vẫn còn phải phiền muộn về hậu quả tai hại của nó.

        Ý Chúa nhiệm mầu đã hoạch định ban Phanxicô Salê cho Giáo Hội, để Ngài dùng gương sáng đời sống và uy tín giáo lý của mình mà phi bác một thiên kiến trong thời của Ngài và còn tồn tại cho đến thời chúng ta. Đó là lạc thuyết cho rằng sự thánh thiện ấy không cách nào nhắm chung cho mọi tín hữu, nhưng chỉ dành cho số ít người được phú bẩm một tiềm năng hiếm có và một tâm hồn được nâng cao cách ngoại lệ. Tệ hơn nữa, lạc thuyết ấy còn rêu rao rằng sự thánh thiện gây chán chường và rắc rối đến nỗi tuyệt đối không phù hợp với cảnh huống đàn ông cũng như đàn bà sống giữa trần gian.

        Cũng vậy, trong dịp nói chuyện về việc kỷ niệm trọng thể năm Đấng thánh mà Ta đã nói ở trên. Vị Tiền nhiệm của Ta đã nhắc đến những ngày lễ giỗ của Phanxicô Salê. Hồi đó, Đức Bênêdictô 15 đã hứa viết một thông điệp đặc biệt gởi toàn thể Giáo Hội (bài Accogliamo ngày 24.12.1921). Ta coi dự tính đó như một lời di chúc và Ta rất mãn nguyện khi thực hiện điều này. Niềm vui của Ta còn gia tăng hơn nữa vì hy vọng rằng những kết quả của việc kỷ niệm bách chu niên vừa qua sẽ gia tăng nhiều ân phúc cho lần kỷ niệm sắp sửa khai mạc.

        Nếu người ta chú ý nghiên cứu cặn kẽ cuộc đời của thánh Phanxicô Salê, họ sẽ thấy rằng ngay từ những năm đầu, Ngài đã là gương mẫu về sự thánh thiện. Mẫu gương ấy không có gì là tẻ nhạt sầu thảm nhưng dễ thương và khả dĩ đạt tới mọi người. Về điểm này Ta có thể áp dụng lời sau đây một cách trung thực: “Với khôn ngoan, không có gì đắng cay khó chịu. Chung sống với khôn ngoan không có đau phiền, trái lại chỉ có hoan lạc và mừng vui (Kn 8,16).

        Thực vậy, nếu đã giải tỏa ánh sáng về mọi nhân đức, thì thánh Phanxicô Salê còn nổi bật về lòng dịu hiền đến nỗi ai cũng coi là điểm độc đáo và là đặc tính riêng của ngài. Sư dịu hiền của Ngài chẳng phải là một tính dịu dàng gượng ép dựa trên lối xã giao tinh tế và những cách rào đón quá đáng. Sư dịu hiền của Ngài cũng hoàn toàn đối nghịch với tính say đắm hoặc lãnh đạm, chỉ rung cảm do sự nhát đảm bất lực, vì khi cần cũng phải tỏ ra công phẫn mới được.

        Đặc biệt về lòng chạnh thương và tha thứ, nhân đức nổi bật này triển nở từ tận cõi lòng sâu thẳm của thánh Phanxicô Salê như đóa hoa tươi đẹp của đức ái. Nhân đức này còn biểu lộ qua vẻ mặt bớt nghiêm khắc, qua cử điệu và giọng nói khiến mọi người đem lòng quí mến.

        Các sử gia đều công nhận rằng vị thánh của chúng ta có thói quen dễ dàng ưu ái tiếp đón tất cả đặc biệt những tội nhân và những kẻ lạc giáo khi họ tới cửa để xin ơn tha thứ lỗi lầm và cải thiện cuộc sống. Niềm vui của Ngài là được chăm sóc những can phạm. Ngài năng thăm viếng để nâng đỡ họ và bằng ngàn vạn thể thức biểu lộ lòng bác ái. Ngài rất độ lượng với những gia nhân của mình , sẵn sàng chịu đựng những khiếm khuyết và thất lễ một cách nhẫn nại gương mẫu.

        Lòng nhân từ của thánh Phanxicô Salê trải rộng tới mọi người, ở bất cứ nơi nào, cả khi rủi ro cũng như lúc may mắn. Thế nên, dẫu cảm thấy bực bội với ngài, các người lạc giáo vẫn không hề cảm thấy mình ít được Ngài quan tâm trìu mến.

        Ngay sau năm chịu chức, bất chấp sự phản kháng của cha mình, Ngài tự nguyện theo ý Đức Cha Granier, Giám mục Genève, để dấn thân qua vùng Chablais về với Giáo Hội. Vị Giám mục rất hài lòng trao phó cho Ngài vùng đất bao la thưa thớt dân cư ấy. Thánh Phanxicô Salê đã tận tâm phục vụ, không định thoái lui trước mệt nhọc và cũng không dừng bước vì bất cứ nguy hiểm có thể gây tử vong nào.

        Hơn nữa, với kiến thức sâu rộng, với sức mạnh hùng biện phong phú, Ngài đã mưu ích hàng ngàn vạn linh hồn vì Ngài không ngừng vui cười thi hành tác vụ thánh của mình.

        Ngài ưa nhắc lại thường xuyên câu châm ngôn đáng ghi nhớ này: “Các tông đồ chỉ chiến đấu bằng đau khổ và chiến thắng bằng cái chết của mình”. Thật khó có thể tin nổi lòng nhiệt thành kiên nhẫn của Ngài lớn lao biết chừng nào khi phải chịu đựng vì Chúa Giêsu Kitô giữa những người dân miền Chablais.

        Để đem ánh sáng đức tin và niềm ủi an của đức cậy đến cho họ, vị thánh của chúng ta đã phải mạo hiểm xuống những thung lũng sâu và những nơi hiểm hóc. Giả như có ai lẩn trốn thì Ngài đeo đuổi họ và to tiếng mời gọi họ. Bị xua đuổi, Ngài không nản lòng. Bị dọa nạt Ngài vẫn tra tay vào công việc. Hơn một lần, ông chủ quán đã tống cổ Ngài ra ngoài, vị linh mục phải ngủ dưới màn sương và đắp chăn tuyết. Ngài cử hành thánh lễ đều đặn cho dù không ai đến tham dự. Dù mọi người bỏ ra về, Ngài vẫn tiếp tục giảng. Ngài luôn giữ tâm hồn bình thản, lấy đức ái dễ thương phi thường để cư xử với kẻ bội bạc, sau cùng Ngài đã làm cho kẻ đối phương phải khuất phục bất chấp sự phản kháng của họ có căng thảng tới mức nào đi chăng nữa.

        Có lẽ một số người nghĩ rằng thánh Phanxicô Salê bẩm sinh đã có tính hiền hòa và một trong nhưng năng khiếu phú bẩm đặc biệt của Ngài là ơn hiền hòa Chúa ban (Tv 20,4). Họ lầm to! Ngược lại, Ngài bẩm sinh đã khó tính và nóng giận, thế nhưng, Ngài vẫn ngước nhìn Chúa Giêsu Kitô để bắt chước. Chính Chúa đã nói:“Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).Thánh nhân đã triền miên kìm hãm những xúc động của tâm hồn và mãnh liệt khống chế chúng đến nỗi không còn danh xưng nào đẹp hơn là hiện thân của Thiên Chúa bình an và dịu hiền.

        Tiểu sử của Ngài ghi rõ một nét đáng lưu ý về sức phấn đấu nội tâm. Khi Ngài vừa chết, các bác sĩ khám nghiệm thi thể để ướp thuốc thì phát hiện ra gan của Ngài hầu như teo khô, chỉ còn một chút. Hiện tượng đó tỏ rõ Ngài đã phải nỗ lực phấn đấu đến chừng nào để có thể kiềm chế tính nóng bẩm sinh của mình trong suốt 50 năm trời.

        Như vậy, chính nhờ sức mạnh tâm hồn, không ngừng nuôi dưỡng bằng đức tin vững vàng và đức mến nồng cháy mà thánh Phanxicô Salê đạt được đức hiền lành ấy. Do đó, người ta có thể áp dụng từng chữ lời Kinh thánh sau đây về ngài: “Từ sức mạnh phát sinh sự hiền hòa” (Th.ph.14,14). theo thánh Gioan Kim Ngôn thì chính lòng dịu hiền tông đồ mới là uy lực lấn át mọi sức mạnh” (Bài giảng 63 về sách Sáng thế). Việc thu hút các tâm hồn không phải là chuyện trò chơi. Đã có lời Chúa phán về những người hiền lành như sau: “Phúc cho người hiền lành vì họ sẽ được đất nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,4).

        Đàng khác, nghị lực tinh thần làm cho thánh Phanxicô Salê thành mẫu gương về đức hiền lành tỏ lộ cách rõ rệt mỗi khi Ngài phải đấu tranh với những người quyền thế để bênh vực vinh quang Thiên Chúa, quyền lợi của Giáo Hội và phần rỗi các linh hồn.

        Điển hình là vụ chống lại nghị viện Chambery để bênh vực năng quyền của hàng giáo sĩ. Khi nghị viện gửi thông cáo đe sẽ trưng thu một phần tài sản của hàng giáo sĩ, Giám mục Phanxicô Salê không những chỉ trả lời cho những sứ giả một cách xứng hợp mà còn không ngừng phản kháng sự bất công đó đến nỗi nghị viện phải làm thỏa lòng Ngài mong ước. Ngài cũng đã cương nghị chịu đựng những tố cáo oan uổng một vương hầu đã gây ra cho hai anh em ngài. Ngài cũng phản kháng cách mãnh liệt như thế đối với một số lãnh chúa đòi chiếm đoạt những bổng lộc của hàng giáo sĩ. Ngài cũng quyết liệt khiển trách quân phản động dám đánh thuế hội đồng kinh sĩ giáo phận Genève.

        Với tinh thần tự do Phúc âm, Ngài quen làm cho những tệ đoan tàn lụi hoặc vạch trần những thói giả nhân giả nghĩa. Dẫu tôn trọng mọi người, Ngài vẫn không chịu qụy lụy hòa theo những việc làm để mua chuộc hoặc chiều theo các tham vọng của những vương hầu.

        Chư huynh đáng kính, chúng ta hãy để ý xem làm cách nào Phanxicô Salê vừa tỏ ra là con người gương mẫu thánh thiện, dễ thương, vừa dùng ngòi bút để vạch rõ cho mọi người con đường chắc chắn và nhanh chóng đưa tới sự trọn lành Kitô giáo và cách Ngài đã từng bắt chước Chúa Giêsu, Đấng dạy dỗ trước tiên bằng việc làm sau đó bằng lời nói (Cv 1,1).

        Ngài đã viết khá nhiều trước tác theo ý hướng này. Trong số các văn phẩm của Ngài có hai tác phẩm nổi tiếng hơn cả là : Philote (Dẫn đường vào đời sống sủng ái) và Luận về Tình yêu Thiên Chúa.

        Trong tác phẩm đầu tiên, thánh Phanxicô Salê đã không loại bỏ sự nghiêm khắc chính đáng ra khỏi lòng đạo đức đích thật miễn sao nó phù hợp với đời sống Kitô hữu. Trước hết Ngài phân định rõ đâu là sự nhiệm nhặt quá đáng khiến cho các linh hồn thực hành nhân đức phải khiếp sợ và phải nản lòng. Tiếp đến Ngài dành trọn tác phẩm để minh chứng rằng sự thánh thiện hoàn toàn phù hợp với mọi chức phận và huống cảnh sống giữa thế gian. Đồng thời Ngài cũng minh chứng rằng ngay giữa dòng đời, ai ai cũng có thể sống đúng với thiện ích vĩnh cửu, miễn là họ không theo tinh thần thế tục.

        Như vậy, theo giáo thuyết của ngài, ngoại trừ tội ra, chúng ta có thể làm mọi điều người ta quen làm, thế nhưng phải làm một cách thánh thiện để vui lòng Chúa. Đó là điều rất nhiều người sao nhãng.

        Thánh nhân còn dạy chúng ta hãy trung thành với những điều thích đáng dù nó ngoài phạm vi nhân đức. Ngài cũng dạy chúng ta đừng hủy diệt song hãy lướt thắng bản năng tự nhiên. Theo Ngài thì chúng ta cần bay lên trời một cách thong thả như chim bồ câu vỗ cánh lướt nhẹ nhàng, nếu ta không thể vút bay cao như phượng hoàng tung cánh. Có nghĩa là nếu ta không được mời gọi tới sự trọn lành phi thường thì hãy hướng tới sự thánh thiện bình thường.

        Với giọng văn luôn luôn trịnh trọng và đôi khi dí dỏm, thánh nhân đã điểm tô lời dạy dỗ của mình bằng những thành ngữ và cú pháp vừa tinh túy vừa hấp dẫn khiến độc giả dễ dàng tiếp thu. Thánh Phanxicô Salê, khởi sự khuyên tránh xa các khuyết điểm, chống trả những khuynh hướng xấu, trốn tránh những điều vô bổ hoặc tác nguy. Kế đó, Ngài chỉ cho chúng ta những nét cụ thể để hoàn thiện hóa tâm hồn và phương thế phải theo để kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa.

        Ngài tiếp tục khuyên chúng ta tìm một nhân đức để tập cho tới khi chiếm hữu được nó, Ngài quảng diễn cách riêng về nhân đức khiết tịnh, về những câu chuyện tốt và xấu, những thú tiêu khiển đúng phép và nguy hại, lòng trung thành với Thiên Chúa, cũng như về bổn phận của bậc vợ chồng, góa bụa và đồng trinh.

        Sau cùng, Ngài vạch cho ta những phương cách phát hiện và lướt thắng những nguy cơ, những cám dỗ, và những ảo vọng. Rồi Ngài chỉ cho ta tầm mức quan trọng của việc quyết định lại hàng năm để củng cố mình ở trong lòng đạo đức

        Theo ý kiến người đương thời với thánh Phanxicô Salê thì đây là tác phẩm hoàn hảo hơn cả, đã được ấn hành. Hiện nay người tín hữu vẫn thường có trong tay giống như người xưa kia nó đã từng là sách gối đầu giường của mọi người. Nhờ đó, lòng đạo đức triển nở trên khắp thế giới và Giáo Hội Chúa vui mừng vì thấy sự thánh thiện lan tràn trên tất cả con cái mình.

        Cuốn sách Luận về Tình yêu Thiên Chúa cũng có tầm quan trọng và uy tín hơn nữa. Nó được trình bày những một lịch sử về tình yêu Thiên Chúa. Vị tiến sĩ của chúng ta cho biết lai lịch và sự phát triển của lòng mến cũng như những nguyên nhân làm cho nó ra nguội lạnh và suy yếu nơi các tâm hồn, sau cùng là cách thức luyện tập và tiến tới trong lòng mến.

        Khi chủ đề đã được quảng diễn và cung cấp đủ chất liệu, vị thánh khai triển thêm một cách trong sáng về những vấn đề nan giải hơn. Đó là vấn đề ơn công hiệu, tiền định, ơn gọi gia nhập đức tin. Để tránh giọng điệu khô khan, Ngài khéo léo và tế nhị chuyển câu chuyện qua những hình ảnh hấp dẫn và mùi vị thơm tho của một lòng đạo đức sâu sắc. Ngài biết lợi dụng những sánh ví đầy vui tươi với nhiều sắc thái, những thí dụ và trưng dẫn các điển tích thích hợp, hầu hết vay mượn từ Kinh thánh. Nhờ đó, tác phẩm của Ngài vừa là một trước tác của tinh thần vừa là dòng suối dạt dào những cảm nghĩ sâu xa của nội tâm.

        Với những nguyên lý đời sống thiêng liêng hàm chứa trong hai tác phẩm trên, vị thánh của chúng ta đã giúp ích rất nhiều linh hồn bằng việc thực thi tác vụ hằng ngày vừa bằng những lá thư thần diệu do tay Ngài viết ra. Đàng khác, Ngài đã áp dụng chúng trong việc hướng dẫn thiêng liêng cho các nữ tu dòng Thăm Viếng. Hội dòng do Ngài thiết lập đến nay vẫn còn duy trì tinh thần của Ngài.

        Trong hội dòng ấy, có thể nói rằng tất cả vẫn còn ảnh hưởng hương thơm tế nhị và ngọt ngào. Hội dòng do Ngài sáng lập đặc biệt tiếp nhận các thanh thiếu nữ, các bà góa, các phụ nữ, ngay cả khi họ là những con người có sức khỏe mỏng dòn, ốm yếu và già cả, và những người sức khỏe thể lý coi như không đáp ứng niềm mong ước của tâm hồn. Nơi đây, không có thức khuya dậy sớm, không kinh kệ dài dòng, không hãm mình hy sinh nhiệm nhặt. Thế nhưng, luật lệ êm ái nhẹ nhàng đến nỗi các nữ tu ốm yếu nhất vẫn không cảm thấy khó nhọc tuân giữ. Tuy nhiên sự đơn sơ nhẹ nhàng và hứng khởi trong việc giữ luật phải trào dâng một đức ái nồng thắm khiến cho các nữ tử của thánh Phanxicô Salê có khả năng từ bỏ mình, hoàn toàn vâng phục một cách khiêm tốn. Nhờ thực hành các nhân đức vững chắc chứ không hời hợt, họ chết cho chính mình để sống cho Thiên Chúa. Hỏi ai lại không nhận ra sự phối hợp diệu kỳ giữa đức hiền lành và đức dũng cảm mà chúng ta hằng thán phục nơi vị thánh tổ phụ sáng lập dòng của họ? (Sắc chỉ Dives in misericordia)

        Chúng ta rảo qua các tác phẩm khác của ngài. Từ những tác phẩm ấy “tuôn trào giáo lý thánh thiêng giống như dòng sông dẫn nước trong vào tưới cho cánh đồng của Giáo Hội, và mang ơn cứu rỗi cho Dân Chúa. (Đức Pio IX, Sắc chỉ Dives in misericordia Deus ngày 16.11.1877). Dù vậy, chúng ta không thể bỏ qua cuốn Tranh luận. Người ta vẫn thừa nhận là trong đó hàm chứa một thiên khảo luận đầy đủ về đức tin Công giáo (Đức Piô IX)

        Chư huynh đáng kính, ai cũng biết vào hoàn cảnh nào thánh Phanxicô Salê đã đảm nhận sứ mệnh tại vùng Chablais. Theo các sử gia thì vào khoảng cuối năm 1593, công tước miền Savoie đã ký hiệp ước đình chiến giữa Berne và Genève. Đó là thời gian thuận lợi nhất vận dụng nhưng phương thế hữu hiệu hầu dẫn đưa dân chúng vùng Chablais về với Giáo Hội nên đã có vụ sai phái các nhà giảng thuyết nhiệt thành và thông thái tới miền ấy. Nhờ khẩu khí họ có thể thuyết phục và dần dần thu hút các linh hồn về với đức tin.

        Người đầu tiên dấn thân vào nơi này đã phải bỏ dở cuộc chiến khi thì do thất vọng, không cảm hóa được nhóm lạc giáo, khi thì nguy hiểm cho tính mạng. Như chúng ta đã thấy, Cha Phanxicô Salê đã tự nguyện trình diện nơi Giám mục Genève để làm nhà truyền giáo. Ngài đi bộ tới vùng thuộc lạc giáo (khoảng tháng 9.1594). Không lương thực, không hành trang, không có người tháp tùng, ngoài một người cháu họ. Ngài khởi sự ăn chay cầu nguyện, mong Thiên Chúa ban cho công việc gặp may mắn. Những người lạc giáo đã từ chối không chịu nghe Ngài phân trần. Ngài bắt đầu dệt vào các bài giảng những luận điệu khả dĩ vạch trần sự sai trái của họ. Ngài cho truyền tay bản sao của bài giảng tới những người thệ phản. Dần dần, Ngài phân phát cho những thính giả những tờ giấy có bài giảng chép sẵn. Về những bản văn này, sau khi Ngài chết, người ta sưu tầm và thu gọn thành những cuốn sách lớn. Ít lâu sau, người ta dâng lên cho Đức Alexandro VII, vị tiền nhiệm của Ta. Chính vị Giáo hoàng này, khi kiểm xong dự án phong thánh, đã ghi danh Phanxicô Salê vào số những chân phước, rồi các vị thánh. (x. Alexandro VII, phong thánh cho thánh Phanxicô Salê ngày 13.5.1665).

        Trong cuốn Tranh luận, mặc dầu sử dụng tất cả những lợi khí sắc bén của luận điệu quá khứ, vị tiến sĩ vẫn luôn duy trì sắc thái riêng của mình khi biện hộ. Trước hết, Ngài xác định rõ ràng người ta không thể chân nhận uy tín của ai trong Giáo Hội nếu không có sự sai phái hợp pháp, đó là điều các mục sư tin lành tuyệt nhiên không có. Ngài đấu lý với những người lạc giáo về những sai trái của họ. Ngài xác định rõ đâu là những đặc tính riêng của Giáo Hội Công giáo, đang khi Giáo Hội cải cách không có đặc tính nào. Kế đó, vị thánh trình bày những quy luật đức tin và vạch rõ cho nhóm lạc giáo biết họ đã vi phạm những khoản nào, đang khi người Công giáo thận trọng tuân giữ mọi quy luật. Sau cùng, Ngài đã bàn đến một số vấn đề chi tiết, cách riêng về bí tích và luyện ngục.

        Thật đáng khâm phục về mức độ giáo lý và sự khôn khéo sắp xếp các đề tài thành chiến lũy, nhằm công kích đối phương, vạch trần những luận điệu gian dối và xảo trá của chúng.. Khi cần Ngài vận dụng cả đến những giọng văn châm biếm, cố để công kích chúng. Dẫu Ngài sử dụng những từ ngữ có vẻ khá mạnh dạn, thế nhưng, chính các đối thủ phải chân nhận rằng cường độ đức ái vẫn chủ trì toàn bộ cuộc tranh luận và kiềm chế tính nóng nảy của ngài. Đúng thế, ngay cả những lần Ngài khiển trách những con cái xa lìa đức tin Công giáo, người ta vẫn thấy Ngài mở lối kêu mời họ trở về với niềm tin xa xưa của họ. Thậm chí trong cuốn Tranh luận, người ta còn thấy rõ sự hiền hòa tha thiết và tinh thần đạo đức, xây dựng đầy tràn trong mọi tác phẩm.

        Riêng về giọng văn, ta còn thấy có một sự thanh thoát cao cả, trong sáng và đầy sức thuyết phục, đến nỗi những mục sư lạc giáo đã cảnh tỉnh các tín hữu đừng để cho giọng văn hấp dẫn của vị truyền giáo Genève phỉnh gạt họ.

        Chư huynh đáng kính, sau khi sơ lược khảo sát việc tông đồ và những trước tác của thánh Phanxicô Salê, Ta mời gọi chư huynh cử hành lễ kỷ niệm chu niên kính Ngài trong mỗi giáo phận bằng một nghi thức kính nhớ dồi dào kết quả. Ta không muốn cho những hành vi kính nhớ này trở thành một hành vi hoài cổ vô ích, hoặc chỉ thâu hẹp trong vài ngày. Ngược lại, Ta ước ao kéo dài một năm cho tới ngày 28.12 là ngày giỗ của thánh Phanxicô Salê. Chư huynh hãy ân cần quảng bá những nhân đức và những giáo huấn của vị thánh tiến sĩ.

        Nhiệm vụ chư huynh là phổ biến và giải thích tông thư này cho hàng giáo sĩ và giáo hội đang ở dưới sự chăm sóc của chư huynh. Điều ta mong ước trước hết là nhắc cho từng người biết thực hành sự thánh thiện theo bậc sống của họ. Bởi lẽ, rất nhiều người chưa từng nghĩ tới sự sống đời đời hoặc lãng quên chính phần rỗi linh hồn mình.

        Thực vậy, kẻ thì chìm đắm trong những lo toan công việc, người thì chú tâm tích lũy của cải, đang khi linh hồn lại đói khát một cách khốn khổ. Có kẻ hoàn toàn buông mình theo dục vọng, trở thành đê tiện và dính bén với trần tục đến nỗi ra như đần độn và vô cảm đối với thiện ích thiêng liêng. Một số khác dấn thân vào việc công cộng, chỉ lo đến ích lợi quốc gia mà sao nhãng chính ơn ích thiêng liêng của mình.

        Do đó, chư huynh đáng kính, noi gương thánh Phanxicô Salê, chư huynh hãy làm cho mọi tín hữu biết rằng sự thánh thiện không phải là đặc ân dành riêng cho một nhóm người ưu tuyển, còn những người khác thì không được gì cả, Ngược lại, sự thánh thiện là ân huệ chung và là bổn phận của mọi người. Đành rằng việc tập đức đòi hỏi có sự nỗ lực – sự nỗ lực ấy sẽ được trọng thưởng bằng nỗi yên vui trong tâm hồn và niềm an ủi cho bản tính trọn vẹn, nó vẫn ở tầm với của mọi linh hồn nhờ có ơn thánh mà Chúa không từ chối ai bao giờ.

        Chư huynh hãy đặc biệt đề nghị các tín hữu noi gương dịu hiền của thánh Phanxicô Salê. Thực thế, nhân đức này vừa mô phỏng vừa phản ánh sự hiền lành của Đức Kitô. Duy có nhân đức này đã thu hút cõi lòng cách mãnh liệt, duy có nhân đức này khi đã lan tràn khắp trần gian, thì đã đủ khả năng dẹp bớt những xung khắc trên bình diện cộng đồng cũng như cá nhân. Chẳng lẽ nhân đức này, được mệnh danh là dấu bề ngoài của đức ái thần thiêng lại không bảo đảm được cho gia đình và xã hội một sự bình an hòa thuận hơn hay sao? Riêng về việc tông đồ, chiếu theo chỉ thị đã nhận được, các linh mục và giáo dân, khi có sự hiền lành Kitô giáo đi kèm, chẳng lẽ nó lại không gia tăng ảnh hưởng trên việc cải tiến đời sống hay sao?

        Chư huynh thấy rõ là cần phải làm cho gương sáng của thánh Phanxicô Salê ăn rễ sâu vào tinh thần và tâm hồn của các tín hữu và họ nên đón nhận giáo huấn của thánh nhân làm luật sống cho họ.

        Phương thế hữu hiệu hơn để làm cho lần kỷ niệm này mang lại kết quả rộng lớn là phổ biến những trước tác và những sách Ta đã nêu trên. Những áng văn dễ hiểu và thú vị ấy, sẽ tỉnh thức tâm hồn của các tín hữu, giúp họ cảm mến lòng đạo đức chân chính và bền vững. Các linh mục sẽ không bao giờ chuẩn bị đủ để khai triển các mầm giống thánh thiện cho bằng hấp thụ giáo lý của vị thánh tiến sĩ và cố gắng lột được sự dịu dàng siêu đẳng trong khi giảng dạy.

        Về vấn đề này, người ta kể lại rằng Đức Alexandro VIII đã tiên đoán về những thành quả diệu kỳ nảy sinh nơi các tâm hồn nhờ lời giảng dạy và bút tích của thánh Phanxicô Salê (x. Sắc lệnh Quanto Ecclesiae, ngày 7.7.1877). Ngay sau khi tra khảo về kiến thức thánh của Ngài trước mặt các Hồng Y vào dịp nâng Ngài lên chức Giám mục, Đức Thánh Cha đã hết sức thán phục. Sau khi ôm chào Phanxicô Salê, Đức Thánh Cha đã nói với ngài: “Hãy uống nước nơi bồn nước của con, nước chảy từ giếng của con. Mạch nước của con đứng trào ra ngoài, và suối nước của con, trên nơi công cộng” (Cách ngôn 5,15-16).

        Thực vậy, Phanxicô Salê giảng dạy tuyệt diệu đến nỗi trọn bài giảng chỉ biểu lộ Thần Khí và sức mạnh của Thiên Chúa (1Cor 2,4): Ngài làm cho nội dung bài giảng thêm vững chắc bằng những ý tưởng rút từ  Kinh Thánh và Giáo phụ nhiều hơn từ những khảo cứu thần học. Nhờ đó bài giảng của Ngài thêm êm ái ngọt ngào, đượm nhuần dấu thiêng đức ái. Không lạ gì khi thấy Ngài dẫn đưa muôn vàn kẻ lạc giáo về cùng Giáo Hội, cũng không lạ gì khi thấy trong ba thế kỷ qua, Ngài đã hướng dẫn một số đông linh hồn trên đường trọn lành.

        Để mưu cầu lợi ích chính yếu cho dịp kỷ niệm chu niên này. Ta mong ước tất cả những người Công giáo dùng báo chí, hoặc những thể thức văn chương khác để giải thích, loan truyền và bênh vực giáo lý Kitô giáo. Như thánh Phanxicô Salê, trong những lần hội thảo, họ phải luôn luôn giữ lập trường vững vàng, phối hợp sự ôn hòa và bác ái.

        Gương sáng của vị tiến sĩ soi tỏ đường lối phải theo. Khảo cứu tường tận và chiếm hữu giáo lý Công giáo cách sâu xa. Tránh xuyên tạc, giảm thiểu hoặc làm lu mờ chân lý, vịn lẽ không nên khiêu khích đối phương. Lưu ý đến hình thức và giọng văn, trình bày các ý tưởng cách minh bạch khả dĩ hấp dẫn độc giả. Khi có sự công kích, phải biết tranh biện những sai trái và chống lại những kẻ gieo rắc cỏ lùng. Tuy nhiên, phải tỏ ra có thiện chí và có đức ái.

        Đến nay, chưa có văn kiện công khai nào tuyên bố một cách trọng thể thánh Phanxicô Salê là bổn mạng của các văn sĩ Công giáo. Nhân dịp này, với kiến thức đích xác, sau khi đã suy nghĩ chín chắn, lấy quyền Tông tòa và qua Tông thư này, Ta xác định cho mọi người biết rằng thánh Phanxicô Salê Giám mục Genève và tiến sĩ Giáo Hội là bổn mạng của tất cả các văn sĩ Công giáo. Ta công bố điều đó bất chấp mọi đối kháng.

Và giờ đây, chư huynh đáng kính, để cho những ngày lễ thêm xán lạn và sinh nhiều kết quả, xin đừng quên khuyến khích các tín hữu tôn kính Ngài như đuốc sáng của Giáo Hội. Nhờ lời chuyển cầu của thánh nhân, hãy thôi thúc họ thanh tẩy tâm hồn khỏi vết nhơ tội lỗi và nuôi dưỡng mình bằng của ăn thánh. Họ hãy dũng cảm và hiền hòa, nỗ lực chiếm hữu sự thánh thiện một cách mau chóng.

        Mỗi vị, trong phạm vi giáo phận và giáo xứ trước ngày 28.12 năm nay, hãy tổ chức tuần tam nhật hoặc cửu nhật. Trong những ngày đó hãy giảng dạy các tín hữu. Bởi lẽ, thật là cần thiết khi chăm lo, chỉ bảo cho họ biết nối gót thánh Phanxicô Salê hầu đạt tới đỉnh trọn lành Kitô hữu. Chư huynh cũng có phận sự tưởng nhớ việc tông đồ của vị Giám mục rất thánh thiện này tùy theo phương cách chư huynh thấy là thích hợp.

        Ngoài ra, Ta cũng muốn rộng mở kho tàng ơn thánh cho các linh hồn Chúa đã trao phó cho Ta coi sóc. Ta ban cho tất cả những ai tham dự những lần cầu nguyện vừa nêu trên một ân xá 7 năm và 7 mùa. Họ được lãnh ân xá ấy mỗi ngày một lần và họ có thể lãnh ơn toàn xá vào ngày cuối lễ hoặc vào ngày nào khác tùy nghi chọn lựa theo điều kiện thông thường.

        Tu viện thăm viếng ở Annecy có thi thể của thánh Phanxicô Salê, tại đó, Ta đã cử hành thánh lễ với niềm vui khôn tả. Tu viện Trévise vẫn còn bảo trì trái tim của ngài. Tất cả các Tu viện khác của Dòng Thăm viếng phải nhận nơi Ta một lòng ưu ái đặc biệt. Do đó, Ta ban ơn toàn xá cho tất cả những ai, trong năm nay, hành hương tới các Tu viện ấy tham dự các nghi lễ tạ ơn hàng tháng cũng như vào chính ngày 28.12.1923. Điều kiện là họ phải viếng các nhà nguyện của Tu viện, xưng tội chịu lễ và hiệp ý với Ta cầu nguyện.

        Về phần chư huynh, hãy xin các tín hữu dưới sự chăm sóc của mình không ngừng khẩn cầu vị thánh tiến sĩ cho Ta, vì Chúa đã vui lòng uỷ thác cho Ta trọng trách quản trị Giáo Hội vào thời cực kỳ khó khăn này. Thánh Phanxicô Salê đã từng tỏ ra mến yêu và tôn kính Tông tòa cách riêng. Ngài đã bênh vực quyền lợi và uy thế của Tông Tòa cách riêng. Ngài đã bênh vực quyền lợi và uy thế của Tông Tòa trong cuốn Tranh luận. Nguyện xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của vị thánh ban cho ta ơn này là thấy tất cả những người xa lìa luật Chúa và đức ái trở lại vườn hoa đời sống vĩnh cửu. Ước mong Chúa vui lòng đưa họ vào hiệp thông với chúng ta và Ta có thể cùng họ hôn chào bình an.

        Đang khi chờ đợi những ơn đó, hãy nhận phép lành Tòa thánh như là bảo chứng của những ơn từ trời cao và là dấu chứng tỏ lòng ưu ái của Ta đối với chư huynh. Với tất cả tấm lòng, Ta chúc lành cho chư huynh, cho hàng giáo sĩ và giáo dân của chư huynh nữa.

        Ban hành tại Rôma, cạnh Tòa Thánh Phêrô, ngày 26.01.1923. Năm I triều đại Giáo Hoàng của Ta.

Piô XI, Giáo Hoàng

THÁNH PHANXICÔ SALÊ GIÁM MỤC GENÈVE,

TIẾN SĨ GIÁO HỘI

Chương 1:

THỜI THƯ ẤU

        Ông Phanxicô Du Bots là chủ nhân cai quản một lâu đài lộng lẫy ở vùng Nouvelles. Ông kết duyên với một thiếu nữ xinh đẹp nhất vùng có tên là Francotse Sionaz. Đôi vợ chồng trẻ này rất giàu về của cải vật chất cũng như khá vững về tinh thần đạo đức. Họ sinh được một bé trai trước thời hạn ba tháng và rửa tội vào đúng ngày sinh (21.8.1567) trong lâu đài De Salês miền Savoie. Tên thánh của bé là Phanxicô. Vì sinh thiếu tháng nên bé rất gầy gò ốm yếu. Đó là mối bận tâm lớn nhất cho cả gia đình.

        Bé lớn lên trong khung cảnh đầm ấm của gia đình, hấp thụ một nền giáo dục vừa đạo đức vừa nghiêm khắc. Thân mẫu và vú nuôi cùng nhau dưỡng dục bé nên người hoàn thiện. Họ đòi bé phải hãm mình hy sinh: ăn đúng giờ, uống đúng lúc. Họ tập luyện cho bé biết thương mến người nghèo, bằng cách tạo dịp để bé phân phát của cải cho họ. Người cha thuộc dòng dõi quý phái và nổi danh là kỵ sĩ hào hùng, kiêm nghề trạng sư. Ông tập cho bé có lòng can đảm bằng cách thường xuyên cho bé cưỡi ngựa theo mình vào những khu rừng vắng, trèo non lội suối để săn thú hoang. Cuộc đời ấu thư của Phanxicô Salê không có gì đặc sắc. Cậu vẫn chơi những trò thông thường giữa bọn con nít trong xóm. Đôi khi cậu bé tí hon lập bàn thờ đóng vai linh mục làm lễ và bắt chúng bạn vây quanh để thưa kinh cho mình.

        Năm 1573, đời học trò của Phanxicô Salê khởi đầu để rồi sẽ tiếp tục việc trau dồi kiến thức cơ bản tại thành phố Annecy. Cậu được rước lễ lần đầu và thêm sức vào năm 1577. Điều rất kỳ lạ là cậu Phanxicô 11 tuổi đã được gia nhập hàng giáo sĩ bằng nghi lễ cắt tóc. Rồi vì chiều lòng con mà ông trạng sư Phanxicô đã bằng lòng cho ấm tử của mình ghi danh như thế, nghĩ rằng sau này có thể hướng dẫn con mình đổi ý kịp thời. Nguyện ước của ông bà là cha nào con nấy. Bố là trạng sư thì con cũng phải hành nghề trạng sư… Thực sự chàng thanh niên mảnh khảnh đã đạt tới thành tích to lớn trong việc học và đỗ thủ khoa về dân luật tại trường đại học Paris năm 1582.

        Tương lai Phanxicô đi về đâu? chàng đã xin phép được ở lại Paris để thăng tiến việc học. Tạm trú tại lưu xá của các cha dòng Tên, chàng đã theo ban cổ ngữ và triết lý. Nhờ các cha dòng hướng dẫn, chàng đào sâu về đời sống nội tâm.

        Tuy nhiên, năm 19 tuổi, những tranh luận thần học của thời đại đã gây rối loạn cho tâm trí của Phanxicô. Chàng rơi vào một tình trạng đen tối tâm hồn. Bị khủng hoảng một cách ghê gớm, chàng sống trong đau khổ suốt nửa năm vì yên trí mình đã bị luận phạt xuống hỏa ngục đời đời. Cơn thử thách đột nhiên tan biến sau khi đọc kinh “Xin hãy nhớ” trước tượng Đức Mẹ trong nhà thờ thánh Stêphanô. Kể từ đó chàng có một nhãn quan rất trong sáng và lạc quan về cuộc sống (tác phẩm 22, trang 14-20).

        Ngoài môn chính là triết lý ra, Phanxicô còn chăm chú học Kinh thánh và các môn thần học khác. Bên cạnh đó, chàng còn trau dồi thêm các cổ ngữ như Hy lạp và Do thái.

        Khi thấy Phanxicô hoàn tất chu trình đào luyện tri thức ở Paris, ông thân sinh cương quyết hướng chàng vào sự nghiệp theo ý mình. Phanxicô được gởi sang Padova để chuyên về dân luật hầu sau này hành nghề trạng sư. Tại thành phố Padova, Phanxicô là đồ đệ của giáo sư Guido Panciroli nổi tiếng về luật. Nơi đây, Phanxicô, sinh viên trẻ được tuyên dương là xuất sắc về mọi phương diện.

        Dù đến Padova với chủ đích học dân luật nhưng chàng đã dành hầu hết thì giờ cho việc đào luyện thiêng liêng dưới sự hướng dẫn của cha Anton Possevino thuộc dòng Tên. Sống trong bầu khí vui tươi của dân thành Padova, Phanxicô Salê học được cách nhìn cuộc sống với con mắt lạc quan, nhờ đó chàng tìm được cho mình một đường lối tu đức khá độc đáo.

        Chàng sinh viên của chúng ta có một nghị lực sắt đá. Điển hình là lần kia, một anh bạn giỡn cợt đã cám dỗ chàng phạm tội, Phanxicô rút kiếm dọa đâm cho hắn một nhát để bênh vực đức khiết trinh của mình. Đó là ảnh hưởng của cuốn sách gối đầu giường với nhan đề: Cuộc chiến thắng thiêng liêng do cha Laurensô biên soạn.

        Bên cạnh việc trau dồi kiến thức, Phanxicô Salê còn dành mỗi ngày hai giờ để nghiên cứu thêm các môn thần học, khoa nhân bản và tự nhiên học. Trước khi rời Padova về quê (1592), Phanxicô đã hành hương Loreto và Roma kính Đức Mẹ để trọn lời khấn hứa. Chàng có dịp tiếp xúc với Philip Nêri và tham dự các sinh hoạt của viện cầu nguyện một thời gian ngắn.

        Sự nghiệp đầy hứa hẹn của người con thông minh tới lúc chín muồi. Song thân quyết định đưa Phanxicô về để gia nhập nghiệp đoàn các nghị viên miền Chanbery. Nhưng chàng đã dứt khoát cự tuyệt vì muốn đeo đuổi ơn gọi làm linh mục. Đột xuất Phanxicô nhận được giấy báo cho biết rằng tòa giám mục có nhã ý mời chàng gia nhập hội đồng tư vấn của giáo phận tại Annecy. Chàng xác tín đó là ý Chúa muốn mình bỏ nghề trạng sư để theo đuổi ơn gọi. Khi biết điều đó, ông thân sinh bừng bừng nổi giận; ông dùng mọi mưu chước để ngăn cản việc tiến chức của con mình. Dù sao, đức cha Gramber đã truyền chức cho Phanxicô vào ngày 18.12.1593. Tất nhiên vị tân linh mục đã được chuẩn bị khá vững về mọi phương diện cho dù chưa qua chủng viện nào cả.

Chương 2:

VỊ LINH MỤC NHIỆT THÀNH

        Sau khi chịu chức linh mục, Phanxicô Salê lập tức tra tay vào việc tông đồ. Thăm viếng người nghèo và bệnh nhân, giải tội nhiều giờ và giảng thuyết ở nhiều nơi. Thuật hùng biện của vị tân linh mục vượt xa mức độ của các nhà hùng biện trứ danh thời đó. Thay vì dẫn chứng bằng những điển tích và danh ngôn, Ngài chỉ trưng dẫn Kinh thánh với những luận điệu thật đơn sơ và xác tín. Đã từ lâu, Ngài vốn thâm tín rằng một linh mục không thể đạt hiệu năng tông đồ cao nếu thiếu kiến thức về khoa học thánh.

        Năm 1594, Đức Giám Mục Gramier uỷ thác cho Ngài một sứ mệnh rất khó thực hiện ở vùng Chablais. Nơi đây, lạc thuyết của nhóm cải cách đã từng ăn rễ sâu vào lòng người, kể từ năm 1535. Dân bản xứ đã mất căn bản đạo đức, nhà thờ bị bỏ hoang, linh mục bị trục xuất và các dòng tu phải bỏ cuộc. Kể từ năm 1564 cho tới năm 1593, các nỗ lực truyền giáo tại vùng này vô hiệu hoàn toàn. Do đó, tinh thần Kitô giáo ngày một sút giảm. Nhóm thệ phản tha hồ vùng vẫy. Dân chúng dứt khoát không chấp nhận bóng dáng một linh mục nào cả. Năm 1593, cha Tronolle vừa tới liền bị đánh đuổi cách tàn nhẫn. Sau khi lướt thắng những khó khăn do thân phụ bày ra, cha Phanxicô đã khởi sự việc xây dựng nếp sống đạo giáo cho dân. Tất nhiên, Ngài gặp rất nhiều khó khăn. Vì thấy tính mạng Ngài bị đe dọa nhiều, nên song thân tìm đủ mọi phương thế đưa Ngài về gần nhà (tác phẩm 21, phải. 13-14).

        Vị linh mục trẻ vẫn điềm tĩnh vui tươi thi hành chức vụ tại nơi xa xôi và nguy hiểm ấy. Ngài có những sáng kiến mới lạ để đối phó với những nghịch cảnh, với tay bút lành nghề, vị linh mục can đảm của chúng ta đã viết những bài giáo lý ngắn gọn. Vào ban đêm, Ngài rảo quanh các khu phố và nhét qua khe cửa của những nhà khô khan. Bằng lối hành văn thời sự và dí dỏm, vị linh mục nhiệt tình sắp xếp những giáo lý cơ bản để độc giả am hiểu những chân lý cao siêu và tầm mức quan trọng của đời sống vĩnh cửu. Đồng thời Ngài cũng vạch rõ những sai trái của các bè rối. Phanxicô Salê có giọng văn rất cương nghị nhưng hiền hòa. Sau chừng 7 tháng, những người lạc giáo đã biểu lộ một số cử chỉ quy phục. Nhờ đức tính nhẫn nhục và can đảm, vị thánh đương đầu với đối phương cách vui tươi và hòa nhã. Nhóm Thệ phản đã dùng mọi mưu chước để làm cho Ngài im hơi lặng tiếng mà không thành công. Chúng ngăm đe giết ngài. Một hôm chúng mời Ngài đến thảo luận về một vấn đề thần học, cốt ý ám sát Ngài tại chỗ, nhưng bị lộ tẩy ngay từ giây phút Ngài bước chân vào phòng.

        Việc tông đồ càng tăng cường thì thính giả càng tuôn đến để nghe những bài giảng đơn sơ dễ hiểu. Linh mục Phanxicô Salê thường nhắm thẳng vào chân lý đức tin, không có một chút luận điệu khiêu khích, vì Ngài muốn tránh tất cả những vụ tranh cãi không đâu vào đâu. Ngài ưa chiếm đoạt cõi lòng hơn là lên án. Thái độ cao thượng của Ngài đủ để tố cáo đối phương về sự sai trái của chúng. Đó là đường lối hơi xa lạ với một não trạng muốn ra vạ hơn là hòa giải của thời đại.

        Kết quả trông thấy là việc ăn năn trở lại của những người giáo hữu. Công tước Carlo Emanuele không ưng ý về Ngài cho lắm khi nghe phân trần về kết quả tông đồ trong buổi họp mặt ở Torino. Dần dần việc hành đạo đi vào nề nếp. Dân bản xứ trở lại tham dự các nghi lễ tôn giáo cách điều hòa và công khai. Kết quả khả quan của việc truyền giáo đã được trình thuật hết về Roma vào năm 1603. Trong bản báo cáo có ghi rõ 25.000 người đã trở về với đức tin Công giáo. Chính phủ Pháp kết nghĩa với vương quốc Savoie cũng giúp cho việc trở lại đạo thêm phần dễ dàng hơn (Tác phẩm 12, phải. 228-39).

        Lòng nhiệt thành tông đồ của vị thánh không chỉ đóng khung trong vùng Chablais mà thôi, nhưng Ngài còn tìm mọi cách để gây ảnh hưởng trên toàn tỉnh Genève nữa. Nơi đây, Ngài đã đàm đạo với mục sư Théodore Bèze nhưng không có kết quả gì.

        Đức Giám Mục De Granier cần triệu Ngài về làm phụ tá cho mình. Vị linh mục đã nêu mọi lý do để từ chối, nhưng không thành. Phanxicô Salê được phái đi Roma và Đức Clemente 8 (1599) rất vui mừng đón tiếp. Phanxicô trở về Chablais để lo việc tông đồ của mình. Hai năm sau đó, có tin là ông thân sinh qua đời (1601).

            Sang năm 1602, thủ đô Paris muốn dành cho mình Giám mục Phanxicô Salê chỉ vì mong giải quyết những vấn đề tế nhị của chính trường. Với luận điệu minh bạch và thái độ cương nghị hiền hòa, Đức Cha Phanxicô đã chiếm lòng tất cả những người trong triều đình. Vua Henri 4 thán phục Đức Cha như một vị thánh. Vào dịp này Đức Cha có cơ hội quen thân với linh mục Bérulle, người đang gây dựng công cuộc cho viện cầu nguyện theo tinh thần thánh Philip Nêri. Đức Cha cũng có dịp gặp gỡ bà Acarie nổi tiếng đạo đức. Sau này bà đã thành nữ tu với pháp danh là Marie dé l’Incarnation. Kể từ thời gian này, Đức cha Phanxicô Salê khởi đầu hướng dẫn các phụ nữ bằng thư từ.

Chương 3:

VỊ CHỦ CHĂN GƯƠNG MẪU

        Phanxicô Salê là vị giám mục rất nhiệt thành với việc phục vụ cho phần rỗi linh hồn. Trong khoảng thời gian 20 năm (1602-1622) đức cha Phanxicô đã chu toàn nhiệm vụ chủ chăn một cách gương mẫu.

        Là giám mục của giáo phận Annecy, Ngài phải đặt tòa giám mục tại thành phố Genève. Nhóm Thệ phản ra công quấy phá làm cho công việc mục vụ của Ngài phải gặp rất nhiều khó khăn.

        Đối với giáo sĩ, Phanxicô ân cần lo lắng về mọi khía cạnh. Những vị giáo sĩ nhiệt thành thường được Ngài viếng thăm khích lệ. Những vị lơ là, Ngài đến để ủi an và cổ võ. Những vị bạc nhược nản lòng, Ngài đến để phấn chấn và nâng đỡ. Để không bỏ sót bất kỳ một linh mục nào, Ngài tổ chức tĩnh tâm hằng năm cho các giáo sĩ trong giáo phận, mở các khóa hội thảo và bồi dưỡng tinh thần. Trong những dịp thuận lợi ấy, vị chủ chăn hết lòng chỉ giáo cặn kẽ cho những cộng sự viên của mình để họ biết cách giảng dạy và giải tội. Bất chấp mọi khó khăn, Ngài vẫn phấn đấu hết sức để đào tạo hàng giáo sĩ của mình về phương diện tri thức và thánh thiện (Tác phẩm 23, tr. 279-97).

        Dù bận rộn với trăm công ngàn việc, vị giám mục của chúng ta cũng không sao nhãng việc hướng dẫn các nam nữ tu sĩ. Ngài cổ võ việc thiết lập và cải tổ các dòng tu. Với thái độ vừa cứng rắn vừa mềm dẻo Ngài đã khôn khéo đưa các dòng tu vào nề nếp và luật lệ theo đúng tinh thần của mỗi dòng.

        Đối với giáo dân, vị giám mục có đường lối mục vụ rất hợp thời. Năm 1606, Ngài khởi sự đi thăm 450 giáo xứ của giáo phận và 3 năm sau mới hết một lượt. Việc thăm viếng các giáo xứ là một cuộc mạo hiểm gây nguy nan cho tính mạng vì có nhiều giáo xứ ở các nơi xa xăm hẻo lánh, giữa những người Thệ phản cuồng tín.

        Trong những dịp tiếp xúc với dân, Ngài giảng giải cho họ rất nhiều về giáo lý, hỏi han và nghe ý kiến của họ cũng như của những vị linh mục trực tiếp có trách nhiệm để tìm ra những giải pháp thích hợp cho những vấn đề của từng địa phương. Việc thăm viếng mục vụ của vị giám mục mang lại nhiều hiệu quả thánh thiện vì có nhiều giáo dân khô khan và lạc giáo đã ăn năn trở lại.

        Cách ăn nết ở của vị giám mục thành Genève làm hài lòng tất cả giáo dân trong giáo phận. Những người thuộc tầng lớp bình dân, nghèo khổ, bệnh hoạn, dốt nát, già trẻ đều mến phục ngài. Những tội nhân tiếp xúc với Ngài thì tự động ăn năn trở lại và trở nên thánh thiện hơn. Khi thấy mình được đón tiếp nồng hậu và có nhiều kết quả trong những lần viếng thăm mục vụ, vị giám mục nói về dân miền sơn cước thế này: “Cha thấy họ rất tốt. Họ đón tiếp giám mục của họ cách chân tình và quý mến” (Tác phẩm 13, tr. 221). Ngài không đủ thì giờ để trở lại viếng thăm lần nữa, nhưng vẫn sẵn sàng tới những nơi cần đến sự hiện diện của ngài. Hơn nữa, qua các luân thư, Ngài có thể hướng dẫn hàng giáo sĩ của toàn giáo phận một cách cụ thể và rất nhiều lần Ngài trực tiếp viết thư chỉ dẫn cho từng cá nhân với những đường lối thích hợp (Tác phẩm 23, tr. 303-419; 24,3-170).

        Điều Ngài quan tâm nhiều hơn cả là việc giáo huấn các trẻ em. Vào năm 1603, Ngài đã vạch ra một đường lối cụ thể cho việc dạy giáo lý trẻ em. Ngài sử dụng cuốn giáo lý do thánh Roberto Bellasino soạn và lập hội giáo lý viên để đào tạo những người giảng huấn có tài đức. Ngài không thỏa mãn với những lệnh truyền, nhưng đã làm gương cho họ trong vấn đề này. Tại Annecy, vị giám mục thánh thiện của chúng ta thường đích thân dạy giáo lý các trẻ nhỏ. Cách giảng dạy rất hấp dẫn vì Ngài khéo quảng diễn các chân lý bằng những ví dụ cụ thể, với những hình ảnh sống động và kiểu giải thích đơn sơ hợp với não trạng non yếu của chúng (Tác phẩm 23, tr.273-78).

        Tác vụ rao giảng là lương thực tuyệt vời để nuôi sống đoàn chiên. Dầu bận rộn với trăm công ngàn việc, Ngài vẫn không bao giờ thoái thác việc dạy giáo lý. Đặc biệt vào các dịp mùa chay, Ngài đích thân tới các giáo xứ nhỏ để giảng tuần đại phúc và kết thúc mùa chay bằng một tuần tĩnh tâm đại thể ở nhà thờ chính tòa hoặc ở các thành phố khác, nổi tiếng là tuần tĩnh tâm tổ chức tại Nijan năm 1604, nơi đây vị thánh gặp bà Jeanne Chantal và dịp tĩnh tâm tại Grenoule, là nơi tướng Ledignet trở lại đạo. Phương pháp rao giảng của Ngài trước sau như một: chân lý vững vàng, trình bày gãy gọn và tránh mọi dị nghị. Sau khi giảng phòng, Ngài không quản mệt nhọc, lập tức vào tòa giải tội để hướng dẫn lương tâm.

        Nổi tiếng hơn cả là những bài giảng thuyết của Ngài tại nhà thờ chính tòa Paris từ tháng 11.1618 đến tháng 9.1619. Trong gần một năm, vị giám mục đã giảng 360 bài. Đầu tiên ai cũng nghĩ rằng chỉ thâu gọn trong một số lý thuyết khô khẳng, tẻ nhạt như bao nhà giảng thuyết khác, nhưng rồi ai cũng kéo nhau đi nghe. Họ đồn rằng Ngài giảng rất hay nên thính giả cứ tuôn đến mỗi ngày một đông để nghe những chân lý sâu sắc trong bài giảng. Vào dịp giảng thuyết này, vị thánh có quen thân với một số nhân vật khác như thánh Vincent de Paul và mẹ Angélique Arnauld. Nhà vua đề nghị Ngài làm giám mục tại thành phố Paris nhưng Ngài dứt khoát khước từ.

        Đặc tính việc tông đồ của vị thánh là viết rất nhiều thư để hướng dẫn các linh hồn. Người ta đã xuất bản hơn 2200 thư của ngài. Có thể nói là vị thánh chiếm giải quán quân trong việc hướng dẫn linh hồn bằng thư tín.

        Một giám mục thánh thiện và thông thái như Phanxicô Salê không thể lãng quên tầng lớp trí thức của giáo phận. Với sự cộng tác của văn sĩ Antoine Favre, Ngài đốc thúc việc mở Hàn lâm viện với câu châm ngôn: “Hoa quả ngàn thu”. Thế là Ngài sắp xếp cho nhiều linh mục và giáo dân vào việc nghiên cứu các bộ môn liên quan đến các khoa như thần học, nhân văn, triết học, lịch sử, chính trị, vũ trụ và những đề tài chuyên biệt khác. Mục đích chính của Ngài là đưa giới trí thức vào việc phục vụ nền văn hóa quốc dân và gia đình. Đỡ đầu cho hàn lâm viện này có hồng y Richelieu, chủ tịch hàn lâm viện nước Pháp (x. F. Trochu, thánh Phanxicô Salê II, Paris, 1946 tr. 230-41).

        Giữa những thành công lớn lao, Đức Cha Phanxicô không thể thiếu thánh giá nhuốm màu đau khổ. Nhiều nhân vật quyền thế trong xã hội hiểu lầm ngài. Các phe lạc giáo chống đối Ngài về mọi mặt. Các bạn thân và người đồng nghiệp lãnh đạm với những đường hướng Ngài vạch ra. Tất cả những điều đó gây không ít chướng ngại cho công việc tông đồ. Thế nhưng, Ngài chấp nhận mọi đau khổ và phó thác cho Chúa Quan Phòng vì lòng mến yêu. Những khó khăn đến từ phía thân nhân không làm cho Ngài nản lòng. Ngài luôn bình tĩnh, giữ tâm hồn thanh thoát. Những công việc lớn lao Ngài phải làm luôn đầy ứ. Các cuộc hành trình thăm toàn giáo phận và những lần tổ chức hành hương khắp nơi khiến cho sức khỏe Ngài ngày càng suy giảm. Ta có thể nghĩ tới cuộc rước thi thể của thánh Carlo Boromeo thành Milano vào năm 1612 và những cuộc rước khác đòi Ngài phải hiện diện. Công việc bề bộn của giáo phận buộc đức cha Phanxicô triệu vời em của mình là cha Gioan về làm phụ tá (1620), kế đó Ngài xin phép về hưu để dọn mình chết lành. Năm 1622, vị giám mục đã cùng vua nước Savoie tới hoàng cung của vua Pháp tại Avignon để giải quyết một số vấn đề hệ trọng. Sau đó Ngài trở về Lion và liệt giường ngày 27.12.1622. Ngày hôm sau Ngài tắt thở. Linh cữu của giám mục thành Genève được rước về Annecy, nhưng quả tim của Ngài vẫn còn được lưu giữ tại tu viện dòng Thăm viếng ở Lion. Sau này, quả tim đó được chuyển sang Venezia để tránh quân cách mạng Pháp. Giáo hội tôn phong Ngài lên bậc chân phước năm 1661. Đức Alexandro 7 phong Ngài lên bậc hiển thánh năm 1665. Đức Pio 9 tặng Ngài danh hiệu Tiến sĩ Giáo hội. Đức Pio 11 đặt Ngài làm quan thày các nhà báo (1923). Lễ kính Ngài hiện nay là 24 tháng giêng.

        Đường lối sống thánh của Ngài không chỉ ảnh hưởng trên người đương thời, nhưng còn có ảnh hưởng trên toàn thể Giáo hội vào thế kỷ 19. Bằng chứng là nhiều dòng tu đã chọn lối thiêng của Ngài làm chuẩn cho tu luật và hoạt động tông đồ. Tiêu biểu là dòng tận hiến do Nữ đáng kính Maria Salê Chappuis và đáng kính Brisson de Troyesx sáng lập. Thánh Gioan Bosco đã chép tiểu sử thánh Phanxicô Salê và chọn Ngài làm quan thày cho tu hội, nhờ đó mà ta gọi các tu sĩ Don Bosco là Salêdiêng. Don Bosco muốn các con cái mình bắt chước thánh nhân về đức hiền lành và sự lạc quan nhân bản vì nó phù hợp với việc giáo dục thanh thiếu niên. Hiện nay các hội viên Salêdiêng vẫn bắt chước lòng nhiệt thành và dịu hiền của thánh Phanxicô Salê trong khi thi hành sứ mệnh giáo dục giới trẻ.

Chương 4:

 NHÂN VỊ CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ

        Muốn hiểu về con người của Phanxicô Salê ta không nên dừng lại ở những công việc diệu kỳ và thành quả lớn lao. Làm như thế ta chỉ tấm tắc ca ngợi nhưng không thể noi gương Ngài được. Cần phải tìm hiểu về con người của vị thánh qua đời sống nội tâm, với những suy tư đạo đức của ngài.

        Về con người của vị thánh, ta có thể tóm gọn trong đức hiền lành tam diện: đơn sơ, lạc quan và linh động. Đó là nét độc đáo của đức ái mục tử mà vị thánh kín múc từ nguồn mạch Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ngài là con người đã sống tinh thần đơn sơ của Phúc âm. Thế nên, Ngài có thể giao tiếp với mọi tầng lớp xã hội, từ kẻ bần cùng cơ khổ, vô gia cư cho tới những người sang trọng quyền quý. Ngài tiếp đón và thăm nom họ với một đức ái mục tử duy nhất. Điều đó đòi Ngài phải có tính tự chủ cao, chiến đấu gay gắt với bản năng tự nhiên nóng nảy của mình và trở nên kiên nhẫn một cách anh hùng.

        Phanxicô là con người lạc quan, không than trách thời cuộc, cũng không ưu phiền vì những yếu đuối của con người. Thánh nhân không ưa tính bi quan của thánh Augustino, nhưng thích đức tính lạc quan của thánh Ambrosio. Một người đã nhổ vào mặt đức cha Phanxicô, nhưng thấy Ngài vẫn luôn điềm nhiên như thường. Hắn ta bực mình liền hỏi: “Tôi nhổ vào mặt ông mà ông không phản ứng: thể diện ông đâu”. Giám mục trả lời: “Dù anh có móc một mắt của tôi, tôi vẫn dùng mắt còn lại để nhìn anh với lòng thương mến”.

        Phanxicô Salê là con người đầy sinh động, nhưng lại hòa nhã và cảm thông. Ngài sẵn sàng nhường nhịn miễn là việc đó không làm mất lòng Chúa. Khi giao tiếp với tha nhân, Ngài ưa nhìn ra nét tích cực hơn là tiêu cực, những ưu điểm hơn là khuyết điểm. Ngài sẵn lòng thứ tha và khích lệ họ tiến trên đường nhân đức. Đó là điều làm cho nhiều tác giả định nghĩa Ngài là con người giàu tình cảm. Một số thư gởi bà Chantal làm cho nhiều người đọc ngộ nhận như thế, giả như họ không thấu hiểu đời sống nội tâm của vị thánh. Chính vị thánh cho ta thấy lập trường của mình: “Tôi thích những tâm hồn tự lập và dũng mạnh. Tôi không thích những con người uỷ mị vì tính nhũn nhặn làm cho người ta ra nhu nhược, bất an và dễ chia trí trong khi cầu nguyện. Cái tính nhũn nhặn cản trở tâm hồn phó thác và không cho phép ta tự hủy” (tác phẩm 20, tr 216). Nếu là như vậy, liệu ta có thể xác quyết rằng thánh nhân là con người lanh lợi, tháo vát, uyển chuyển để tiến tới đời chiêm niệm hay không?

        Nét độc đáo của tinh thần Salêdiêng là sống đời chiêm niệm giữa muôn vàn công việc phàm trần. Bà Chantal hỏi đức cha Phanxicô: “Một ngày đức cha nói nghĩ tới Chúa mấy lần?”. Ngài đáp: “Lúc nào cũng nghĩ tới Chúa, họa hoằn lắm mới quên chừng mươi mười lăm phút”. Ai đọc các thư của Ngài sẽ thấy Ngài có một phương pháp hướng dẫn thiêng liêng chính xác, cứng rắn, nhưng rất uyển chuyển. Tuy đường lối thì trước sau như một, nhưng cách trình bày tư tưởng lại tiệm tiến, hợp thời và chín muồi theo kinh nghiệm cuộc sống xã hội. Đó là dấu chứng tỏ đường lối sáng suốt của con người có ý chí cương quyết, vững vàng, đeo đuổi tới cùng con đường nên thánh.

        Thái độ nhân nhượng của Ngài đối với những người lạc giáo làm cho nhiều người khó chịu. Họ cho đó là nhu nhược vì họ quan niệm rằng công giáo và dị giáo không thể đội trời chung. Họ nghĩ rằng cần phải đấu tranh, lên án, sa thải và làm cho chúng tiêu tan nếu có thể. Phanxicô Salê không quan niệm như vậy. Không sa thải, không tiêu diệt nhưng chinh phục linh hồn. Chúa Giêsu đã không đến để tìm những con người đã hư hỏng sao? Phanxicô Salê quen gọi họ là anh em, không phải vì Ngài muốn mua chuộc, nhưng vì biểu lộ tình thương mục tử đối với họ. Ngài muốn họ cũng được rỗi linh hồn như mọi người khác, vì họ là con cái Thiên Chúa. Tình yêu siêu nhiên nơi Ngài là động lực thôi thúc Ngài sống một kiểu khác thường như thế.

        Một con người như ngài, không thể sống với đức ái anh hùng đến thế, nếu chưa từng lâu năm tập luyện hãm dẹp tính nóng từ nhỏ tới lớn. Chính Ngài là con người bẩm sinh đã nóng như lửa, thế mà đã trở nên hiền hòa như Đức Giêsu. Một hôm, thánh Vincent de Paul gặp Ngài liền thốt lên: “Nếu giám mục Phanxicô Salê mà hiền lành như vậy, thì Đức Giêsu phải hiền lành đến mức nào!”.

        Khi làm giám mục rồi, Ngài vẫn ấn định mỗi ngày một giờ nguyện ngắm, hai giờ dành cho việc nghiên cứu tri thức. Ngài quyết định đọc phụng vụ giờ kinh cách cẩn thận, cử hành thánh lễ sốt sắng, xưng tội hằng tuần, xét mình mỗi tối, đọc lời nguyện tắt thường xuyên trong ngày.

        Về sinh hoạt thường nhật thì sao? Triền miên trao đổi thư từ, tuần tự tiếp khách vào bất cứ giờ nào, giải tội cho những linh hồn đạo đức, hướng dẫn thiêng liêng, giảng huấn, thăm viếng bệnh nhân, viếng kẻ nghèo khổ và các tù nhân. Một nếp sống đầy tràn công việc như thế thật khó mà sắp xếp, cũng không dễ gì kéo dài mãi nếu không phải là con người yêu mến Thiên Chúa. (Tác phẩm 13, 20, 22).

Chương 5:

LẬP DÒNG THĂM VIẾNG.

        Năm 1604, trong dịp giảng tuần đại phúc cho giáo dân ở Dijon, vị thánh gặp bà Gioanna Francoise Chantal, một bà góa với bốn đứa con. Bà góa đạo đức này đang sống trong tình trạng bất an nội tâm, vì chưa tìm được linh mục thánh thiện nào khả dĩ hướng dẫn linh hồn bà. Gặp Đức cha Phanxicô Salê, bà ngỏ ý muốn nhận Ngài làm cha linh hướng. Ngót 6 tháng bà mới nhận được thư trả lời ưng thuận. Kể từ đó mối tình bạn thiêng liêng kết thành trái chín thơm tho dâng về cho Thiên Chúa. Bà Chantal không hài lòng với kiểu hướng dẫn qua thư tín. Năm sau, bà gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với đức cha một thời gian. Bà cảm thấy tâm hồn được thanh thản khác thường. Thánh nhân thấy bà góa này có tâm hồn giản đơn, thành thật và không tin tưởng vào kiểu sống thần bí xa vời. Tuy nhiên, vị giám mục khôn ngoan vẫn treo công việc lơ lửng. Vài năm sau, Ngài mới đốc thúc bà vào ơn gọi tận hiến tu trì.

        Năm 1606, Ngài gợi ý cho bà một nếp sống dấn thân phục vụ. Tuy nhiên, đức khôn ngoan đòi Ngài phải thận trọng và chậm rãi xúc tiến công việc. Bà Chantal sốt ruột, quyết định đăng ký gia nhập dòng kín ở Lion. Vị thánh ngăn cản bà và ngỏ ý muốn bà cộng tác lập một dòng mới tại giáo phận Annecy (tác phẩm 13, tr. 50-52; 260t; 373).

        Đề nghị đó làm cho bà Chantal rơi vào tình trạng lúng túng: cha già, con cái còn nhỏ dại, hơn nữa dòng kín đã sẵn sàng chấp nhận. Làm thế nào để bà có can đảm làm công việc lớn lao như vậy? Vào một dòng đã có sẵn nề nếp thì ổn hơn lập một dòng mới. Quả là chuyện mạo hiểm. Bà Chantal gặp muôn vàn thử thách. Hết chuyện đàn bà đến chuyện đàn ông. Cái khó lại bó cái khôn. Chính vị linh mục em của đức cha là người quyết liệt phản đối sáng kiến mạo hiểm này. Đức cha Phanxicô Salê can thiệp cách dứt khoát làm cho mọi do dự đều tiêu tan.

        Ngày 9.3.1610, bà Chantal bỏ nhà ra đi sống một cuộc sống mới bất chấp đàn con khóc lóc níu áo giữ lại. Một dòng mới ra đời vào ngày 6.6.1610, đúng ngày lễ trọng kính Chúa Ba Ngôi. Trong một căn nhà nhỏ hẹp tồi tàn tại thành phố Annecy, bà Chantal cùng với hai cô bạn là Carlotte Brechard và Jacqueline Favre khởi đầu năm tập. Vài tháng sau, một số chị em khác gia nhập cộng đoàn.

        Thoạt tiên, chính đức cha Phanxicô cũng lúng túng không biết phải gán cho dòng này cái tên nào cho thích hợp. Lúc thì Ngài gọi họ là “Nữ tử thánh Marta”, lúc thì là “Chị em tận hiến cho Đức Mẹ”. Sau cùng, ý kiến chung muốn gán cho dòng cái tên “Đức Bà thăm viếng”. Cái tên mới này hàm chứa cả một chương trình sống. Vị thánh muốn liên kết đời sống hoạt động với chiêm niệm. Một đàng, chị em phải triền miên liên kết với Chúa bằng lời cầu nguyện, đàng khác phải miệt mài dấn thân vào sinh hoạt tông đồ, chủ yếu là thăm viếng những người nghèo khổ và ốm yếu. Đối với dân bản xứ thời đó, kiểu tu này quả là dị thường, người ta chỉ thấy những nữ tu kín cổng cao tường chứ chưa thấy nữ tu nào lang thang ngoài đường. Đã là nữ tu, họ quan niệm: phải ăn chay đánh tội chảy máu và quỳ gối cầu nguyện đêm ngày. Thực chất có như vậy hay không thì chẳng ai kiểm chứng. Ngược lại, đức cha Phanxicô Salê thành lập một lối tu trì sống khác hẳn với quan niệm truyền thống của họ. Ngài nghĩ đến một dòng đón nhận những ai gặp nhiều rủi ro hơn. Họ không đủ sức đánh tội, không có khả năng phi thường để làm nên những việc diệu kỳ. Họ là những người yếu đuối cả về thể lý lẫn tâm lý. Họ chỉ biết làm những công việc vụn vặt phù hợp với sức yếu kém của mình. Nếu vào dòng sẵn có, họ chỉ có thể ở đó không quá một thời gian ngắn ngủi. Dòng mới lập chỉ yêu cầu các nữ tu tập luyện những nhân đức chính yếu mà thôi (tác phẩm 14, tr. 329-31). Khuynh hướng của đức cha là làm cho đời tu nên nhẹ nhàng, dễ sống, am hợp với mọi tầng lớp xã hội. Ngài muốn tổng hợp đời chiêm niệm của Maria với đời hoạt động của Marta.

        Thoạt tiên, luật dòng chỉ buộc chị em tùy ý chọn một giờ sáng hay chiều để nguyện ngắm và đọc trọn các giờ kinh kính Đức Mẹ trong ngày. Thời gian còn lại dành cho việc thăm viếng và chăm sóc những người bệnh tật yếu đau và nghèo khó. Thay vì hãm mình phạt xác, họ phải nỗ lực hơn trong việc kiềm chế bản thân. Họ cần thâm tín rằng sự trọn lành tinh thần quan trọng hơn việc ăn chay đánh tội. Hơn nữa, họ nên xác tín rằng tu là chết cho bản thân, cho tính vị kỷ qua việc gia tăng đức ái hăng nồng đối với Chúa và tha nhân (tác phẩm 25, tr. 135t). Khi đã hoàn tất cuốn hiến luật, thánh nhân chú thích rõ: “Luật này không buộc kẻ vi phạm vào trọng tội, tuy nhiên các nữ tu của bản dòng cần giữ chính xác mọi khoản luật vì lòng yêu mến Chúa” (tác phẩm 6, tr. 12).

        Thánh nhân đòi các nữ tu phải chuyên chăm trau dồi đời sống nội tâm. Không phải kinh kệ dài dòng làm cho người ta nên thánh, nhưng là lòng nhiệt thành yêu mến Chúa dẫn người ta đến đỉnh cao thánh thiện. Tinh thần từ bỏ hệ trọng hơn sự nghèo túng; đức ái cộng đoàn khẩn thiết hơn đời sống lẻ loi ẩn dật; vâng phục một cách chân tình và đơn sơ thì quý giá hơn gò bó những tiểu tiết luật lệ bên ngoài. Mỗi nữ tu cần ném xa ý riêng để ý Chúa chiếm chỗ trong tâm hồn mình (tác phẩm 6, tr. 121).

        Huy hiệu của dòng Thăm viếng là: một trái tim bị gươm đâm thâu có vòng gai quấn chung quanh với hai chữ Giêsu, Maria viết chồng lên nhau. Đó là dấu nhắc nhớ các nữ tu tôn sùng Thánh Tâm. Một lòng sùng kính sẽ được phổ biến trên toàn lãnh thổ nước Pháp và thế giới (tác phẩm 15, tr. 63-64).

        Vào thời kỳ đầu, nếp sống của dòng mới không phải dễ dàng. Ngoài những khó khăn kinh tế còn có muôn vàn những chống đối từ nhiều phía tuôn về… Có những dị nghị cay nghiệt đến từ phía giáo quyền và thế quyền. Vị giám mục sáng lập ra dòng phải ứng phó với mọi khó khăn hầu nâng đỡ cho tới khi vững mạnh. Ngài tìm cho các nữ tu một căn nhà rộng hơn, phù hợp với con số ngày một gia tăng. Ngài bênh vực các chị em trong dòng khỏi bị những lời trêu chọc của lũ thanh niên xấu nết. Đang khi ấy, Ngài củng cố tinh thần chị em bằng những bài giảng huấn, khi thì ngoài sân ngoài vườn, lúc thì trong nhà cơm hay nhà khách. Ngài khích lệ chị em tiến tới.

        Tu luật của dòng được chính thức soạn xong vào năm 1615, sau khi đã giải quyết xong những chống đối từ phía các giám mục của những giáo phận khác. Thế mà ngay từ năm 1613, cô Elisabet Arnauld de Gouffiers đã cả gan dựa vào bản luật đang soạn để tách khỏi cộng đoàn Annecy về Lion để lập một chi nhánh. Đức cha Phanxicô và mẹ Chantal rất hài lòng về thí điểm đầu tiên này. Thế nhưng, Đức Tổng giám mục Lion đã ra điều kiện cho dòng: “Muốn mở cộng đoàn tại Lion, các nữ tu phải sống chiêm niệm trong nội cấm mà thôi. Dứt khoát không được ra ngoài để thăm giáo dân hay làm việc tông đồ”. Đức cha Phanxicô đích thân đến bày tỏ lập trường cùng vị tổng giám mục. Sau cùng phải chấp nhận điều kiện của vị tổng giám mục. Đó là một nỗi đau khổ lớn lao cho bà Chantal vì dòng của bà đã phải vào khuôn khổ dòng chiêm niệm, hoàn toàn ngược với chủ trương. Đối với đức cha Phanxicô, điều đó không có hệ gì, miễn là có tu viện của dòng tại Lion dành cho những người góa bụa cũng như đồng trinh. Ngài áp dụng luật dòng thánh Augustino, bên cạnh lại có một bản hiến luật và một thủ bản hướng dẫn thiêng liêng cho các nữ tu, nhờ đó mà tinh thần Salêdiêng được bảo đảm (tác phẩm 25, tr. 32-45).

        Năm 1616, dựa vào uy tín của hồng y Bellarmino, bạn thân của ngài, tòa thánh đã phê chuẩn bản luật của dòng tu mới lập. Nhờ công ơn lớn lao của hầu tước Carlo Emmanuele và Maurice miền Savoie can thiệp mà Đức Thánh Cha gởi sắc dụ châu phê bản luật vào năm 1618. Kể từ đó, dòng phát triển cách mau lẹ. Cho tới khi vị thánh qua đời, dòng có tất cả 13 cộng đoàn (Tác phẩm 18, tr. 428).

        Phải nói rằng thánh Phanxicô Salê đã thất bại trong việc lập một dòng chiêm niệm và hoạt động. Thế nhưng, Ngài đã để lại một hạt giống cho thánh Vincent de Paul, người sẽ thành công trong việc thiết lập loại dòng tu chiêm niệm và hoạt động có tên là Nữ tử bác ái (Tác phẩm 21, tr.101).

        Thất bại là mẹ thành công. Điều đó quả đúng trong việc lập dòng của thánh Phanxicô Salê. Nhờ sự thất bại của Ngài mà các vị sáng lập khác có thể rút tỉa được nhiều kinh nghiệm để thành công gầy dựng những dòng tu phối hợp đời chiêm niệm và hoạt động. Cũng nhờ đường lối tu đức mới của thánh Phanxicô Salê mà giáo hội phê chuẩn một cách mạnh dạn các tu hội đời. Nếp sống tiên tiến này cần phải có những con người thánh thiện giữa đời để làm chứng về Đức Kitô cho con người thời đại. Chúng ta hoan nghênh đường lối tu trì mới này và chúng ta cầu chúc cho các tu hội kiểu này ngày một lan rộng.

Chương 6:

NHỮNG BÚT TÍCH.

        Loạt sách đầu tiên do thánh Phanxicô Salê xuất bản ra mắt độc giả năm 1637 tại tỉnh Toulouse. Vào năm 1641, bà Chantal phát hành loạt sách khác của thánh nhân ngay tại thành phố Paris. Tiếp đó, thánh nhân soạn thảo những trước tác có giá trị tu đức và thần học cao nhưng rất đơn sơ và được in một cách dồn dập vào hậu bán thế kỷ 17. Việc khảo cứu các bút tích của vị thánh bị đình chỉ vào thế kỷ 18 vì chính cuộc không cho phép. Sang thế kỷ 19, người ta khai thác các tác phẩm của vị thánh cách mãnh liệt hơn. Năm 1892, tu viện dòng Thăm viếng tại Annecy đã bắt đầu công việc chuẩn bị cho in những bút tích của vị sáng lập dòng. Đến năm 1932, một bộ sách gồm 26 cuốn do đức giám mục Phanxicô Salê viết được in một cách rất công phu. Trong 13 cuốn đầu có bài tựa của viện phụ dòng Benedicto là B. Mackey; cha Navatel dòng Tên viết dẫn nhập cho 3 cuốn kế tiếp. Số sách còn lại cũng có lời tựa nhưng vô danh tánh.

        Kể từ thế kỷ 17 nhiều người đã ào ạt phiên dịch những bút tích của vị thánh sang ngoại ngữ. Cho tới nay, chưa ai dịch các tác phẩm của Ngài sang Việt ngữ, trừ cuốn Sống thánh giữa đời (La vie dévote).

        Để nhận thức về tầm quan trọng và ảnh hưởng của vị thánh trên đường lối tu đức hiện tại, chúng ta hãy rảo qua một vài bút tích để có một khái niệm chung về đường lối nên thánh của ngài.

  1. Cuốn tranh luận (cuốn 1) được soạn thảo vào những ngày hoạt động truyền giáo ở vùng Chablais. Nội dung gồm những điểm chính yếu về giáo lý công giáo để phi bác những sai lầm của nhóm Cải cách. Ngài nhấn mạnh đặc biệt về cơ cấu của Giáo hội, về quyền bính của Giáo hoàng, các giám mục và các công đồng chung. Đó là một tác phẩm phong phú về giáo lý có liên quan đến quyền tối thượng và ơn bất khả ngộ của Giáo hoàng mà công đồng Vatican I sẽ định tín về sau.
  2. Bảo vệ cờ thánh giá (cuốn 2), nội dung cuốn sách nói về sự hợp lý của việc tôn thờ Thánh giá. Sách được trình bày dưới hình thức trả lời những thắc mắc của ông La Faye, người đã từng viết sách chống lại việc suy tôn Thánh giá. Luận điệu của thánh nhân rất vững vàng, có trích dẫn những lời giảng dạy của các giáo phụ và các văn sĩ công giáo khác (1600).
  3. Dẫn vào đời sống sủng ái (cuốn 3. Philôtêa), bản dịch việt ngữ mang tựa đề sống thánh giữa đời. Khởi đầu bằng chữ Philôtêa: ái nữ của Chúa. Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất và cũng được nhiều người ưa chuộng. Ngài xuất bản tác phẩm này vào năm 1609 và tái bản 40 lần trên khắp nước Pháp. Vào năm 1656, cuốn sách này được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ấn bản đầu tiên chỉ có 3 phần. Lần tái bản có bổ sung những phần khác, sửa chữa về bố cục và hình thức văn chương, bớt những nét cá biệt vụn vặt. Bản gốc của Ngài chỉ nhằm hai nhân vật là bà Charmoisy và Chantal. Linh mục Phanxicô Fourier dòng Tên đề nghị với Ngài nên đan dệt vào đó những ý tưởng đã có rải rác trong các thư hướng dẫn đường thiêng liêng và những nhận định riêng của ngài. Tác phẩm hoàn bị nhất gồm những chủ đề sau:
  4. dọn linh hồn sống đời sủng ái;
  5. hai phương thế: cầu nguyện và bí tích;
  6. tập các nhân đức;
  7. cám dỗ thường xảy ra;
  8. việc canh tân thiêng liêng.

     Chủ đích của tác phẩm được nêu rõ trong phần dẫn nhập: “Các tác giả viết về tu đức thường nhắm hướng dẫn những thành phần ưu tú, được trạch cử và được tách ra khỏi thế gian. Chủ tâm của tôi thì khác hẳn. Tôi nhằm hướng dẫn những ai đang sống giữa đô thị, những người bận rộn với công việc nội trợ, những công nhân viên của các cơ quan và những ai phải sống giữa các công việc phàm trần giống như mọi người khác”. Nguồn liệu để soạn thảo tác phẩm này là Kinh thánh và những giáo lý của các giáo phụ như Giêrônimô, Ambrosio, Augustino, Gregorio Nazianseno, Gioan kim ngôn; các sách tu đức như của Bernado, Ignatio Loyola, Teresa Avila; cũng có nhiều danh ngôn của các nhà hiền triết Hy lạp như Aristote, Plinio, Strabone.

  1. Luận về tình yêu Thiên Chúa (cuốn 4-5). Têôtimô. Tác phẩm này được xuất bản tại Lion vào năm 1616. Đó là thành quả của nhiều ngày nguyện ngắm về các sách tu đức của nhiều tác giả khác nhau. Đây là trước tác nổi bật về lối thiêng Salêdiêng. Nguồn liệu chính cho tác phẩm này phải kể là Kinh thánh, cách riêng các Thánh vịnh, sách Gióp, Giêrêmia, Diệu ca và thư Phaolo. Có các bút tích của giáo phụ như Augustino, các tiến sĩ như thánh Tôma, các tác giả tu đức như thánh Angêla da Fogligno, thánh Catarina Siena, thánh Catarina da Genova, thánh Têrêsa Avila. Nhiều người phê phán sách có tính tiêu cực vì nhấn mạnh đến việc phó thác tuyệt đối vào ý Chúa có thể đưa người ta đến chỗ ù lì, lạc thuyết hàn vi mà xưa kia Giáo hội đã lên án. Tác phẩm gồm 12 tập. Đại để có những đề tài sau đây:
  2. lời mở đầu (tập 1);
  3. nguồn gốc lòng mến Chúa (tập 2);
  4. tiến tới lòng mến trọn hảo (tập 3);
  5. về sự suy thoái lòng mến (tập 4);
  6. thực tập yêu mến Chúa (tập 5-7);
  7. những hình thức khác nhau của lòng mến (tập 8-10);
  8. sự siêu việt của lòng mến (tập 11);
  9. những điểm thực tế về lòng mến yêu đồng loại (tập 12).

     Chủ đích của tác phẩm được nêu trong lời mở đầu như sau: “Tôi không nhắm điều gì hơn là trình bày một cách đơn sơ và tự nhiên những gì liên quan đến nguồn gốc sự tiến triển, suy thoái và sự siêu việt của lòng mến Chúa. Chủ đích của sách này là giúp tâm hồn đạo đức tiến tới theo định hướng của họ”.

     Thánh Phanxicô Salê viết sách này cho các chị nữ tu dòng Thăm viếng và cho những ai sống đời chiêm niệm.

  1. Những bài giảng huấn (cuốn 6). Một số thủ bản của vị thánh được các nữ tu dòng Thăm viếng kết lại thành một tuyển tập và cho xuất bản vào năm 1628. Tuyển tập này chưa được hoàn chỉnh. Năm 1629, tại tu viện Lion, bà bề trên Chantal đã cẩn thận sắp xếp các bài giảng vào một tuyển tập chỉ gồm những bài giảng huấn của đức cha Phanxicô Salê cho các nữ tu dòng Thăm viếng. Hầu hết quy về hiến luật, cuộc đời Chúa Giêsu và về các nhân đức cơ bản một nữ tu phải tập luyện…
  2. Những bài thuyết giáo (cuốn 7-10). Năm 1641 bà Chantal và Sillery xuất bản một tuyển tập gồm những bài giảng thuyết của vị giám mục. Ấn bản của nhà sách thành phố Annecy cho ta thấy khoảng 160 bài giảng thuyết chọn lọc do chính đức cha viết, 70 bản thâu thập từ các sổ ghi chép của các nữ tu dòng Thăm viếng. Các bài giảng thuyết đầu tay của vị giám mục Genève mang vẻ văn hoa bóng bảy, có nhiều điển tích, rất phong phú về nội dung giáo lý. Có nhiều suy tư sâu sắc và độc đáo của ngài. Cách trình bày trong các bài giảng thuyết có vẻ đơn sơ trong sáng đến nỗi kẻ dốt người giỏi đều có thể hiểu cách dễ dàng. Đó là đặc điểm thuật hùng biện của vị thánh mà Ngài đã nhắc tới trong một bức thư bàn về cách rao giảng (tác phẩm 12, tr. 299-325).
  3. Thư tín (cuốn 11-21). Mười một cuốn sách gồm những lá thư trao đổi để hướng dẫn thiêng liêng cho nhiều linh hồn. Năm 1626, ấn bản đầu tay gồm 519 lá thư in tại Lion. Có nhiều sự thiếu sót và cắt xén. Lần tái bản sau có thêm nhiều chi tiết và các thư khác và các thư được yêu cầu giữ nguyên. Lần tái bản ở Annecy gồm những lá thư khả dĩ có thể sưu tầm được. Có những chú thích ở phần cuối trang sách. Nhờ những lá thư của vị thánh, ta hiểu được phần nào cá tính của ngài. Tuy nhiên, vì các thư đề cập đến quá nhiều vấn đề nên chúng ta không thể trình bày một cách chi tiết. Chúng ta chỉ có thể nói rằng tất cả đều quy về việc hướng dẫn linh hồn, mà những nét chính yếu đều đã có trong hai cuốn dẫn vào đời sống sủng ái và luận về tình yêu Thiên Chúa. Nhân vật chính của hầu hết các lá thư là bà Chantal. Chính bà là chứng nhân cụ thể về lối thiêng do vị thánh vạch ra.
  4. Những bản văn khác (cuốn 22-26). Trong một tuyển tập khác, ta thấy gồm có những huấn thị của vị giám mục liên quan đến đường hướng đời sống trong giáo phận của ngài. Những lời khuyến cáo các cha giải tội, quy luật sống thánh, hiến luật dòng Thăm viếng, chỉ nam và nhiều bút tích khác liên quan đến vấn đề luân lý và đạo đức.

Chương 7:

VỊ LINH HƯỚNG.

        Bà Chantal quả quyết rằng trước khi gặp đức cha Phanxicô Salê, bà chưa biết mình phải sống thánh. Chưa ai chỉ cho bà đường lối nên thánh, cũng chẳng có ai nói đến việc cần phải có vị linh mục hướng dẫn bà nên thánh. Đức cha Phanxicô Salê coi việc hướng dẫn thiêng liêng như bổn phận chính của giám mục. Trong đoạn mở đầu cuốn dẫn vào đời sống sủng ái, vị thánh viết: “Các giám mục có nhiệm vụ hướng dẫn đàng thiêng liêng cho các linh hồn, bởi giám mục thuộc về cấp bậc cao giữa loài người. Khi hướng dẫn thiêng liêng, người sử dụng thời giờ cách hoàn hảo”. như thế, ta thấy rằng vị thánh đã noi gương các tông đồ một cách rõ rệt. Ngài cảm thấy nhiều hứng thú trong việc dẫn đàng thiêng liêng. Ngài viết: “Vất vả lắm! Thú thực là như vậy. Thế nhưng cũng có nhiều an ủi… Sự vất vả ấy có khả năng rộng mở cõi lòng. Vị linh hướng cảm thấy hứng thú và dịu ngọt trong việc này” (lời ngỏ trong đời sống sủng ái).

        Thánh Phanxicô Salê xác tín vững chắc rằng mỗi linh hồn cần có sự hướng dẫn thiêng liêng. Đây không phải là nếp sống quý phái, kiêu kỳ của linh hồn chiêm niệm. Đây là phương thế linh nghiệm để giúp họ nên thánh: “Các con muốn thực sự bước vào đường thiêng liêng ư? Hãy tìm một linh mục để giúp đỡ và hướng dẫn các con”. Đó là lời khuyên cơ bản. Linh mục hướng dẫn linh hồn phải là người đầy lòng nhân ái, thông thạo giáo lý, sáng suốt và khôn ngoan. Thiếu các đức tính ấy sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm” (Đời sống sủng ái I, ch. 4).

        Có người cho rằng chủ trương của Phanxicô Salê chỉ là một cách phản ứng với chủ thuyết cá nhân do nhóm duy nhân bản và thệ phản đề xướng và gieo rắc. Nếu đọc kỹ các tác phẩm của vị thánh, ta sẽ thấy không hẳn là như vậy. Chính Ngài cảm nghiệm được lợi ích của việc hướng dẫn thiêng liêng. Ngài viết: “Vị linh hướng là kho tàng thiêng liêng cho ta khi gặp cảnh đau buồn và sa ngã, là dầu thoa chữa vết thương lòng”. Thánh nhân lập luận rằng: nếu ta phó thác việc chữa bệnh tật phần xác cho thầy thuốc thì tại sao ta lại không ký thác việc chữa bệnh tật linh hồn cho vị linh mục? (tác phẩm 9, tr. 95). Vẫn biết mỗi linh hồn có sắc thái riêng, nhưng không phải vì thế mà vị linh hướng không thể dẫn họ vào đường trọn lành được. Vị linh hướng có ơn đặc biệt do Thiên Chúa phú ban sâu xa hơn nữa, vâng phục là đường lối tuyệt hảo đưa ta vào sự thánh thiện (như trên 6, tr. 215).

        Cần phải nhìn vào vị linh hướng với cặp mắt siêu nhiên, Ngài viết: “Một khi con đã tìm được cha linh hướng, đừng coi Ngài như một phàm nhân, cũng đừng tin tưởng Ngài như bất kỳ ai theo kiểu phàm tục. Hãy coi Ngài là thừa tác viên của Thiên Chúa. Coi Ngài như thiên thần do Chúa sai đến để chỉ dẫn cho biết những điều con phải làm và soi tỏ cho những bước con đi” (đời sống sủng ái I, ch. 4).

        Sự tương quan giữa linh hồn và cha linh hướng phải dựa trên cơ sở ngay thật, trung tín, tin tưởng vô bờ, cộng thêm sự tôn kính thánh thiêng. Tắt một lời, phải có tình bạn keo sơn, thánh thiêng và siêu nhiên, hướng thẳng về Chúa” (như trên, x. tác phẩm 21, tr. 81-98).

        Mỗi khi đức cha Phanxicô Salê liệt kê những đức tính và phận sự của cha linh hướng, Ngài luôn miêu tả theo đường lối Ngài đã sống vì chính Ngài là vị linh hướng kỳ tài, đầy khôn ngoan, sáng suốt, khoan dung và thánh thiện. Các thư, bài huấn đức và những lời khuyên khôn ngoan của Ngài chứng tỏ điều đó. Ngài biết đặt mình như là dụng cụ Chúa dùng để hướng dẫn các linh hồn, đồng thời cũng biết tuyệt đối tôn trọng tác động Thánh Thần nơi các tâm hồn. Ngài ý thức rằng việc nên trọn lành không phải là chuyện đơn giản vì những kẻ sống giữa đời thì khác, còn người sống trong dòng thì khác. Ngay những phương pháp tập luyện nhân đức cũng khác nữa. Cha Pernia viết: “Những lời khuyên của Ngài thích hợp cho từng hoàn cảnh, nhu cầu và thiện chí của mỗi người. Tuy nhiên vị linh mục thánh thiện này luôn quan tâm và tôn trọng mỗi người như nhau. Các thư hướng dẫn thiêng liêng đều chất chứa cùng một nguyên tắc “giúp các linh hồn biết tự siêu thoát để họ gần gũi và liên kết với Chúa ngày một hơn” (ĐTHC 6, cột 751).

        Để thưởng thức phần nào biệt tài hướng dẫn linh hồn của vị thánh, chúng ta hãy trích một vài đoạn từ các thư của ngài:

        “Thuộc về Chúa thì tốt, nhưng thuộc trọn về Ngài thì tốt hơn cả. Người nào chỉ thuộc về Chúa thì không bao giờ buồn sầu, trừ khi họ xúc phạm đến Ngài. Lúc ấy sự tủi buồn của họ tất nhiên sẽ chìm sâu vào tâm khảm, dầu vậy lòng trí vẫn bình an và khiêm nhường suy phục. Tiếp đó, họ sẽ ngước nhìn lên Chúa nhân lành với lòng cậy trông dịu dàng và trọn hảo mà không cần âu sầu, uất hận. Ai thuộc trọn về Chúa thì chỉ tìm kiếm một mình Ngài thôi vì họ không lép vế trong lúc gian truân cũng như thịnh vượng. Họ sống bình tĩnh giữa những nghịch cảnh” (viết cho một cô gái ngày 7.9.1619).

        “Tất cả những ý tưởng làm ta nao núng và dao động đều không do Chúa mà đến. Người là thủ lãnh bình an. Đó chính là những cơn cám dỗ của kẻ thù thế nên phải xua đuổi và cảnh giác ngay từ giây phút đầu.

        Cần sống yên hàn mọi nơi mọi lúc. Cần thanh thản chấp nhận nỗi đau khổ bề trong cũng như bề ngoài. Nếu có sự gì vui mừng xảy ra, hãy đón nhận cách bình thản chứ đừng rung động. Giả như có phải xa tránh sự dữ cũng nên bình tĩnh chứ đừng băn khoăn lo lắng, bởi lẽ khi lẩn tránh như thế, rất có thể ngã quỵ và làm cớ cho kẻ thù hủy diệt ta. Nếu phải làm việc lành, hãy làm một cách thanh thản, bằng không ta sẽ lỗi phạm nhiều trong khi hối hả” (thư gởi bà Bourgeois ngày 18.4.1605).

        “Cần phải để cho sự độc lập và tự do thống trị chúng ta. Không có luật nào ràng buộc ngoài lòng mến. Chính lòng mến thôi thúc chúng ta làm đôi việc cho kẻ khác mà không cần phải càu nhàu sửa lỗi… Cha chiến đấu cho chính nghĩa khi cha bênh vực sự tự do thánh thiện và bác ái của tinh thần như con đã rõ. Cha tôn trọng từng người một miễn là họ thành thật và xa tránh thói ươn hèn cũng như phóng túng vì đó là dấu chứng tỏ sự thiếu thanh thoát tâm hồn” (thư gởi bà Chantal ngày 8.6.1606).

        “Con dày vò bản thân làm chi? Chúa không phải là Cha của con sao?”. Khi thánh Phanxicô Salê khuyên các linh hồn đừng suy tư về mình cũng đừng ưu tư quá đến vấn đề tiến thoái trên đường trọn lành, Ngài nhận định rõ ràng đó là một khuyết điểm do lòng tự ái mà ra. Thật là phí giờ nếu một người chỉ áy náy lo lắng đến việc mua sắm chiến cụ mà không biết ra sức chiến đấu khi bị quân thù xông đánh. Không bao giờ ta có thể võ trang một cách hoàn bị. Cần phải có tinh thần con thư phó thác. Ngước nhìn lên Thiên Chúa là Cha nhân hiền luôn bênh vực con cái yếu đuối của mình. Đoạn trích từ các thư sau đây cho thấy rõ quan niệm của ngài:

        “Đừng suy xét quá cặn kẽ liệu mình đã ở trong sự trọn lành hay chưa. Lo lắng và bối rối duyệt xét như thế chỉ phí giờ vô ích. Họ giống những chú lính chỉ láo nháo rùm beng với nhau để rồi khi giao chiến họ cảm thấy mệt mỏi rã rời. Họ cũng giống như những nhạc công miệt mài tập dượt quá đáng, đến lúc trình diễn thì không còn sức để cáng đáng nữa. Đó là quy tắc thứ nhất.

        Quy tắc thứ hai là: nếu mặt ngươi đơn thuần thì toàn thân ngươi sáng láng (Mt 6,22). Vậy con hãy đơn giản hóa phán đoán của con. Đừng ưu tư cũng đừng trách móc. Hãy thẳng tiến một cách đơn sơ và trông cậy, cha xin con đừng đứng núi này trông núi nọ. Hãy hồi tâm trong Chúa. Nếu con không thấy sự khốn cùng của mình thì con cũng chẳng nhận ra lòng lân tuất của Chúa đâu. Sự khốn cùng của con là đối tượng của lòng Chúa xót thương.

        Quy tắc thứ ba là: hãy sống như trẻ thư khi chúng thấy mình trong tầm mắt của người mẹ, chúng đi đứng bạo dạn và chạy lăng xăng mà không sợ vấp ngã vì bước đi non yếu của chúng gây ra. Con cũng vậy; khi thấy mình sống trong Chúa với tất cả thiện chí và quyết tâm phụng sự Người, hãy hăng hái tiến bước và đừng quản ngại lo đến những sơ xuất của mình.

        Về niềm vui, thánh nhân viết cho bà De Rie như sau:

        “Hãy thường xuyên khơi dậy nơi lòng mình tinh thần vui vẻ, hiền hòa. Hãy tin tưởng đó là tinh thần đạo đức chân chính. Nếu con thấy lòng mình sầu muộn và đắng cay, hãy nâng tâm hồn lên cùng Chúa và ký thác cho Người. Thế rồi, con hãy giải trí như tìm một người để nói về sự thánh thiện nào đó, hoặc một trò chơi khả dĩ làm con thỏa lòng. Con có thể dạo chơi ngoài đường, đọc cuốn sách này, hoặc hát một bài như thánh tông đồ đã khuyên. Con hãy năng làm thế, không những con được khuây khỏa và còn phụng sự Chúa nữa. Nhờ đó, dần dần con sẽ chấm dứt nỗi cay đắng và buồn nản trong tâm hồn”.

Chương 8:

GIÁO THUYẾT TU ĐỨC VÀ THẦN BÍ.

        Giáo thuyết về tu đức và thần bí của thánh Phanxicô Salê có cơ sở thần học rất vững chắc. Ngài viết: “Theo bản năng tự nhiên, tôi rất ghét những tranh luận và những đấu lý vô bổ vì chúng chỉ dẫn tới chia rẽ và khoe khoang” (tác phẩm 15, tr. 95).

        Thánh nhân chỉ muốn trình bày giáo lý vững chắc dựa trên Kinh thánh, các Công đồng và Giáo phụ. Ngài rất thích giáo lý của thánh Augustino, trừ những nét bi quan. Thánh Tôma là một trong những tiến sĩ Ngài trọng kính hơn cả.

        Khoa thần bí của đức cha Phanxicô Salê là khoa tình ái tuyệt hảo đối với Thiên Chúa. Ngài xây dựng giáo thuyết về tu đức và thần bí trên cơ sở tình yêu siêu nhiên. Ngài chân nhận rằng dấu vết tình Chúa yêu loài người vẫn còn in đậm trên trần gian: đó là việc nhập thể và cứu chuộc. Ngài tin rằng dù không có tội nguyên tổ, các việc ấy cũng xảy ra. Đó là công trình Thiên Chúa thực hiện nơi mỗi tâm hồn bằng cách ban phát ơn thánh cho họ. Con người phá ngang công việc này bằng những tội phạm của họ.

        Xác tín như vậy, Phanxicô Salê dạy rằng con người cần cộng tác tích cực với ơn thánh và những tác động của Thiên Chúa để đạt tới sự trọn lành. Việc đầu tiên họ phải làm là ly thoát khỏi sự dính bén với thế tục. Đó là việc ly thoát nội tâm, quảng đại phó thác tất cả cho Chúa. Đây là bước đầu cho những ai dấn thân phục vụ Chúa, tuy họ vẫn còn xa đỉnh trọn lành. Khởi đầu việc trọn lành gồm hai việc như tẩy gột và tăng cường những tác động nội tâm để cho linh hồn có thể gắn kết với Chúa nhiều hơn. Đó là tác động con người phải làm qua nhiều chặng đường gian khổ để tiến tới tình yêu nhờ ơn thần nhiệm Chúa ban cho những tâm hồn Người ưu tuyển.

        Những tác động ấy thuộc về hai loại tình yêu. Một thứ tình yêu hoan lạc nội tại giúp con người thích thú khi chiêm ngắm Thiên Chúa. Một thứ quy thiện, nghĩa là chỉ tìm cách tôn vinh Thiên Chúa và làm cho mọi tạo vật yêu mến Chúa mà thôi.

        Hai loại tình yêu siêu việt ấy đã được quảng diễn một cách diệu kỳ trong bài giảng về “Mẹ tình yêu”. Đó là điều kiện tất yếu đưa ta đến sự chiêm niệm, hoặc dẫn ta vào tình trạng thánh thiện siêu thoát. Từ tâm trạng này, tới một loại tình yêu khác, đó là khuôn rập ý riêng mình với thánh ý Chúa. Đây là tâm trạng của người chấp nhận mọi sự kiện và đau khổ thiêng liêng. Cần phải có tinh thần phó thác như trẻ thư tỏ ra cho cha mình là bác sĩ để ông chăm sóc, mổ xẻ và thuyên chữa những vết thương và bệnh tật mà không than trách lời nào. Cần ngước nhìn lên Thiên Chúa với những lời thiết tha trìu mến. Người là Cha hiền yêu mến tôi. Tất cả con người tôi thuộc về Người” (khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, 9, ch. 15).

        Không phải ai cũng đạt tới mức độ tình yêu siêu việt ấy. Thánh nhân nhận thức rõ như vậy. Tuy nhiên, Ngài quan niệm rằng mỗi Kitô hữu phải liệu sao cho mình đạt tới mức độ mến yêu cao nhất trong bậc sống của mình. Huấn giáo và tu đức của vị thánh nhắm thẳng vào chủ đích là tình yêu. Ngài không quan tâm nêu ra những nguyên tắc thần học cho bằng soi dẫn trí khôn và thôi thúc ý chí yêu mến Chúa mãnh liệt. Ngài ao ước niềm xác tín của Ngài được đem ra thực hành trong cuộc sống. Khi giảng dạy cho những người sống giữa dòng đời, thánh nhân quen dùng những từ ngữ, ý tưởng và hình ảnh cụ thể. Thay vì kể tràng giang đại hải những điều cấm đoán và những sự dữ, Ngài đi thẳng vào những việc thiện phải làm để nuôi dưỡng tình yêu đối với Thiên Chúa.

        Giáo thuyết về tu đức và thần bí của thánh nhân không phải là những mớ cấm đoán khe khắt. Ngài vun trồng những ý niệm lạc quan và tin tưởng vào sức mạnh vươn lên của con người. Trong cuộc sống thiêng liêng, họ cần khởi sự tập các đức tính nhân bản vì ơn thánh và nhân đức thiên phú sẽ dọi chiếu trên các nhân đức ấy.

        Đối với những ai lăn lộn với cuộc sống giữa xã hội, vấn đề chính yếu của họ là trau dồi cho mình một lòng yêu mến Chúa tha thiết: “Lòng đạo đức chân chính, Ngài viết, phải là tình yêu sinh động đối với Thiên Chúa. Họ phải nỗ lực đạt tới tình yêu lớn lao, chứ không dừng lại ở tình yêu tầm thường. Ai không ra sức tuân giữ luật Chúa thì không thể là người tốt lành và đạo đức được, vì sự tốt lành đòi phải có tình yêu, vì đạo đức đòi phải có hoạt động tông đồ nhờ đức ái” (Dẫn vào đời sống sủng ái I, tr. 1).

        Đức ái không cho phép người ta chỉ giới hạn mình trong vòng lẩn quẩn của việc khử trừ tội lỗi và sửa chữa những khuyết điểm. Nó đòi buộc con người phải kết hợp với Chúa ngày một thắm thiết hơn và phó thác cho Chúa quan phòng định liệu. Đạt được lý tưởng này không phải là chuyện dễ dàng. Cần phải phấn đấu bằng cách kiềm chế con người bên trong của mình. Việc hãm mình phạt xác tuy hữu ích thật, nhưng không thích hợp cho nhiều người và cũng không cần thiết vì nó có hại cho sức khỏe thể lý và ngăn trở việc chu toàn bổn phận.

        Phanxicô Salê đề nghị một kiểu hãm mình bề trong, nhắm thẳng vào những khuynh hướng lăng loàn của tính vị kỷ và những dính bén thế tục. Đó là sự hãm mình hy sinh phù hợp với bất cứ ai sống giữa dòng đời.

        Gương mẫu tuyệt hảo và thích hợp cho mọi người là Đức Giêsu Kitô. “Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu, Ngài viết, tâm hồn sẽ tràn đầy con người của Ngài. Con sẽ nhận ra cách thức Chúa hành động để rồi khuôn rập các hành vi của con theo hành động của Người. Đức Giêsu là ánh sáng thế gian. Trong Người, nhờ Người và qua Người, chúng ta được giãi chiếu và hướng dẫn. Đứng cạnh Đấng Cứu Thế trong khi suy niệm và lắng nghe lời Người nói, quan sát việc Người làm và những tâm tình Người có, thì nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta học biết được cách ăn nói, hành động và ước muốn như Người” (đời sống sủng ái II,  tr. 1).

        Để giúp ta khuôn rập ý riêng theo ý Chúa, thánh nhân đề nghị: cầu nguyện cách đơn sơ nhưng thắm thiết. Qua việc nguyện ngắm, ý thức mình sống trước nhan thánh Người; xưng tội và hiệp lễ thường xuyên trong thời kỳ cảm thấy khô khan nguội lạnh, đừng xa rời Thánh thể. Trái lại, hãy tiến lại gần bàn thánh cách tích cực hơn”.

        Vào thời của thánh Phanxicô Salê, việc siêng năng hiệp lễ chưa có nên Ngài phải đấu tranh cam go mới được cho phép người ta rước lễ tuần một lần. Theo ngài, việc nhắc nhở cho người ta rước lễ thường xuyên cách đồng đều là điều thiếu khôn ngoan, thế nhưng, khiển trách họ không rước lễ thường xuyên cũng không đúng. Nên để họ tự do định liệu theo lời khuyên của cha linh hướng. Ngài khuyên: “Con hãy hiệp lễ mỗi tuần một lần nếu có thể. Khoảng cách hiệp lễ không nên quá một tháng” (đời sống sủng ái II, tr. 20). Vị thánh khuyên bà Chantal nên hiệp lễ hằng ngày.

        Nhân đức bác ái thấm nhuần cả cuộc sống thiêng liêng nên phải có những nhân đức khác yểm trợ. Vị thánh đề cao những nhân đức truyền thống như trinh khiết, thanh bần và vâng phục. Ngài cổ võ việc luyện tập các nhân đức xã hội, vì chúng giúp người đạo hạnh dễ giao tiếp với người khác. Trong cuốn dẫn vào đời sống sủng ái, Ngài liệt kê mấy nhân đức này: nhẫn nại, khiêm nhường, hiền hòa, dễ bảo… Kèm theo đó, Ngài nêu thêm tiêu chuẩn chung như sau: “Giữa các nhân đức hãy chọn nhân đức nào thích hợp với bậc sống của mình hơn cả, chứ đừng chọn nhân đức hợp với sở thích của mình nhất. Hãy tập những nhân đức trổi vượt, chứ không phải nhân đức được người đời khen ngợi. Hãy tìm cách trau dồi các nhân đức cao đẹp chứ không hào nhoáng bề ngoài. Tập nhân đức cao cả, chứ không tập nhân đức để mình được đề cao” (III, tr. 1).

        Trình bày đường lối tu đức và thần bí của vị thánh một cách ngắn gọn e rằng không đạt tiêu chuẩn phong phú của nó. Cần đọc các tác phẩm mới cảm nếm được sự cao siêu và sâu rộng của khoa tu đức thần bí của Ngài (x. tác phẩm 21, tr. 114-133).

        Đường lối tu đức thần bí của vị thánh đạt được vị thế nào trong thế giới đương thời. Vào thời của ngài, nhân gian muốn tục hóa mọi sự, họ tìm cách xa lìa Giáo hội. Vị thánh đã minh chứng cho họ rằng Tin mừng có thể hội nhập cuộc sống trần thế nhiều lắm. Ngài cụ thể hóa tinh thần Tin mừng bằng cách đưa vào não trạng thời đại trong thế hệ mà con người đề cao nhân bản, vị thánh đã khéo trình bày cho người đương thời một đường lối nên thánh rất đơn sơ cho rằng sự cao cả của con người là điều có thể đạt đáo. May mắn hơn nữa là sự thánh thiện ở trong tầm với của mọi người. Đang khi vươn tới sự thánh thiện, con người vẫn có quyền giữ lại cá tính của mình và vẫn tôn trọng cá tính của kẻ khác.

        Những công việc nho nhỏ, những cách thực tập của con, những bổn phận hằng ngày được ví như những bó hoa kết thành tình yêu thắm đẹp để dâng lên Thiên Chúa. Chính thánh Phanxicô Salê là sứ điệp Chúa gởi tới những con người đã từng nhàm chán vì nghe quá nhiều những luận điệu thiêng liêng quá sức bi quan.

        Tu đức và thần bí hiện nay của chúng ta hầu hết là dựa vào đường lối của thánh Phanxicô Salê. Don Bosco đã chọn vị thánh này làm gương cho những ai dấn thân phục vụ trẻ nghèo và bị bỏ rơi. Don Bosco nhận thức rằng giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi không thể theo đuổi một lối tu đức thần bí khe khắt. Đường lối nên thánh theo chủ thuyết lạc quan nhân bản quả là thích hợp cho chúng.

        Ngày nay chúng ta có thể đề nghị cho người công giáo Việt nam theo đường lối nên thánh của thánh Phanxicô Salê. Thiết tưởng chúng ta có thể coi đó là đường lối tu đức và thần bí hợp với tâm tình và truyền thống Việt Nam hơn cả.

Viết theo Gian Domenico Gordini, phụ trách môn Giáo sử

tại chủng viện Giáo hoàng miền “Benedicto 15” – Bologna.

(trích bộ Bibliotheca Sanctorum, xuất bản năm 1964).

BÍ MẬT CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ

Tác phẩm của Linh mục Van Noutryve,

Đan sĩ Mont-César tháng 10 năm 1954.

Nhà xuất bản Cédre, Paris

DẪN NHẬP

        Ngày nay, dù người ta có chút ít vốn liếng văn hóa thế nào đi nữa, thì chẳng lẽ không nói đến hay không nghe nói đến “Thuyết hiện sinh” ? Từ này hợp thời và ở trong miệng nhiều người. Dầu lần gặp gỡ đầu tiên trông nó có vẻ như thế nào đi nữa, thì tự nền tảng nó không đến nỗi khó hiểu, miễn là họ đã học một chút triết lý nào đó rồi.

        Thật ra, đó là một phản ứng đánh dấu từ thế kỷ 19, chống lại hệ thống của Hegel. Chung quy ra kết luận rõ ràng nhất của ông là đồng hóa “cá thể” vào trong “ý tưởng”, “hiện hữu vào trong yếu tính”. Ngay trong hệ thống mới, trật tự cũ về các giá trị đã bị đảo lộn, có một cuộc tử chiến giữa tư tưởng trừu tượng và hiện hữu, từ ngữ này không thể đứng vững với từ trước và từ ngữ kia với từ ngữ sau này. Sự đối kháng giữa “cái tương đối” và “cái tuyệt đối”, giữa “cái hữu hạn” và “vô cùng ” thì được công bố là không thể giảm thiểu tối đa được, và lập tức siêu hình học bị bỏ vào xó quên lãng.

        Trong những đường nét lớn của nó, đó là bầu khí của tư tưởng hiện sinh đúc kết lại, trên bình diện triết học, xét về mặt luân lý, nó diễn tả sự thất sủng đối với Đấng Tuyệt đối. Tôi nói rõ là trong những đường nét lớn của nó. Thực tế, thì đây không phải là đi vào vấn đề chi tiết và các hình thái phức số của các hệ thống. Giờ đây ta chỉ cần ghi nhớ một điều: từ nay về sau, tâm lý đi trước siêu hình, kinh nghiệm đi trước trừu tượng.

        Tôi nhận thấy là tôi không thích đứng khoanh tay mà than khóc cho đám tang tư tưởng này, dầu nó là tư tưởng hạng sang. Ngay từ bây giờ, điều tôi ước ao đó là qua những ví dụ sống động và được chọn lọc kỹ càng, thiết lập tính độc sáng siêu việt của ” trật tự Đức tin”.

        Ta được biết rằng bản ngã chủ yếu tương quan với chính nó, một thứ tương quan “sinh nghiệm”, nhưng không phải là tương quan “chiêm ngưỡng”, nói đúng ra, hiện hữu không thể “suy tưởng tới”. Mỗi một ý thức đều bị giam hãm trong chính nó. Nó là “hữu thể với mình” và không gì hơn nữa. Hịên hữu được hiểu, nắm bắt trong lo âu, trong một kinh nghiệm hoàn toàn đối nghịch với kinh nghiệm mà truyền thống Plato diễn tả trong đó chúng ta sẽ đạt tới bằng những tư tưởng Hữu thể vào mức độ tròn đầy của nó, trong đó ta sẽ có thể hiểu, nắm bắt chân lý về tư tưởng mà kinh nghiệm có tham dự vào. Tóm lại, “mọi cuộc sống đều là sự thất bại”, và “con người là một đam mê vô ích”, đó là những công thức làm giảm suy nhuệ khí mà thuyết hiện sinh sẽ đi đến, và cũng là những công thức mà thuyết này thường quen diễn tả. May thay, “trật tự đức tin” thoát khỏi tầm phân tích như thế và vượt lên khỏi nó. Thật vậy, một người công giáo theo thuyết hiện sinh khá nổi tiếng là Gabriel Marcel đã nhận định, trật tự các giá trị duy nhất riêng biệt, nơi mà mỗi ý thức có đức tin chỉ xưng hô ở ngôi thứ hai, nghĩa là nói với hữu thể đức ái và hỗ tương, với Đức Ngài tuyệt đối là người xây nền cho mọi sự liên lạc của vũ trụ thiêng liêng chúng ta. Hơn nữa, linh hồn có lòng tự tin biết mình được sáp nhập vào; trong nhiều trường hợp, ngay cả một người nào đó đang chịu đau khổ vì hữu thể cũng được đảm bảo là không bị rơi xuống dưới chính mình bởi một thứ sa đọa mang đặc tính Plato vào giây phút nhập thể của họ; bởi vì, quả thật chính Đức Ngài là một sự soi sáng cho họ, là một Thượng đế nhập thể, hiến thánh những gì Ngài tạo ra, nghĩa là biện chính điều thấp hèn khỏi điều cao sang, xác thể bởi tinh thần, cái hữu hạn bởi cái vô hạn.

        Chỉ có đức tin được đem ra sống và được suy ngắm mới có thể cho chúng ta cái chìa khóa kinh nghiệm nguyên tuyền. Một trong những nghịch lý sắc bén nhất phải chăng đó không phải là việc đưa dẫn vào siêu hình xuôi xắn nhất, mà ở dưới nền tảng là sự thánh thiện? Bởi lẽ các hữu thể cung cấp một vì dữ kiện nào đó cho những trí óc không được tinh luyện mà có thể hiểu được, ít là chúng chỉ cung cấp bí mật thân thiết nhất cho những trí óc nào tri giác chúng với ánh sáng Thượng đế. Tự nhiên và siêu nhiên không lẫn lộn với nhau, nhưng bởi vì lãnh vực thần thiêng nối kết chúng lại và lịch sử đã ghi khắc tên siêu nhiên vào trong lòng tự nhiên, cho nên những vấn đề tự nhiên chỉ có nhận  thức khi được siêu việt hóa do sự hấp dẫn bất khả chiến bại của những màu nhiệm siêu nhiên, mặc dầu những vấn đề này có nặng nề thế nào đi nữa.

        Chính trong việc “liên kết cách tốt đẹp” cái tự nhiên với cái siêu nhiên mà người ta muốn đưa vào những nhân vật thuộc lãnh vực thứ nhất, như một Phanxicô Salê, mà tầm ảnh hưởng của Ngài chế ngự toàn thể nền linh đạo mới ngày nay, một thánh Têrêsa vị liệt nữ tình yêu thần linh và bà đã bị tình yêu đốt cháy hoàn toàn, một Luther, trở thành một trong những người cha của phe cải cách, sau cùng một Augustinô với một nhân cách nóng bỏng và với tư tưởng vừa độc đáo vừa phong nhiêu.

        Mỗi một vị thánh có bí mật riêng tư của mình, được nhận ra khá dễ dàng – Bí mật của thánh Phanxicô Salê không phải là những bí mật mà thoạt nhìn ta không thể trông thấy hết. Cần phải nhìn kỹ lắm, với sự minh mẫn tôn giáo và nhiều cảm quan siêu nhiên lắm, nếu không thì đặc tính êm ái của Ngài dễ bị người ta hiểu sai đi.

        Về việc phong thánh cho Grignon de Montfort, Đức Thánh Cha mới đây đã ám chỉ đến điều đó qua những lời được đọc cho công chúng sau đây: “Đôi khi người ta đã tin rằng có thể đem đối kháng Grignon de Montfort với thánh Phanxicô Salê, họ chứng minh rằng họ chỉ biết vị này vị kia cách hời hợt. Chắc chắn rồi các Ngài hẳn khác nhau, và như vậy là để đánh tan thành kiến cho rằng mỗi vị thánh đều là những gương mẫu giống hệt nhau, có cùng một loại nhân đức, được đúc cùng một khuôn. Nhưng người ta hoàn toàn quên mất đi cuộc giao tranh mà Phanxicô Salê phải đương đầu để mài dũa tính tình mình cho ra mềm mỏng khi mà tự nhiên Ngài rất gay gắt, và sự hiền dịu tuyệt hảo mà Louis-Maria đã dùng để giúp đỡ và dạy vẽ bảo ban những người hèn mọn. Ngoài ra, nét dễ thương vui tươi của người Giám Mục Genève, hơn là sự khổ hạnh của vị truyền giáo miền Bretagne, đã không bị lòng ghen ghét và bách hại từ phía những người theo Calvin mà Jansenio che khuất đi được và đàng khác, trong khi phục vụ Giáo hội, sự vất vả hăng say của vị này, cũng như lòng kiên nhẫn của vị kia, đã làm cho hai Ngài đáng được giáo dân khen ngợi và tôn sùng.

        Để dẫn đưa chúng ta đến thánh Phanxicô Salê, là người đã được danh giá như là một vị lãnh đạo ưu tuyển, chúng ta có Cha Idesbald van Houtryve. là đan sĩ thuộc Tu viện Mont- Késar ở Louvin người được xếp vào hàng ngũ những “nhà linh đạo” nước Bỉ mà ai cũng biết đến. Đây là điều không thể chối cãi được. Những ai đã có dịp đọc các quyển sách xinh xắn của người: La vie dans la paix, Via vitae, rút ra từ trăm ngàn ấn bản, thì đã không thể không nhận ra ở đó việc hô hấp của một linh hồn hoàn toàn được Thánh Kinh nuôi dưỡng và là một chuyên gia có khả năng làm cho người khác cảm nếm được mật ong thơm dịu chứa đựng trong đó.

        Là con cái thánh Beneddetto và thuộc về nền linh đạo xa xưa, Cha Vantryve còn thủ đắc được phần chủ yếu của nền linh đạo này, Nhưng đây là đặc tính độc sáng riêng của người là mở mắt nhìn về nền linh đạo có sau này. Diện mạo đáng yêu của thánh Phanxicô đã chinh phục Người cách đặc biệt. Những chuyện bất ngờ trong chiến tranh đã dẫn Người đến miền thượng – Savoie là quê hương người bạn vĩ đại ở trên trời của Người, từ đó Người đã có dịp vào sâu hơn trong tình thân mật với vị thánh. Nhờ vậy một quyển sách đã ra đời, với sự cộng tác của một Linh mục Chartreux, là một tập văn tuyển ưu gồm các bản văn hay nhất của vị thánh dòng họ De Salê. Một cách khác sẽ theo sau đó, hình như dưới nhan đề đượm vẻ hy vọng: thánh Phanxicô Salê được Người phác họa, rồi Người còn rất ước ao cho chúng ta được hưởng hoa quả đầu mùa của nó. Làm sao ta lại không vui khi đến gần vị thánh hiền lành, có một người giỏi giang như thế cùng đi với.

BÍ MẬT CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ.

        Thánh Phanxicô Salê hiền lành: kiểu diễn tả có thể nói là được thánh hiến, nhưng cứ nghe mãi thì ta cũng phải hiểu biết về nó thật kỹ, khi nghĩ lại những ngữ pháp trong văn thể và trong những đoạn trích từ tác phẩm của Ngài trong nhưng lá thư Ngài viết, không phải theo mỹ ý của chúng ta nhưng theo mỹ ý của những người sống cùng thời với Ngài, thì chúng ta dễ dàng hiểu ra một vị thánh hiền lành vô vị, yếu ớt và quá thật thà. Sự hiền lành của Ngài có thể là thứ khoan dung thầm kín đối với sự yếu đuối nơi con người. Khi gặp những vị thánh khác với khuôn mặt khắc khổ và đòi hỏi, thì quả thật người đã đưa ra trước một cách thế mà tôi không biết diễn tả thế nào, là dễ dãi và nhu nhược đối với việc cứu rỗi của Ngài, có thể nói được là vừa đùa cợt vừa tùy thích khai mở lối về trời, mà Tin Mừng vẫn khăng một mực công bố là “chật hẹp và khó khăn”. Đó là lối cắt nghĩa mà những người đang sống đương thời với chúng ta đã có dịp nghe nói về Ngài.

        Thông thường họ gán cho Ngài cái thuộc từ hiền lành mà theo truyền thống muốn áp đặt cho Ngài. Tóm lại, Ngài sống vì danh tiếng của mình, và những linh hồn nào muốn đóng góp phần mình cho thế gian và giảm bớt phần của Thiên Chúa thì tin là còn giữ được nơi Ngài “con người” của họ và có thể đưa Ngài ra để lưỡng thứ cho những yếu đuối của mình. Quả thật đó là điều mà họ thấy phải hiểu nơi thánh Phanxicô Salê.

        Ta đừng lầm lẫn: thời đại tàn bạo của ta bị những thứ thuốc tương đương được dùng thay thế cho các vị thuốc khác của thuyết “siêu nhân’ không thích sự lành, họ nghi ngờ nó và đặt tin tưởng vào những phương tiện thấy được rõ ràng và kêu vang hơn. Ngoài ra còn có sự kiện là việc lui tới với các triết gia và các nhà luân lý cổ sơ, trực tiếp hay gián tiếp chịu dấu tích của họ, đều có khuynh hướng chủ yếu là chỉ nhấn mạnh đến nhân đức hùng tráng mà coi trọng tất cả những ai mà người ta gọi là “những kẻ dũng mạnh”.

        Dầu vậy, khi nghe Đức Giêsu Kitô trong trường dạy Tin Mừng, nơi các Giáo phụ, phụng vụ, các nhà thần bí, thì người ta học biết được điều này là tin kính, hy vọng, mến yêu Thiên Chúa và người ta, với một tình yêu khiêm nhường và hiền lành. Ngoài ra, sức mạnh phát xuất từ niềm hy vọng, từ sự tín thác vào Thiên Chúa, trong Đức Kitô. trước tiên sức mạnh là kết quả của Đức ái, nó phục vụ và được dùng để bảo vệ đức ái. Nó được phát sinh từ ân sủng Đức Kitô, được ban cho ta nhờ bí tích và do đó nó phát triển ra to lớn. Được sự hiền lành thấm nhuần, sức mạnh kitô giáo gây ra một âm vang hoàn toàn khác với nghị lực ngoại giáo. Thánh Phanxicô Salê gọi nó bằng một cái tên đẹp đẽ: “sự hiền dịu của lòng can đảm”.

        Vậy đúng ra, bí mật của thánh Phanxicô Salê và sự thánh thiện của Ngài hệ tại ở đâu? Vấn đề cần được đặt ra làm sao để đánh tan hết mọi thứ dị nghĩa. Có lẽ đó là một vấn đề hay ho nhất cần đặt ra cho người chép sử thánh để có được chìa khóa mà khai mở vấn đề.

Nhân cách và tác động thần linh.

        Trước hết ta hãy thử vào sâu trong các viễn tượng. Điểm được duyệt xét đầu tiên là điểm hay nhất cũng như là dễ bị quên lãng nhất, đó là tác động của Thiên Chúa luôn luôn đáp ứng với nhân cách chúng ta để sửa sai, hướng thượng, biến đổi. Do sự yếu đuối của chúng ta mà tác động toàn năng này không luôn luôn tìm ra được linh hồn khá dễ dạy, khá mềm dảo, khá dễ bảo, và nếu nơi những người tốt lành nhất trong chúng ta cái dáng vẻ xù xì hay đường nét yểu điệu thuộc bản tính tự nhiên trông có vẻ bị che khuất đi trong một mức độ hơn kém nào đó thì lỗi đó tại ai?

        Đã vậy, điều đáng chú ý nơi Phanxicô Salê là toàn thể linh hồn Ngài, trong nơi sâu thẳm cũng như nơi dáng vẻ bên ngoài, đã được tác động thần linh đảm nhận lấy, kết hợp mọi chuyển động lại thành một, đến độ là người ta không luôn luôn có khả năng phân biệt được cái gì thuộc tự nhiên và cái gì thuộc ân sủng. Nguyên động lực tình yêu Thiên Chúa đã nâng tất cả lên; tất cả những gì có thể là khiếm khuyết nơi Ngài đều được ngọn lửa thần thiêng tiêu hủy đi; tất cả những gì là trong sạch và cao thượng đều được làm cho nên phong phú, sinh động và nâng lên đến một độ cao mà người ta không thể so sánh được: Chỉ còn là Thiên Chúa và hoạt động đáng khen ngợi của Người để yêu mến và chúc tụng nơi con người được tuyển chọn của Ngài.

        Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây nhân cách là tuyệt hảo và vật chất là cao quí. Một trong những nhà xuất bản chính về cuộc đời Ngài đã nhận định như sau: “Phát xuất từ một nòi giống cổ xưa, Phanxicô đã rút tỉa được từ khi mới sinh ra nét nổi bật trong cử chỉ, phong cách ưu tú, kính trọng người khác và chính mình, nhuệ khí nghĩa hiệp, tình cảm sâu xa về bổn phận và danh dự. Tâm hồn cao thượng, phán đoán ngay thẳng, tinh thần minh mẫn và biết quan sát, trí thông minh rộng mở cho những gì là vĩ đại, tốt lành và đẹp đẽ, trái tim dễ thương mến và tế nhị, sự pha trộn giữa nghị lực và âu yếm, ý chí lụy phục lý trí và được đức tin soi sáng, sự trong sạch thiên thần, lòng đạo đức hăng nồng”. (lời giới thiệu về quyển 21 về tác phẩm, ấn bản Annecy, trang 9).

        Việc đào luyện tinh thần của Phanxicô, việc cộng tác cá nhân với ân sủng đã làm cho Ngài trở thành nhà thần học tuyệt hảo diễn tả một cách trong sáng và chắc chắn những điểm giáo lý và luân lý; sự khôn ngoan siêu nhiên của Ngài đã làm cho Ngài trở thành một bậc thầy hoàn mỹ về đời sống linh đạo mà Ngài đã đem ra thực hành trước rồi dạy dỗ sau; là một nhà tâm lý sắc bén, vào sâu, nhưng tế nhị trong những tâm hồn để rồi đem ra ánh sáng những bí mật, Ngài phác họa chúng với một nghệ thuật pha màu nóng hổi, với mục đích là nhắm tới ích lợi lớn lao của họ mà thôi.

        Thêm vào đó, lối văn của Ngài đượm vẻ tươi mát ngọt ngào có mang theo mọi thứ hài hòa; đầy nét đậm đà và chẳng thiếu gì là khí lực, là sức mạnh. Tư tưởng Ngài tuôn chảy dễ dàng, không cần nỗ lực cũng chẳng có chi là giả tạo. Ngay cả trong cái danh thiếp nhỏ mọn mà Ngài viết, người ta cũng cảm thấy tâm hồn vĩ đại của Ngài rung động , chìm đắm trong một bầu khí thần linh, sống bởi Thiên Chúa và tình yêu Người. Lời lẽ của Ngài tràn đầy vẻ mặn mà, hầu như luôn luôn độc đáo , thường là vẻ đẹp như một bức họa, không bao giờ mất đi những gì mà Thần khí sống trong Ngài đã đến dùng dầu mà xức vào tâm hồn, tinh nghịch nhưng dịu dàng, châm biếm với sắc thái công cảm và ôn hậu, với một vẻ hài hước duyên dáng không thay đổi. Trí tưởng tượng của Ngài phong phú và tươi cười len lỏi vào trong mọi vẻ đẹp của thiên nhiên và khám phá ra được một vài đường nét mang vẻ mỹ miều thần linh; đối với Ngài, mọi sự đều là biểu tượng hay là sự nhắc nhở đến Thiên Chúa và những sự vật thuộc về Thiên Chúa về đời sống linh đạo. Điều mà Ngài nói phát xuất tự đáy lòng và thấm nhập vào tâm hồn. Ngài có ơn ban là làm cho chúng ta đi vào những lợi ích của những ai trao đổi thư từ với Ngài, làm cho chúng ta chia sẻ với những nỗi lo lắng của Ngài, tươi cười và khóc lóc với họ.

Một hoa quả tuyệt diệu của tình yêu.

        Chúng ta hãy lên đến nguyên tắc sự đồng nhất này, sự đồng nhất có giữa tác động Thiên Chúa và tác động con người nơi Ngài, sự lụy phục ân sủng về phía bản tính tự nhiên nhưng lại còn được nguyên vẹn và trở nên giàu có luôn mãi: chúng ta nhận thấy rằng nó là hoa quả của tình yêu. Nơi vị thánh, chúng ta không có luận đề cứng ngắc, cũng không có luận lý rắn rỏi; không có gì là cưỡng ép, cũng chẳng chút nhăn nhó, không có gì căng thẳng về phía ý chí, nhưng sự câu thúc dịu dàng của đức ái sẽ bình thản khắc phục tất cả vật gì sống động và chuyển động nơi Ngài, nhuần thấm toàn thể cá tính với hành động cùng sức mạnh của Ngài, không gì có thể thoát khỏi nỗ lực của nó.

        Hồn tông đồ và linh mục tỏa chiếu một vẻ đẹp thiên cung; nhưng từ ngày mà Phanxicô Salê hy sinh trọn vẹn cuộc sống mình cho vinh quang Chúa chúng ta và vì phần rỗi dân mình thì trong tâm hồn, vẻ đẹp nội tại ngày càng trở nên to lớn hơn; giữa những lao nhọc vô bờ bến của mình, thì đối với Phanxicô Salê, công việc thánh hóa cá nhân luôn nằm ở lãnh vực ưu tiên. Ngài liên lỉ có trước mắt mình lời thề nguyền vĩ đại và phi thường là chăm lo cho các linh hồn và chết đi cho họ nếu thuận tiện, nồng nhiệt chú tâm vào việc đáp trả những ân huệ của Chúa Thánh Thần, để thể hiện nơi chính mình lý tưởng cao cả của một vị mục tử theo như lòng Thiên Chúa” (Lời giới thiệu tác phẩm, trang 17).

        Khi có thể, Ngài đắm chìm trong Đấng Ngài không ngừng múc kín sự sống; qua kinh nghiệm, Ngài gìn giữ đời sống nội tâm của mình, Ngài tranh thủ với hết mọi cơ hội, nuôi dưỡng mình với những của ngon ngọt từ lời thần linh để củng cố mình nơi Thiên Chúa. Thường xuyên Ngài ưa thích rút lui khỏi những gì gây cản trở hầu cầu nguyện nhiều hơn và xét mình dưới ánh mắt Thiên Chúa. Tinh thần hồi niệm, chiêm ngưỡng, đức tin bình thản không biện luận, thấu suốt, trái tim nồng nhiệt và dịu dàng, tính đơn sơ, sự phó thác hiền thảo của Ngài đã làm cho thói quen cầu nguyện nên dễ dàng. Việc cầu nguyện này luôn luôn là một việc thân tình, thực hành bằng nhiều tình yêu hăng nồng, hơn là bằng những suy nghĩ kéo dài. Chúa chúng ta truyền thông chính mình cho đầy tớ Người một cách thân mật và thấu suốt, tràn ngập con người Ngài bằng ánh sáng của mình, làm cho Ngài thấy và cảm nghiệm được Người hiền dịu biết bao đối với những ai tìm kiếm Người. Những lá thư vị thánh Giám mục gởi bà Chantal thông thường chỉ là những khái luận hay là việc gặp gỡ kéo dài giữa Ngài với Thiên Chúa; trái tim Ngài thổ lộ qua những cuộc đàm thoại thân thiết, hồn Ngài vươn lên cao để rồi lặn ngụp trong sự chiêm ngưỡng mầu nhiệm này hay mầu nhiệm kia, trí Ngài hầu như quên đi những gì còn lại để đắm chìm trong cõi vô tận.

Tình yêu luôn luôn là tình yêu.

        Tình yêu luôn luôn là tình yêu cai trị, nhưng một tình yêu mà không bằng lòng với những biểu lộ êm ái, song cảm thấy hối thúc bởi những ước ao mới và mãnh liệt để phục vụ tình yêu cực thánh của Thiên Chúa với tất cả nghị lực mà Ngài có được, dốc sức để thực hiện những việc từ bỏ vô song, chấp nhận ý Thiên Chúa với mọi thánh giá Người đem đến, càng ngày càng lột bỏ những gì Ngài khám phá ra là có mang tính cách trần thế và nhân loại nơi mình để cuộc đời Ngài và trọn bộ con người Ngài theo sự xếp đặt an bài đơn thuần của Thiên Chúa Quan phòng mà thôi.

        Càng tiến lên, lời cầu nguyện của vị Giám mục càng đơn sơ: đó là cuộc đối thoại giữa đứa trẻ với cha nó hay là cảnh lòng kề lòng âm thầm với Người. Thật vậy, Ngài cho rằng: “không cần phải dùng lời, ngay cả những lời nội tâm đi nữa, chỉ càng phóng trái tim hay đặt nó nghỉ ngơi trong Chúa chúng ta, hay còn hơn thế nữa “âu yếm nhìn xem Đấng Thiên Chúa yêu mến say đắm các linh hồn, bởi vì giữa các người yêu nhau, thì con mắt nói đúng, nói nhiều hơn miệng lưỡi”.

        Vào cuối đời Ngài, những phẩm tính thần linh và vĩnh cửu đã trở thành mối bận tâm thường xuyên của Ngài. Nhìn về Thiên Chúa “khiến Ngài say mê vô cùng”; việc chiêm ngắm sự vĩ đại không sao hiểu thấu của Người tạo cho Ngài những niềm vui khôn tả; ở đó Ngài che dấu đi sự bé bỏng của mình. Ngài nhìn trái tim mình “dưới sự quan phòng dịu hiền âu yếm của Chúa-chúng-ta ”. Nơi đây, khi mọi động tác, mọi công việc, mọi tư tưởng minh bạch đã đình chỉ thì lời cầu nguyện của vị Giám mục vĩ đại trở nên “một lời thổ lộ tâm can cho vĩnh cửu và cho Đấng vĩnh cửu…”. Quả thật chính trong sự trao đổi thông thường với Đấng vô hình và trong sự kết hiệp mỗi lúc một tăng triển và càng ngày càng sâu xa với Người mà ta phải tìm kiếm nguồn gốc bầu nhiệt huyết muốn chinh phục, lòng can đảm không ai có thể kìm chế được, tính nhẫn nại trong mọi cơn thử thách, đức ái không bao giờ mệt mỏi, hoạt động đã làm cho vị thánh chúng ta hao mòn. Đó cũng là bí mật tầm ảnh hưởng và mức độ hướng thượng Ngài chi phối các linh hồn. Ngài đã có một sức thu hút như thần linh; khóe nhìn, con người, những lời Ngài nói đều hít thở và trao ban Thiên Chúa. Nhìn thấy, đến gần, nói với hay nghe Ngài nói, là đã lãnh nhận được một điều gì từ vị Thiên Chúa toàn là tình yêu mà Ngài đã có dư tràn (lời giới thiệu tác phẩm, trang 128-130).

        Những niềm vui lớn nhất của Ngài là cử hành thánh lễ và thần vụ. Ngài phó thác mình và bạn hữu cho Đức Trinh Nữ Maria rất thánh êm ái dịu dàng và trung thành lần hạt. Chỉ cần một chuyển động của linh hồn là Ngài có thể về tiếp kiến Thiên Chúa, nhưng không gì vượt ra khỏi tầm con mắt hay mang sắc thái phi thường cả, người ta có biết đến ba hay bốn thị kiến hoặc xuất thần thật sự. Thiên Chúa đã dùng Ngài nhiều lần để làm những phép lạ, nhưng ngoài những lúc đó ra Ngài đều sống đơn sơ, khiêm nhường.

Nơi nguồn mạch hoạt động.

        Sáng kiến của Ngài không là gì khác ngoài những tiếng đáp trả lời Thiên Chúa mời gọi, được tiếp nhận không phải qua những lời nội tâm, nhưng do sự kiện là Ngài kết hiệp liên lỉ với Đấng là Lời, ánh sáng soi cuộc sống. Như là công việc hoàn toàn khôn sánh, hoàn toàn tốt đẹp của Đấng toàn năng, những tiến trình của nó được tiếp tục và kéo dài nơi một thứ tác động nhân loại, được xử dụng đến như là một phương tiện tự do và ý thức mình trong bàn tay Thiên Chúa. Ngay cả đến lòng can đảm của Ngài cũng chỉ là một hình thức phó thác mà thôi.

        Phanxicô lệ thuộc vào Thiên Chúa, vào tác động thần linh; hoàn toàn để cho vượt qua chứ không kháng cự lại, được ơn thánh hộ tống, thấu nhập, bao bọc và theo dõi, trong tất cả và khắp mọi nơi; được nâng lên khỏi chính mình không phải bằng sức lực hung hãn, nhưng bằng cách phó thác cho Thiên Chúa, Ngài ưng chịu mọi điều Thiên Chúa an bài. Cũng thế, không một biến cố nào làm Ngài sửng sốt, Ngài luôn sẵn sàng chịu đựng mọi sự, sẵn sàng đón nhận từ bàn tay Thiên Chúa những nghịch cảnh cũng như những lúc thịnh vượng, chẳng có gì khác biệt, vì sống bởi Thiên Chúa, sẵn sàng hành động , sẵn sàng khởi sự, gác bỏ công việc cũng như là làm lại, biết chờ đợi giờ của Thiên Chúa khi các chướng ngại vật làm các công việc Ngài phải chậm trễ muộn màng hay lời vu khống làm cho chúng nên khó khăn nặng nhọc; dửng dưng với các kiểu thời trang, với những cách thế diễn tả làm đẹp lòng Thiên Chúa, nhưng khi Ngài nhận ra điều gì là ý muốn của Thiên Chúa hiện diện, thì nhờ lửa nhiệt tâm của Đấng Ngài yêu mến đốt cháy, Ngài sẽ thi hành với trọn cả con người mình, dầu có bị đè bẹp dưới gánh nặng, bị kiệt quệ sức lực . Ngàn vạn hình thức bệnh tật hay phiền muộn không thể thắng được việc Ngài cư ngụ trong Thiên Chúa.

        Ngài không gạt bỏ những gì từ Thiên Chúa mà đến, những gì thuộc về Thiên Chúa, Ngài đón nhận tất cả. Trong Thiên Chúa Ngài nếm cảm những điều kỳ diệu của vũ trụ, khắp nơi Ngài nghe cử điệu nhạc thần linh, dây đàn lòng Ngài rung lên trước vẻ rực rỡ và hài hòa của sự vật, Ngài yêu thích hiểu biết và ăn nói trôi chảy, Ngài đón nhận mọi tạo vật như những sứ giả của Thiên Chúa.

        Ngài không áp đặt trên một ai cả, nhưng cũng một thể thức ấy, Ngài không xua đuổi ai đến với Ngài; Ngài nhìn xem và ca ngợi điều lành trước khi phải buồn phiền vì sự dữ; Ngài cống hiến thời giờ và sức lực mình cho những người hèn hạ cũng như cho những kẻ sang trọng vĩ đại cách đơn sơ, bình thản, dùng thinh lặng để áp dụng cho kẻ nào không chịu nổi ân huệ liên lỉ này khiến họ phải bị đánh bật ra, luôn luôn sẵn sàng bắt đầu lại trăm ngàn lần công việc đã bị cản trở, luôn luôn sẵn sàng dẹp bỏ công việc nào đó để phục dịch một người nào chạy đến với Ngài, Ngài chỉ nhắm tới lợi ích to lớn nhất cho mọi người, không đếm xỉa gì đến điều mà tính tự nhiên thích hay chối từ không quay trở về với mình, nhưng rộng mở bàn tay và trái tim cho tất cả mọi người.

        Ngài chấp nhận những cuộc hành trình xa xăm, những chuyến thăm viếng gây hao tổn sức lực trong giáo phận, cư ngụ trong thành phố có tòa giám mục, những ngày nghỉ ở gia đình, công việc liên lạc thư từ nặng nề, những cuộc thăm viếng liên tục, một thế giới đầy dịch vụ, cùng một vẻ bình thản không thay đổi, không chọn lựa, không ý riêng, không bao giờ Ngài phàn nàn một lời về những đắng cay, mệt nhọc, đau khổ, về những người và thủ đoạn của họ, nhưng với một sự bình an không một chút chi đượm vẻ u sầu, không một vẻ chua chát, mặc cho người ta khiển trách hay vu cáo, Ngài không lo lắng gì đến cả; đối với sự dữ mà người ta vu khống, Ngài đáp lại với thái độ khiêm nhường, với một cái nhìn khoan thứ, với nụ cười êm ái; điều xấu xa mà người ta gây ra chỉ là dịp khiến Ngài tra tay giúp đỡ kẻ đã gây tổn hại thôi; Ngài chịu đựng tất cả và tiếp tục con đường mình cách dũng cảm. Không chút nũng nịu với chính mình, người ta có thể thẳng thắn đến với ngài, mà không sợ có thể xúc phạm tới ngài.

Khiêm nhường vẹn toàn.

        Thành thật xác tín rằng Ngài là một “con người bé mọn”, một “tội nhân và không gì hơn nữa”, hoàn toàn bất xứng với những hồng ân mà Thiên Chúa tuôn tràn trên Ngài (tác phẩm quyển 1, trang 119.142), Ngài thẩm định là mình rất thấp hèn giữa bao khiếm khuyết.

        Ngài không bao giờ lượng định các nhân đức mình cũng như những gì Ngài làm cho Thiên Chúa Ngài không hề bao giờ tìm cách biện minh cho những điều làm phát sinh quá dễ dàng trên đường đời. Nếu Ngài có làm việc đền tội, không là để khoe khoang, thì Ngài không hề nói ra; hầu như Ngài chính mình quên đi những gì to lớn mà Ngài thực hiện bởi vì con mắt Ngài hướng chặt vào Chúa; Ngài không quên lãng những hồng ân của Thiên Chúa, nhưng qui về cho tác giả của chúng. Tay trái Ngài không biết việc tay phải làm; nếu có lần Ngài đã kể cho một tâm hồn nghe, đặc biệt cho thánh Gioan Chantal, về một số ân huệ Thiên Chúa ban, một vài điều gì thuộc linh hồn Ngài, thì với vẻ đơn sơ, dẹp bỏ thật xa mọi thứ âu lo, mọi thứ hình bóng giả dối; Ngài không thách thức để làm gương, nhưng gương lành của Ngài hướng về Thiên Chúa và về nhân đức Ngài không hay biết: tia sáng đến từ ánh sáng, do từ ánh sáng, không cần phải khơi nó lên.

Đức ái đã chiếm đoạt tất cả.

Cảnh tự do vương giả của tâm hồn này, không gì trói buộc, không gì gây chướng ngại khiến Ngài không bay thẳng về với Thiên Chúa. Ở đây không phải là ngoan cố theo nghĩa đen của từ ngữ ” tôi không nghĩ rằng, tình cảm, các ý kiến, lợi ích của tôi phải dùng làm mẫu mực cho con người trên trần thế này và đặc biệt là cho các bạn hữu của tôi” (tác phẩm quyển 15, trang 94; quyển 19, trang 343). Không phải ước muốn được người ta nhận biết theo thực trạng Ngài có trước mặt Thiên Chúa, cũng không phải buồn sầu vì bị hạ giá hay không được biết đến; cũng không phải lòng yêu thương ích kỷ, cũng không ước ao lôi kéo kẻ khác về với mình, cũng không kích thích lợi lộc, cũng không phải những dự án, cũng không phải những ước ao hối thúc, cũng không phải một thứ hối tiếc nào. Không có gì dưới thế này có thể tóm bắt được Ngài. Tâm hồn Ngài đã thoát khỏi bận tâm có tính cách thái quá. Không gì ngoài Thiên Chúa, vinh quang của Người, gắn bó vào ý muốn Người.

        Lửa nhiệt tâm các linh hồn xâm chiếm Ngài liên lỉ, chiếm đoạt Ngài hoàn toàn, không gây tổn hại cho sự tự do nội tâm. Giàu sang và của cải thế gian này đều xa lạ với Ngài, và Ngài phó thác cho Thiên Chúa. Ngài yêu mến bạn hữu và bà con mình cách sâu xa êm ái, thần thiêng, bởi vì trái tim Ngài đã được thần hóa; Ngài làm lành cho họ, lo lắng đến công việc của họ, ngay cả những công việc vật chất, nhưng không hề bị chúng giam hãm, cầm buộc.

        Đức ái đã chiếm đoạt tất cả: Ngài làm tôi cho đức ái và việc nô dịch này làm Ngài nên cao sang “Mặc dầu những kẻ tôi yêu đều chết cả, nhưng điều mà tôi yêu chủ yếu là bất tử trong họ”, cũng thế “một đặc tính của tình yêu bạn mà Trời cao tác động trong ta là không bao giờ bị hư hoại, nguồn mạch phát sinh ra chúng càng hơn thế nữa”.

        Không mảy may gắn bó với một công việc nào, với một thứ thao luyện, với một trật tự bên ngoài nào, với khuôn mẫu: Khi một lý do nào cao cả hơn mời gọi, thì với sự đơn sơ đức ái, Ngài sẽ rũ bỏ, chỉ còn vinh danh Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn trước mắt.

        Không một mối lo ngại nào thái quá trừ sự thiện duy nhất khẩn thiết, bởi vì Ngài đã được trao ban tất cả. Không gì là hung hăng, cũng chẳng có gì là kịch liệt; không gì hối thúc, cũng chẳng có gì xáo động, nhưng là trao phó trọn vẹn phẩm hạnh mình hiện tại cũng như tương lai cho Thiên Chúa. Việc nhận ra các khiếm khuyết có thể vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Ngài cũng chẳng gây thiệt hại gì đến sự tự do của Ngài ở trong bàn tay phụ tử của Thiên Chúa “là Đấng đưa tay nâng đỡ những ai sa ngã mà vẫn thành tâm” (tác phẩm, quyển 16, trang 136).

Sự vững vàng êm ái tinh thần.

        Như vậy, vì ngẫu nhiên mà vị thánh không biết đến việc phấn đấu giao tranh thì sao? Thật ảo tưởng biết bao khi tin như vậy. Điều đó đã làm cho Đức Giêsu phải nói dối khi chính Người đã tuyên bố rằng chỉ những “ai tự chế, mới có được vương quốc”. Con người, dầu được bản tính tự nhiên hậu đãi, thì khi sinh ra cũng đã chẳng tốt lành gì, và mọi sự thánh thiện khi được nhìn cho tỏ tường, nghĩa là không phải bằng những cặp kính hồng, nhưng bằng đôi mắt bình thường, thì lại xuất hiện như là hậu quả của một cuộc chinh phục.

        Thật thế, mọi sự đâu phải là chuyện hoang đường, dầu cho Linh mục Bremond có suy nghĩ thế nào đi chăng nữa, trong bức họa cổ điển chúng ta nghe trình bày Phanxicô Salê như là “một người tự chế được biến đổi cách anh hùng thành một phép lạ của lòng nhân ái” (Bremond, lịch sử tình cảm tôn giáo, I, trang 75). Tự chế: có lẽ trong trường hợp này, từ ngữ được dùng với đôi ba nét thái quá. Nhưng nếu không tự chế, thì Phanxicô đã không vô cảm. Những người hiền lành không nhất thiết phải là những kẻ ơ hờ và những kẻ dịu hiền lại là những kẻ rất sẵn sàng rung cảm. Hình như đây là trường hợp vị thánh của chúng ta. Quả vậy ta đang ở trong tình huống đó.

        Phải chăng sự kiện sau đây không phải là bằng chứng cho ta thấy sự chịu đựng ngoạn mục và tự chủ biết kìm hãm thần kinh hay sao. Khi còn bé, cậu đã vào nhà bếp lâu dài dù có sự cấm đoán tỏ tường của cha mẹ. Người đầu bếp đặt miếng bánh thịt băm nóng hổi vừa mới ra khỏi lò vào lòng bàn tay cậu, cậu đã kỹ càng dấu kín vết bỏng do miếng bánh quá nóng gây ra để tránh cho mình và người làm bếp khỏi bị quở mắng. Một trong những người đã chép và cuộc đời Ngài đã viết để giải thích sự kiện đó như sau: “Như vậy, việc xảy ra đơn sơ chứng tỏ cho thấy một đứa trẻ nghị lực, làm chủ được thần kinh và nước mắt. Người can đảm bình tĩnh này được nâng lên tình trạng siêu nhiên, là chính thể thức sự thánh thiện tương lai của Ngài” (Trochu: Thánh Phanxicô Salê, trang 58).

        Sau này chàng sinh viên trẻ tuổi đã quá hăng say, không ngần ngại rút kiếm ra đánh trả từ cuộc tấn công từ phía một vài người bạn xấc xược; hơn thế nữa, khi nhìn thấy người anh em họ của mình là Gaspard Salê bị phạt đòn, cậu đã tỏ lòng thương hại và xin phép được lãnh nhận hình phạt thay cho người đó; sau này có một người đàn bà tục tĩu thăm hỏi, Ngài đã dùng bạo lực thánh thiện mà đuổi đi.

        Không phải Ngài đã luôn luôn để cho người ta xén lông như một con chiên, chắc chắn là không. Ngài biết đúng thời đúng buổi bảo vệ những quyền lợi mình cách nghị lực chống lại những hành vi bất kính do các hiệp sĩ Maurice và Lagiarô gây ra. Vào buổi ban đầu, các tu sĩ dòng thăm viếng, đặc biệt là thánh Chantal đã niều lần chứng minh rằng, đứng trước một điều thiếu xót, ngay cả những điều nhẹ, Ngài cũng bị cảm kích khiến phải nổi nóng quá lẹ làm cho các bà Dòng thấy mà khủng khiếp (xem Francis Vincente, thánh Phanxicô Salê, vị linh hướng, 1932, trang 20-22).

        Khi linh mục De la Rivière mô tả cho chúng ta thấy Ngài giận dữ quá dễ dàng, cũng như những người khác thuộc gia tộc ngài, thì vị linh mục đã không phóng đại gì cả, ta thấy Ngài quả là như vậy. Thật thế, suốt đời Phanxicô Salê sẽ còn phải chiến đấu với những cám dỗ về tính bất kiên quá nặng nề đối với ngài. Ngài đã chiến thắng cách hoàn toàn đến nỗi những người quen biết Ngài đã tố cáo Ngài là nhu nhược.

        Habemus confitentem reum… Ngài đã chẳng nói mình đã phải trải qua nhiều năm để chiến đấu chống lại bản tính nông nổi của mình và Ngài đã phải nỗ lực rất nhiều để trở nên ôn hòa hay sao? Lời thú nhận khiêm nhu nhún nhường quá! có lẽ người ta sẽ nói như thế, như thường xảy ra nơi nhiều vị thánh. Nếu quả thật sự việc là như thế thì đó vẫn là một bằng chứng lớn lao vô cùng. Điều quá hiển nhiên, vị thiên thần dịu hiền cũng là bạo lực của những sản phẩm Phúc âm này, mà không có nó những ai tự nhiên là tốt cũng luôn là những khu đất hoang. Linh mục De la Rivière, vị chép tiểu sử Ngài còn nói cho chúng ta thấy rằng : ”Sự việc xảy ra là do một ơn đặc biệt Thiên Chúa tốt lành trao ban mà những ơn tự nhiên nơi Ngài đã trở thành các nhân đức”.

        Đàng khác, nếu người ta nghĩ rằng thân xác phản ảnh tâm hồn, vậy để chứng minh chúng ta chỉ cần đưa mắt nhìn bức họa đích thật của vị thánh trong giây lát- bức họa ở Torino vào năm 1618, theo vết nhăn ở môi và khóe nhìn dịu hiền có in đậm nét cứng rắn mà nơi đây, linh hồn làm chủ được thân xác làm nó nên sống động.

Một bậc thầy nghị lực.

        Thêm vào đó , nếu cần thì chính Ngài hướng dẫn, điều này củng cố cho lời ta xác quyết. Thật thế, xét tổng quát, nếu đích thật việc hướng dẫn là hình ảnh của Người thực hành thì việc hướng dẫn của Phanxicô Salê chắc chắn biểu lộ bậc thầy nghị lực, chứ không phải một người hiền lành quá và là một người ngọt ngào. Ở trong mọi trang giấy mà Ngài đã viết khi trao đổi thư từ. Người ta đều thấy lời mời gọi phải sống dũng cảm. Năm 1620 Ngài viết cho bà Chantal: “Cha thích những tân hồn tự lập, mạnh mẽ, họ không là thứ đàn bà yếu ớt”. Chắc chắn bà thuộc về con số này. Ngài luôn luôn muốn nhận rõ sự chân thật khi đối diện với những khó khăn chứ không phải là lời an ủi. “Không bao giờ chúng ta có được đức ái trọn hảo nếu không được thi hành giữa gớm ghét, tỵ hiềm và chán ngán. Sự bình an thật không hệ tại sự kiện không có giao tranh, nhưng là chiến thắng. Cần phải đưa óc não con đặt vào gai góc khó khăn và để cho lưỡi đòng phản đối đâm thủng trái tim con, nuốt mật đắng và uống dấm chua, ăn cây khổ ngải và dầu trầm”. Ngài đã mong ước có thể nhổ khỏi bà mọi thứ âu yếm, muốn tránh né chống đối, những khuyết phạm mà người ta thường nuông chiều.

        Nhưng, về toàn bộ thái độ Ngài tỏ ra vững trí bền lòng, thì Phanxicô Salê không muốn tỏ lộ một tí gì cho người ngoài thấy, cũng giống như một văn sĩ nhà nòi sẽ cho mình là sa sút, nếu có những vết gạch bỏ lem luốc trên bản thảo quyết định của ông.

        Để cho được chân thật, thì nhân đức phải được tự “nhân bản hóa nơi những người thân cận và được phát triển thành nụ cười duyên. Ngài viết cho bà Limojon : “Cha không muốn có một lòng sủng ái kỳ dị, rắc rối, sầu não, cáu kỉnh, phiền muộn, nhưng là một lòng hiếu thảo rất mực dịu dàng, êm ái, dễ chịu, ôn hòa và vỏn vẹn trong một tiếng là một lòng hiền thảo hoàn toàn thẳng thắn và làm sao trước hết với Thiên Chúa đáng yêu mến và rồi với hết mọi người”.

Sợ hãi đầy tình mến.

        Đàng này, nếu từ ngữ “tình yêu” thường hay trở lại nhiều lần hơn từ ngữ sợ hãi; điều này không thể nghi ngờ được- thì ta chớ vội tin rằng tình yêu khai trừ sợ hãi, như là một điều vô ích và nguy hiểm trong khung trời cuộc sống Kytô giáo. Ngài đã chẳng tuyên bố mạnh mẽ trong một bài giảng là Giáo hội truyền cho ta đọc trong sách phụng vụ giờ kinh vào lễ thánh Magarita Maria, người cổ súy tình yêu thần linh hay sao? Ngài nói: “Chúa chúng ta mang lấy những nỗi khốn khổ của ta, và làm cho chúng ta nên cao thượng; Người dặt nỗi thống khổ của ta sát nơi Trái Tim Người, tỏ cạnh sườn Người cho ta. Nhưng đến lượt ta, ta phải đáp trả tình yêu mến Người. Bằng không, Người là Đấng đã tỏ cho chúng ta thấy những vết thương của Người vì yêu ta, thì cũng sẽ chỉ cho ta những vết thương đó, nhưng với cơn thịnh nộ và giận dữ. Ôi lạy Chúa Giêsu tốt lành, xin làm cho chúng con nhận lãnh được sự bình an này mà Ngài trao ban và cho chúng con suy ngắm những vết thương Chúa để bao lâu đức tin, đức cậy và đức mến còn tồn tại, bởi được đâm rễ trong đức tin, vui tươi trong đức cậy, nhiệt tình trong đức ái, thì chúng con hằng mong đợi ngày hồng phúc và việc Chúa ngự đến. Từ đó chúng con có thể nhìn thấy Con Chiên ở bên hữu, chứ không phải sư tử ở bên trái…”

        Trong thực hành, với trực giác thánh thiện của mình. Ngài đem ra áp dụng, pha chế liều lượng tùy theo nhu cầu các linh hồn và tùy theo khung cảnh, khi thì sợ hãi, khi thì tình yêu. Ngài viết cho bà Chantal ngày 6 tháng 8-1606 : “Cha xin con đừng sợ Thiên Chúa, bởi vì Người không muốn gây hại cho ta. Hãy yêu mến Người tha thiết, bởi vì Người muốn ta làm nhiều sự lành…” và ngày 29/01/1609, Ngài cũng viết cho bà: “Con cần phải để cho tinh thần phong lưu và dễ dàng với Chúa-chúng  ta hơn một chút.”.

        Sợ hãi đầy tình mến: đó là văn thức của Ngài. “Ta chỉ sợ Thiên Chúa thôi và còn hơn thế nữa, một sự sợ hãi đầy tình mến” (Tác phẩm, quyển 13, trang 125,221). Gởi một cô quá sợ hãi và sự chết hành hạ, Ngài khuyên: “Thông thường hãy dùng một lòng phó thác thánh thiện mà nâng tâm hồn lên” và chiến thắng bằng một tình yêu phúc thật vĩnh cửu, càng ngày càng to lớn hơn : “Con đừng đọc những sách này và những sách nói về sự chết, phán xét và hỏa ngục, bởi lẽ nhờ ơn Thiên Chúa, con đã quyết chí vững chắc sống đời Kytô hữu và con không cần thúc đẩy mình bằng những động lực sợ hãi và kinh hoàng”. Đối với cô ta, điều tốt nhất là tập “làm quen”- từ ngữ này phải chăng đã quá tuyệt vời! – với Đức Bà, các Thánh và các Thiên Thần trên trời.

        Nhưng đó là nói đến những linh hồn ưu tuyển, ăn rễ sâu, sống nghiêm chỉnh cuộc đời Kytô hữu. Ngài khuyên bà Chantal về người con gái đầu của bà: “Còn về cô Aimée của chúng ta, vì muốn ở trong giông tố và phong ba trần gian. Vấn đề là cần phải đảm bảo sao cho cô ta được vững vàng trong nhân đức chân chính và lòng đạo, với một sự chăm sóc kỹ càng gấp trăm gấp bội; cần phải trang bị cho thuyền cô ta vững chắc hơn nhiều để chống lại gió và cuồng phong; cần phải chôn sâu trong tâm trí cô ta lòng sợ hãi thật đối với Thiên Chúa và nâng hồn cô lên bằng những việc tập luyện sùng kính thánh thiện”. Mong sao mọi người nên đọc lại cuốn Dẫn vào Đời sống Sủng Ái, thì sẽ biết rõ ràng rằng mặc dù những lời vị Giám mục đáng yêu đáng mến khuyên có đầy vẻ êm ái tuyệt vời đến thế nào đi chăng nữa, thì chúng cũng không chứa ít đi sức mạnh chủ yếu là linh hồn của chính Tin mừng.

        Phải chăng Ngài nhắm trả lời cho chủ tịch Frémiot, cha của bà Chantal, người hỏi Ngài cho biết cách dọn mình chết làm sao. Ngài không dấu diếm ông về sự kiện là, hễ đã sống trong thế gian, dầu là thánh thiện mấy đi nữa cũng không phải là không làm cho linh hồn mình ra lu mờ đi chút nào đâu “cho dầu một con ngựa có can đảm mạnh mẽ thế nào đi chăng nữa,, thì khi trên vết chân và dáng đi của cho sói, thì cũng sẽ bị tê cóng và hụt bước. Đây là chuyện không thể được vì đang khi sống trên trần gian, dầu ta chỉ tiếp xúc với đất qua bàn chân mà thôi thì cũng không thể không bị vướng bụi của nó”. Kết quả toàn bộ công việc tiết giảm dần dần như vậy sẽ buộc những kẻ nào muốn rút tỉa vẻ đẹp từ đó mà ra phải chấp nhận. “Cần phải thư thái vĩnh biệt trần gian và rút bỏ dần dần những tình yêu tạo vật. Cây cối bị gió thổi bật rễ không còn thích hợp để đem đi trồng lại, bởi vì chúng đã bỏ xót rễ lại trong lòng đất, nhưng ai muốn mang chúng đến một mảnh đất khác, thì phải khéo léo dần dà gỡ đi từng rễ một; và vì từ miền đất khốn nạn này, chúng ta phải được bứng đi trồng vào nơi miền đất kẻ sống thì chúng ta cần phải rút bỏ và tháo gỡ tình cảm chúng ta từng phút một khỏi thế gian này. Cha không nói là phải thô kệch hủy bỏ mọi khế ước đã ký kết,- cần phải liều lĩnh nỗ lực làm chuyện đó- nhưng phải tháo cởi và gỡ nút. Thật vậy, linh đạo của Phanxicô Salê , không có chút gì là “đàn bà yếu ớt, liễu đào tơ”.

Ngoài việc tự chủ ra.

        Nhưng mỗi vị thánh đều có cách thế riêng biệt để lướt thắng mình. Phanxicô Salê đã liên tục chiến thắng tính tự nhiên nóng nảy và dễ cảm, cũng như tính sôi sục dễ dàng bốc cháy- và đó là điểm đặc sắc của Ngài- nhờ nhìn lên Thiên Chúa, nhìn lên Đức Kitô, nhờ nâng hồn lên Thiên Chúa hơn là bằng cách chiến đấu trực tiếp. Không một chút gì thô bạo. Sự tỉnh thức của Ngài không phải là sự kiểm soát câu nệ và ức chế, nhưng là cái nhìn mới mẻ tự nhận ra chính mình đối diện với Thiên Chúa, là Đấng duy nhất sống trong Ngài mà thôi. Từ đó, một sự chăm sóc ân cần, nhưng bình tĩnh và êm ái xuất hiện, không tách rời khỏi ý muốn thần linh trong những diễn tiến bên ngoài, và nhất là và trên hết trong nội tâm Ngài: sự phục tùng này liên lỉ và nếu như đội khi có những cuộc khởi loạn của cái tôi, thì lại được canh tân gắn bó với thánh ý ấy; khi cần thiết liền điều chỉnh nhẹ nhàng, thanh luyện quyết định sâu xa trong tình yêu.

        Chính những việc ngoài ý muốn liên tục hằng phân cách thời gian của Ngài, nhắc nhở đưa Ngài về lại với nội tâm. Nhờ đó thân xác Ngài no thỏa và linh hồn chắc chắn không khỏi mệt nhọc. Chẳng hạn vào những chuyến kinh lý mục vụ, Ngài thú nhận với bà nam tước Chantal: “Nếu không cỡi ngựa hay phải thức dậy ban đêm, thì cha chẳng thích nghĩ gì đến cha và cân nhắc lối sinh hoạt của lòng cha…. Mỗi buổi tối, khi lui về phòng, cha không thể cử động được tay chân, trí khôn, vì nó mệt mỏi đủ mọi thứ việc; và ban sáng cha lại càng sung sướng hơn bao giờ hết” (Tác phẩm, quyển 13, trang 125,221). Thứ kiệt sức này, đôi khi làm cho Ngài liều lĩnh không còn “gì là thứ tự, liều lượng, lý trí”. Cũng vậy, khi đã hồi sức, linh hồn Ngài “quá còm cõi và méo mó đến như ra chết vậy”. Và lý trí: “Cha tin chắc là suốt bốn hay năm tháng liền, nó không có được một giây phút hít thở” (như trên, trang 221,223).

        Ngài biết đến những lần Thiên Chúa từ bỏ. “Cha đã chịu cảnh khô khan và bỏ rơi kinh khủng, tuy nhiên chỉ trong một thời gian vắn, bởi vì Thiên Chúa của cha thật hiền từ đến nỗi Ngài không đi qua mà không dụ dỗ cha để rồi lại chiếm đoạt cha” (như trên, trang 125,221). Vào những lúc đó, tâm hồn Ngài “còn khô cháy hơn cả sa mạc”, mặc dầu có “một tình cảm bé nhỏ, vô cảm nào đó không còn sống theo tính tự nhiên, nhưng là theo đức tin, đức cậy và đức mến” (Quyển 18, trang 395). Ngài thú nhận với bà Chantal rằng quỷ hỏa ngục “khắp nơi…tìm tòi và gây hỗn loạn để xem có tìm ra được một cánh cửa nào hé mở nữa hay không”, đôi khi nó theo dõi Ngài bằng những lời xúi dục. “Tay thợ rèn xảo quyệt với những chuyện như thế” đã làm như vậy cho một vài vị thánh “và cho vô số linh hồn tốt lành mà cha thấy được và ngay cho linh hồn cha nữa… nó không đáng giá gì cả và cha không quen biết” (quyển 18, trang 9). Vào cái ngày như vậy, sau hai tháng được “ngọt ngào”, mặc dầu “những hoạn nạn lớn bé liên lỉ”, tinh thần Ngài vẫn còn bị phủ đầy mây mù. Quả thật, sáng hôm sau, Ngài cử hành thánh lễ và “mọi sự lại yên ắng và sáng sủa” ngay (như trên, trang 83). Có lúc Ngài run sợ khi nhìn thấy thánh giá. “Xác thịt cha run rẩy, nhưng trái tim cha tôn thờ” (như trên, trang 113). Đôi khi, “lo ngại về một công chuyện không đáng suy tính gì cả”, nhưng nó lại làm Ngài ”mất hai giờ ngủ ngon giấc. Sau đó, cha cảm thấy mình được yên ủi vì biết và cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa ban cho cha từ chính mình cha” (như trên, trang 318). Ý chí Ngài đôi khi cảm thấy bất lực, “cả ngày hôm qua, ý chí cha thật bất lực đến độ cha tin chắc là một con ghẻ cũng hạ thủ được” (như trên, trang 82). Như vậy Ngài đã làm chủ được những biến động đầu tiên là nhờ những nỗ lực được nâng đỡ.

        Trong một vài hoàn cảnh nào đó, hình như Ngài đã bị luồng giá kiêu ngạo lay chuyển. Ngài kêu lớn tiếng: “Ôi lạy Chúa, xin cứu con; xin Ngài truyền lệnh cho những luồng gió hư không này và yên tĩnh tư bề sẽ hiển trị” (Tác phẩm, quyển 12, trang 323). Phanxicô Salê đã chiếm đoạt được vẻ êm ái bất biến với võ lực. Một ngày kia, Ngài nói với Đức Tổng Giám mục Bourges: “Không cần phải chứng giám nỗi bất bình” trên tòa giảng nếu “có thể được, nhưng ít ra là không nổi giận như con đã xử sự vào ngày lễ Đức Bà ở Dijion, “khi con chưa giảng xong thì người ta đã đánh chuông. Thật vậy đó là lỗi của một vài người” (Quyển 14, trang 105). Và vào năm 1617, khi những kẻ ngạo mạn cầm búa chống lại việc xây cất Đan viện Dòng Thăm viếng, vị sáng lập được mời ra chứng kiến tại chỗ, đã thú nhận với một người bạn: “Thật sự bị cảm kích, nhưng tôi vẫn còn kìm giữ được toàn vẹn và tôi thú nhận sự yếu đuối của tôi cho Mẹ” (Tác phẩm, quyển 11, trang 126).

        Những lời thổ lộ thật quý giá. Chúng minh chứng được Phanxicô Salê chỉ làm chủ được những biến động đầu tiên của Ngài với giá những nỗ lực của một ý chí đại cảm, và một sức đối kháng anh hùng.

Nét quân bình thanh tao.

        Tay trong tay, Ngài có được một nét quân bình trong toàn thể nội tâm. Không một chút nào thái quá, nhưng trong thứ chừng mực là hậu quả của việc làm chủ các dục vọng và khuynh hướng của mình. Một khi những điều này đã được tình yêu thần linh thống trị, thì mọi sự trong Ngài đều quy phục quyền bính tối thượng của Thiên Chúa. Từ đó, không có gì là kỳ cục, hư ảo, quá đáng, phiếm diện, nhưng là khôn ngoan, dè dặt và quân bình. Không còn gì đáng khâm phục hơn thứ cảm quan về thực tại, khít khao, phán đoán sắc sảo, vững vàng êm ái mà khôn khéo, được nối kết vào những nét sắc sảo của linh hồn Ngài trong Thiên Chúa.

        Đó chính là vì tính thận trọng mang sắc thái siêu nhiên của ngài. Lương tri minh mẫn, tầm nhìn rộng rãi, ý thức mình có trách nhiệm lo lắng đến Thần khí nhủ bảo, Đấng hướng dẫn Ngài với sức mạnh và êm dịu, gìn giữ và hướng thượng những đặc tính quý phái. Chẳng lẽ Ngài lại không biết đến những tính toán và âm mưu mang tính chất thận trọng nhân loại. Việc Ngài từ bỏ hoàn toàn không hề làm hại gì đến nỗi bận tâm luôn thức tỉnh của ngài; đức ái rung cảm với tất cả mọi thớ thịt của các tấm lòng mà hậu quả là một trí khôn ít được soi sáng có thể tin rằng đó là những cách thế ân cần, vừa uyển chuyển vừa bén nhạy lo lắng tỏ thái độ “hạ mình” của nhân loại trong lúc đó, chúng chỉ là tự do nội tâm được nối kết với lòng nhiệt thành đối với các linh hồn. Ngài được tắm gội trong bầu khí thần linh, như bị mất hút trong Thiên Chúa và đồng thời Ngài chuyển động dễ dàng trong những điều bất tất nơi các linh hồn ở thế giới này. Ngài để mắt đến những điều nhỏ nhất đến những điều lớn lao nhất; Ngài biết rõ mọi thứ cách sâu sắc; không có gì thoát khỏi sự trông nom chăm sóc của ngài. Ngài có cảm thức của trời cao cũng như hạ giới cùng một lúc.

Tất cả cho hết mọi người.

        Đức ái của Ngài quá ân cần, quá chú ý đến mọi nhu cầu vừa quá mạnh mẽ và đồng thời vừa quá êm ái đã mặc lấy trăm ngàn hình thức khác nhau, được đáp ứng cho mọi linh hồn, nhưng luôn được khởi hứng và hướng dẫn bởi tình yêu Thiên Chúa. Ngài đồng cảm biết bao với những linh hồn đã lỗi lầm, mềm yếu. Ngài vui vẻ đến chừng nào khi có thể dẫn đưa các linh hồn về cùng Thiên Chúa, giải hòa con người hoang đàng với cha nó. Ngài sẵn sàng làm mọi việc nặng nhọc, đảm nhận mọi hy sinh để dẫn tới việc đó. Không một sự đau khổ nào được coi là quá; chiến thuật của Ngài không phải là bạo lực cũng không phải là sự hiểu biết, nhưng là nhẫn nại, êm ái và khiêm nhường; Ngài chiếm đoạt các cõi lòng bằng niềm xác tín của lòng tin và sự thu hút của đức ái ngài. Ngài luôn luôn nhắm làm sao đảm bảo cho được hạnh phúc vĩnh cửu của tất cả mọi người: đó là mục đích duy nhất khi Ngài hiến thân.

        Ngài nhìn rõ hơn nhiều người khác trong hành động; Ngài đem ra ánh sáng những khuyết điểm với vẻ sắc sảo nhẹ nhàng và hài hước dịu dàng; Ngài nói sự thật mà không hề giảm thiểu, mà cũng chẳng gây tổn thương, không với vẻ cộc cằn và chua chát. Ngài băng bó các vết thương mà không khai rộng thêm nữa hay làm cho nó thành độc ra; Ngài không lấy làm tức giận vì những yếu đuối; Ngài không chờ đợi người ta thiếu sót, lòng Ngài rộng mở cho hết mọi người.

        Chắc chắn là vì chức vị mục tử của Ngài đôi khi Ngài phải truyền lệnh bảo vệ bênh đỡ cứng rắn, sửa chữa những lạm dụng, nhưng không bao giờ miễn cưỡng có những thái độ ra oai và hách dịch. Ngài không nói cho người khác những lầm lỗi khuyết điểm của người bên cạnh, trừ khi là chúng đã công khai, nhưng luôn luôn với sự êm ái dưới mọi hình thức; nếu Ngài nâng đỡ những lần xét mình và phản tỉnh, cũng như những mơ tưởng hão huyền và sầu muộn, những ước ao vô tích hay hư không, những sợ hãi tưởng tượng cũng như sự vội vã hay những giao động, những dục vọng kích động hay làm giảm suy đi, nếu Ngài thanh luyện những nguyên động lực của ý chí thì Ngài không đè nặng trên những lỗi lầm và khiếm khuyết; đặc biệt mở mắt nhìn đến vẻ đẹp nhân đức, Ngài chủ yếu khám phá ra những chân trời ánh sáng trong cách thế mà lý tưởng và sự thiện luôn chiến thắng sự dữ, không còn dành cho nó một chỗ nào nữa.

        Không hề vô cảm với những bước gian nan và niềm vui của những người mình yêu mến, Ngài chia sẻ với họ cách vô cùng tế nhị và êm ái chân thành nhất, bình tĩnh nhưng dịu dàng dưới tác động thương xót vô biên và thánh thiện vô cùng từ vị Thiên Chúa của ngài, những nét hài hòa biến hóa nhất của sự êm ái đều được hiệp nhất trong trái tim rộng rãi và sâu xa của ngài. Mọi nỗi khốn cùng cũng như mọi nỗi sầu muộn tìm thấy được ở đó nơi nương ẩn, một nơi nương ẩn thật sự là thần thiêng và nhân loại. Nhưng khi Ngài cảm kích với nỗi khổ đau, thì đồng thời Ngài cũng hướng về con đường hy sinh và hạnh phúc vĩnh cửu; không có những cử chỉ cứng cỏi hay hách dịch, không chút gì là thô bạo, nhưng là phản ánh êm đềm của một tâm hồn hoàn toàn trong Thiên Chúa.

Niềm lạc quan được xây dựng trên đức trông cậy.

        Hoa quả cuộc sống hoàn toàn suy phục Thiên Chúa như vậy, hoàn toàn trầm mặc và hoàn toàn mất hút trong Người, là phó thác bền chặt và luôn tỏa sáng, một thứ lạc quan trong mọi bước gian nan, nhưng phát sinh trực tiếp từ nhân đức trông cậy siêu nhiên, ta cần phải ghi nhận rằng nó không có gì ăn nhập với dữ kiện tự nhiên về tính khôi hài, như người ta thường gọi thế. Từ đó tận đáy hữu thể, tự nhiên đã tuôn trào lên vẻ vui tươi hiền hòa được Đấng là niềm vui vô tận soi chiếu. Ở ngay giữa những đắng cay và lừa dối, chống đối và không am tường nhau. Ngài giữ được nét khôi hài thanh tao, nụ cười đáng yêu. Thông thường, Ngài có những câu ứng đối tinh tế; Ngài dùng lối tinh nghịch tươi tắn mà đối xử với những người liên lạc thư từ với ngài, một vẻ hài hòa êm dịu, nhưng không bao giờ với một giọng điệu trào phúng gây tổn thương. Đó chính là sự cay đắng phát sinh từ một nền tảng ích kỷ, trong khi đó, niềm vui con cái Thiên Chúa là đức ái nở hoa.

        Ngài cũng khinh ghét tính buồn bã, phiền muộn. Ngài ước muốn lòng dũng cảm thuận hòa, tin tưởng vui tươi, đức ái dõi sáng. Ngài muốn có một lòng sùng kính đáng yêu, dịu dàng và ôn hòa. Nếu trong thời hoạt động tông đồ ở Chablais, Ngài đã bị cám dỗ nghiêng về tình sầu, thì Ngài đã tu luyện lại mau chóng bằng cách nhìn vào hình ảnh Đức Kitô hay Thánh nữ Đồng trinh, bức ảnh này sẽ in khắc Đức Giêsu Kitô đậm nét hơn vào lòng Ngài (quyển 13, trang 280), hoặc hơn thế nữa bằng cách nhìn chăm chú về quê hương trên trời. Sự phản đối do những người thân thiết nhất trong nhà Ngài gây ra, rồi thêm vào đó, còn có những chuyện bên ngoài. “Điều cha chỉ hành động là tạo cho mình tươi cười khi suy nghĩ đến chuyện đó, sự việc này ít khi xảy ra” (Tác phẩm, quyển 19, trang 382,383).

        Nhưng vì kinh tởm tội lỗi, Ngài phải đau khổ khi biết được chuyện người ta bỏ đạo. Trong lúc đó Ngài viết: “Mặc cho mọi giọt nước biển bên Vương quốc Anh có tràn qua, sẽ chẳng bao giờ dập tắt được nổi những ngọn lửa mến của cha, trong khi mà cha còn có thể, còn có một đôi chút hy vọng” trở về “với Giáo hội và với con đường cứu rỗi vĩnh cửu” (quyển 18, trang 13,15,16).

        Phải chăng cái chết có tước đoạt đi khỏi Ngài một trong những người thân thiết nhất. Ngài đau khổ vì kẻ Ngài yêu phải sầu muộn, nhưng không bao giờ Ngài quay về với Thiên Chúa, khi cảm thấy bị đánh phạt”. Về những gì Thiên Chúa làm, chúng ta không phải nói gì khác ngoài chữ Amen, bởi vì Thiên Chúa tốt lành và thực hiện mọi sự theo lòng nhân từ của ngài” (quyển 30, trang 31).

        Nếu trong suốt thời gian thi hành chức vụ Giám mục, dầu cho chân thật và thẳng thắn, dầu có tốt lành thông cảm và tế nhị, dầu có nhiệt tâm quảng đại, thì Ngài cũng gặp chống đối và thù nghịch, dèm pha và vu khống, khiển trách về phía bạn hữu. Một chuyển động tình yêu nồng nàn hơn đã làm cho niềm vui của Ngài nên kiên cố, phát triển và cứu chữa linh hồn ngài. “Hết phiền muộn vì tội lỗi, niềm vui và yên ủi thánh thiện còn phải được gắn kết vào” (Tác phẩm, quyển 21, trang 140,141).

        Tóm lại, mọi sự trong Ngài là ôn hòa. Sự bình an không phải là điều được muốn trong chính nó, nhưng là hoa quả êm ái rơi rụng từ cây thánh thiện, một thứ hoa trái của Thần Khí và đức ái đã tràn ngập và chiếm cứ toàn vẹn linh hồn. Giờ đây, ta đã hiểu hết được sự bí mật dịu hiền này, qua đó sự thánh thiện cao vời nơi Phanxicô Salê tỏ hiện ra chưa? Thật vậy, nó không còn chút gì mang tính cách nhân loại nữa, nhưng được bén rễ cạnh bên Thiên Chúa.

        “Lý trí vững vàng và rực sáng, phán đoán thấu suốt, thẳng thắn, nhưng đã được hòa dịu bằng một lòng khoan thứ tươi tắn, tính ôn hậu sắc sảo được nối kết một cách thích đáng với tình trạng siêu quần bạt chúng nơi một nhà quý tộc và vị giám chức, lòng trung thành với nơi chôn rau cắt rốn, nhiệt tâm với gia đình, lòng dịu hiền bất diệt trong tình bằng hữu, niềm kiêu hãnh hợp lý về tên và nòi giống, yêu Thiên Chúa và các linh hồn vô bờ bến, ân sủng tròn đầy đã làm cho toàn bộ được sống động và thánh hóa; tắt một lời, một gương mẫu hiếm có và kỳ diệu của nền nhân bản và sự thánh thiện”. Đó là Phanxicô Salê với khuôn mặt thật và chính thực của ngài.

NHÂN DỊP LỄ THÁNH PHANXICÔ SALÊ, 

ĐỨC THÁNH CHA PHAOLÔ VI NÓI VỚI HIỆP HỘI BÁO CHÍ CÔNG GIÁO ITALIA.

Trích báo Losservatore Romano,

bản Pháp văn ngày 04/2/1966.

        Chúng ta cùng nhau mừng lễ thánh bảo trợ cho hiệp hội các con: Thánh Phanxicô Salê. Trước hết, ta phải có một vài suy tư khi nhớ lại và tôn sùng vị thánh này. Ta hãy tỏ lòng sùng kính sốt sắng đối với khuôn mặt vô cùng vĩ đại về sự thánh thiện công giáo: Vị giảng thuyết, nhà tranh luận, nhà truyền giáo, Giám mục, văn sĩ, tiến sĩ, vị linh hướng, Đấng sáng lập Dòng Thăm viếng, một trong những vị thánh chói ngời nhất qua gương mẫu, giáo thuyết, cử chỉ, lời nói, việc trao đổi thư từ, tình bạn hữu. Hình như một vài nét có thể định nghĩa Ngài: đức tin và lòng hiền thảo, con người đích thật của Thiên Chúa, sự êm ái trang trọng, êm đềm, gây say mê; lòng nhiệt thành không mỏi mệt đối với mọi người, đối với từng linh hồn cách riêng; nhà vô địch của công giáo đối đầu với học thuyết Calvin, với thế giới hư vô, kiêu ngạo, hiếu chiến, say mê vẻ quí phái bên ngoài vào đầu thế kỷ 17; Ngài như nổi bật lên, tốt lành, trầm tĩnh, khôn ngoan, hoàn hảo. Ít có người đã gợi lên cảnh sống động của Đức Kitô như ngài. Chúng ta hãy hiểu biết ngài, sùng kính ngài, kêu cầu ngài. Bởi vì Phanxicô Salê được công bố là Đấng Bảo trợ các văn sĩ và nhà báo, và đặc biệt là báo chí công giáo, cho nên là điều công bằng khi tìm kiếm nơi Ngài những tước hiệu nói lên mối quan hệ thiêng liêng với nghề nghiệp của các con. Như chúng tôi đã nói, Ngài là văn sĩ; người tiên phong trong ngành báo chí do sự tình cờ, định kỳ, trong báo chí được quan niệm như là cuộc đối thoại với độc giả, nhanh gọn và đạt được những mục đích tông đồ hướng dẫn; trong báo chí- vật truyền bá tư tưởng, như lời muốn được nghe và thâm nhập vào các linh hồn; nhà cổ võ một lối rao giảng bằng ấn loát, với đặc điểm sau đây. Lối rao giảng này tồn tại và không kín múc đi mất sự bén nhạy của việc thuyết phục trong lúc mà lời được công bố ra; và ngoài ra, nó còn được nhân lên vô hạn, gây lên bao âm vang tùy theo số lượng bản in mà lời này vang vọng vào, và đó là do ý hướng ngấm ngầm và nổi bật muốn tự truyền bá. Đó chính là chuyện báo chí được in ra, đó là báo giới của các con.

        Ở đây, người ta có thể vào sâu trong lối suy tư bằng cách tìm ra đâu là những khía cạnh tu đức mà mối tương quan có giữa Đấng Bảo trợ thánh thiện và những người được Ngài bảo trợ trình bày y như chúng cho thấy, rút tỉa ra từ Ngài những gương mẫu và những quy tắc xây dựng, có khả năng tạo nên một bài học đạo đức chắc chắn và thiêng liêng đặc thù, thích hợp đưa một nghề trần tục đến một việc thi hành sự thánh thiện cá nhân và chứng tá Kitô hữu; trong một mối tương quan như thế, những khía cạnh tu đức này cũng đi tìm kiếm những nẻo đường hiền thảo và phó thác, nhờ đó có sự kêu cầu Ngài cách đặc biệt, đó là sự kêu cầu người được bảo trợ có dịp mở rộng lòng mình ra và khấn xin một ân huệ. Mỗi người trong các con sẽ làm tất cả các điều đó, ai nấy đều lo cho mình, và mọi người lại cùng nhau thi hành cho hiệp hội, nghề nghiệp của các con và cho toàn thể ngành nghề xuất bản đang càng ngày càng đông đảo và quan trọng. Cùng với các con và cho các con. Chúng tôi sẽ kêu cầu một Đấng thánh luôn tỏ ra quá sẵn sàng đáp trả ngay từ trời cao bằng việc tuôn đổ lòng tốt và sự khôn ngoan cách rộng rãi và đáng yêu, sự khôn ngoan đó vốn là đặc tính của Ngài trong mối tương giao trần thế này.

        Luồng khí linh đạo này là điều đang làm cho cuộc gặp gỡ vào lúc này được phấn khởi vui tươi là điều rất thuận tiện để duyệt xét những câu hỏi thực tiễn mà một đàng sẽ liên quan đến hiệp hội các con và đàng khác đến báo chí Công giáo trong việc phục vụ mà các con hiến thân để thi hành. Hiệp hội đang ra sao ? Có còn sống động, có hiệu lực không? Nó còn cầm ngọn lửa lý tưởng tông đồ báo chí Công giáo được cháy sáng nơi mỗi một người trong các con, ngọn lửa này phải đốt cháy nghề nghiệp của các con bằng ánh sáng và sức nóng của nó không? Nó có thành công trong việc trao ban cho các phần tử cái ý thức tạo nên tư chất cho nghề nghiệp và tiếp tục tái nạp những nguồn năng lượng cần thiết để cho công việc các con có được một hồn sống bao la không? Hiệp hội có làm cho các con hợp nhất với nhau và với những người khác ở toàn Italia, toàn Châu Âu, toàn thế giới không? Nó có làm cho các con được tăng thêm con số , thêm niềm hy vọng, thêm sáng kiến không? các con là người phải trả lời, và trả lời có nghĩa là lấy lại can đảm và quyết tâm đối với mọi tiến bộ, những việc phát triển cho nên tốt đẹp hơn, là đích mà hội các con có thể hướng về, mặc dầu hội này có bé nhỏ nhưng lại có giá trị và được hiểu biết rõ ràng.

        Và còn về phần báo chí Công giáo! Vấn đề lớn luôn luôn tái xuất hiện, luôn luôn hiện thực, và luôn luôn có đầy khó khăn to lớn và ngày càng trở nên to lớn hơn, cũng như cũng ứ đầy những bổn phận to lớn và ngày càng trở nên to lớn hơn. Chúng tôi biết rằng các con nắm bắt được tính trầm trọng và khẩn cấp và các con lãnh chịu những nỗi sầu khổ, lưỡng lự, chướng ngại. Một bài báo được tờ Revista del Clero Italiano xuất bản tháng 12 vừa qua dưới chữ ký của Đức Cha Giuseppe Amici, Tổng Giám mục Modena, chủ tịch uỷ ban Giám mục Italia về những phương tiện truyền thông xã hội, diễn tả khá rõ vấn đề báo hằng ngày Công giáo ở Italia, và chúng tôi hy vọng rằng sau khi đã nghiệm xét rõ ràng và có đủ thẩm quyền như vậy về những điều kiện của báo chí Công giáo Italia, thì việc bàn cãi về vấn đề khó khăn sẽ được tái hồi sinh khí, và dưới sự bảo trợ của hàng Giám mục, thì những sức mạnh Công giáo, đặc biệt là sức mạnh hàng giáo dân sẽ biết cách tìm ra một giải đáp thỏa đáng cho vấn đề. Đây sẽ không phải là điều dễ dàng, cho nên, chúng tôi khuyến khích các con, những nhà xuất bản Công giáo, càng đóng góp, giúp đỡ qua kinh nghiệm, lời khuyên, lòng hy sinh của mình cho giải pháp này, Vậy xin các con hãy chấp nhận cho Chúng tôi được cổ võ các con kiên nhẫn thật nhiều, bền chí hăng hái, hy vọng mới mẻ. Chớ gì những nhân đức này, vốn khẩn thiết để làm cho báo chí Công giáo có khả năng vượt thắng hoàn cảnh hiện tại, một hoàn cảnh khó khăn và không mấy thỏa mãn, sẽ là những hồng ân mà Chúng tôi cầu xin Đấng Bảo trợ của các con nhân ngày lễ năm nay, là ngày lễ của các con.

        Như vậy, Chúng tôi cũng lợi dụng cơ hội có ở đây để cám ơn các con về công việc các con đã làm. báo chí Công giáo quả thật đã chuyên tâm phục vụ thông tin đắc lực, đào luyện, biện hộ chân lý, dạy vẽ dư luận quần chúng, đem lương tâm Công giáo đặt vào như là hệ thống thần kinh, làm âm vang và cắt nghĩa tiếng nói Giáo hội, tắt một lời, báo chí Công giáo đã thực hiện sứ mạng thiêng liêng và xã hội của mình cách đích thực, đáng cho Chúng tôi ghi ơn và Chúng tôi sẵn sàng chứng nhận điều đó với các con để tăng thêm sức mạnh cho hoạt động khó khăn và tế nhị của các con, cùng bảo đảm những phần thưởng thần linh không thể thiếu sót được đối với một công việc xứng đáng như thế.

        Sau cùng, Chúng tôi lợi dụng cuộc gặp gỡ này để nói lên một vài lời quen thuộc về một sự kiện mang tính cách hiện thực (Các nhà báo sống bằng tính hiện thực) có quan hệ đến chúng tôi cách riêng và ngày nay đã làm cho báo chí phải nói nhiều, và không chỉ báo chí các con mà thôi. Chúng tôi muốn nói đến hoạt động cho hòa bình của Chúng tôi.

        Và Chúng tôi thích cùng với các con nhận định rằng hoạt động này không do một nỗi ước ao đi vào trong công việc khảo xét và phán đoán những câu hỏi chính trị và lợi lộc trần thế nào cả hướng dẫn, chúng không thuộc thẩm quyền Chúng tôi, cũng càng không phải do một tham vọng quảng cáo nào xui khiến cả. Nhưng hoạt động này đã xuất hiện như là bổn phận Chúng tôi, vì tính cách nghiêm trọng của tình thế và vì thừa tác vụ Chúng tôi đòi buộc, thừa tác vụ mà ngày nay được hoàn cảnh đã báo động quá nhiều và được Công đồng chung mới đây thúc đẩy.

        Chúng tôi đã hăng hái nói về người không theo đuổi một mối lợi cá nhân nào, nhưng do tình yêu Đức Kitô thúc đẩy đến độ dám đương đầu với những cuộc can thiệp và những hình thức gặp gỡ ít được sử dụng tới trên bình diện những tiến trình thường được theo đuổi và còn hơn thế nữa trên bình diện những hình thức nghi thức ngoại giao trong mối dây liên lạc của Chúng tôi với thế giới bên ngoài Giáo hội. Chúng tôi đã hăng hái nói về người không nhìn vào kết quả các cuộc vận động của mình cho bằng vào chứng tá mà lương tâm người đó sẽ chứng giám là kẻ đó đã chu toàn bổn phận, đã hăng hái nói về người không buộc phải theo những điều mình ưa chuộng hơn đã được định trước, nhưng chỉ do yêu thương mọi người. Làm như vậy, Chúng tôi đã không đánh mất đi ý nghĩa về công bình là điều phải ngự trị trên những phán đoán về các biến cố, nhưng Chúng tôi cũng đã không muốn tự đặt mình làm quan án xét xử những hoàn cảnh cụ thể, và dầu vậy Chúng tôi đã khát vọng ước mong rằng công lý không bao giờ bị quên lãng và bị phản bội. Sự phục vụ mà Chúng tôi hiến mình cho hòa bình không muốn là một thứ chủ nghĩa duy hòa bình không biết chi đến những quyền lợi và bổn phận có liên quan đến mối xung khắc đang được nói đến và không thèm nhìn thấy những hậu quả tiêu cực mà một giải đáp vừa không công bằng vừa không vô tư của mối xung khắc có thể gây ra “Opus justitiae pax” (công việc của công lý là hòa bình).

        Nhưng, trước hết, qua việc Chúng tôi mời gọi hưu chiến, và sau đó là đàm phán, Chúng tôi cũng đã muốn nại vào những nhân đức khác làm phát sinh ra hòa bình: kiên nhẫn, tinh thần tha thứ và khiêm nhường, lòng đại lượng biết cách vượt qua cái nhìn vào những mối xung đột tức thì để gắn chặt khóe nhìn vào tình huynh đệ các dân tộc và vận mệnh nhân loại. Sứ điệp Tin mừng cung cấp cho Chúng tôi nhiều lý chứng về điều này, và lịch sử hình như muốn đón nhận sự khôn ngoan thầm kín và hùng hồn làm chứng cho nó.

        Các con biết những nỗ lực khiêm tốn nhưng đại đảm của Chúng tôi tiếp tục làm sao. Thế mà chúng vẫn tạo nên bước khởi đầu có tính cách sư phạm cho nền hòa bình quốc tế này, thừa tác vụ Chúng tôi buộc mình vào nền hòa bình này, và dầu cho chung cục chính trị có thế nào đi nữa, thì chúng cũng luôn luôn giữ được giá trị đạo đức của chúng. Và từ quan điểm này, Chúng tôi phải hết lòng tri ân tất cả những ai đã đáp trả lời mời gọi Chúng tôi cổ võ cho hòa bình. Nhiều chính khách đã vang vọng lại lời hèn mọn của Chúng tôi: Xin Thiên Chúa ban phép lành cho họ. Một cuộc công kích mang tính cách hòa bình đã được khởi công trong thế giới, ít ra đó cũng là một hậu quả tốt đẹp không thể không có liên lạc gì với sự can thiệp của Chúng tôi. “Cuộc công kích mang tính cách hòa bình” này, cả nó nữa cũng đáng được ghi vào sử xanh.

        Chúng tôi có những chứng tá đáng tin và có thẩm quyền cho phép mình nghĩ rằng cuộc công kích này quả thật nhắm đến việc giải quyết xung đột bằng con đường đàm phán hợp lý và danh dự.

        Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ nó vẫn chưa được tiếp đón tích cực. Chối từ những cuộc đàm phán là đảm lãnh một trách nhiệm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, là con đường duy nhất từ nay trở đi có thể chấm dứt xung đột, không để cho vũ khí quyết định, những thứ vũ khí ngày càng khủng khiếp. Các dân tộc đang ở đó đưa mắt nhìn ! Và Thiên Chúa sẽ phải phán xét chúng ta.

        Chúng tôi còn phải cầu mong rằng những lời mời gọi hòa bình được đàm phán sẽ không bị đánh lừa, và Chúng tôi phải hy vọng rằng giải quyết khủng hoảng sẽ không được tìm kiếm bằng con đường bạo lực và tàn phá, và từ những điều này mà hậu quả luôn luôn không thể lường trước được và từ sự kiện này, như chúng đang biện chính cho sự sợ hãi tràn ngập mọi tâm hồn ngay thẳng, họ nghĩ rằng có thể có một sự xung khắc có vũ trang. Sau cùng, ai biết được nếu có ONU làm trọng tài, tổ chức này được giao phó cho các nước Trung lập, thì ngày mai đây sẽ không thể giải quyết được vấn nạn kinh khủng đó, điều mà Chúng tôi muốn cầu chúc là ngay hôm nay, Chúng tôi sẽ cầu xin Thiên Chúa ban điều ấy cho chúng ta.

        Với lời cầu mong này, Chúng tôi hết lòng chào mừng và ban phép lành cho các con.

LÒNG NHIỆT THÀNH TÔNG ĐỒ CỦA THÁNH PHANXICÔ SALÊ

Trích báo L’Osservatore Romano,                                         

 bản Pháp văn ngày 11.2.1966,

Tác giả: M.Bách chu niên.

        Công đồng chung Vatican II, đặc biệt qua miệng hai vị Giáo hoàng Gioan 23 và Phaolo VI, đã cố gắng nhóm lên nơi mọi con cái Giáo hội ngọn lửa nhiệt thành vì vinh quang Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn, và tự nhiên, khi thuận tiện, đã gợi lại những cử chỉ của các vị thánh lớn là những vị, trong hết mọi thời đại, đã nêu gương sáng.

        Trong số những vị này chắc chắn có thánh Bảo trợ báo chí, Phanxicô Salê. Mọi người biết rằng lòng nhiệt thành tông đồ của Ngài anh hùng và đáng nhiệt liệt thán phục nhất. Việc toàn miền Chablais trở lại cũng đủ đảm bảo cho Ngài thế đứng vinh quang hiển hách mà Ngài đã thủ đắc trong lịch sử Giáo hội.

        Nhưng, về cuộc chinh phục kỳ diệu này, chúng ta đã nghe biết nhiều lần vào dịp lễ mừng Ngài, đó là không đề cập đến điều ta đọc thấy trong thông điệp Rerum Omnium do Đức Piô 11 ban hành vào dịp đệ tam bách chu niên ngày vị thánh qua đời.

        Cho nên, chúng tôi tự giới hạn vào việc gợi lại tấm bi kịch gia đình sau đây mà thôi, trong đó vị Thánh chúng ta đối địch với Cha mình. Ông cố vốn là một người có đức tin trọn hảo, lại phản đối một cách cương nghị nhất và gan lì nhất sứ mạng sẽ đem vinh quang mà bao phủ cho gia đình quý tộc mình.

        Đó là một trong những bi kịch đã được Đức Giêsu báo trước khi Người tuyên bố những lời mầu nhiệm và nghiêm khắc: “Ta đến để tách biệt con trai với cha và con gái với mẹ”.

        Khi ông Phanxicô, vị lãnh chúa De Boisy biết rằng con mình là trưởng giáo đoàn trong Kinh sĩ hội Genève đã chấp nhận sứ mạng ở Chablais, miền đã bị rơi vào tay của cái mà người ta gọi là “cải cách”, thì ông cảm nghiệm thấy một xung đột kinh khủng, dường như là vị linh mục trẻ đã bị kết án chắc chắn thế nào thì cũng phải chết. Dầu đã 72 tuổi, nhưng còn bị tinh thần nhà binh chi phối, Ông bèn lên ngựa, rời khỏi lâu đài dòng họ De Salês, và bay về Annecy, nơi vị trưởng giáo đoàn cư ngụ, từ khi vị Giám mục, Đức Cha Claude Granier, đã rời bỏ Genève với toàn thể kinh sĩ hội.

        Và đây là cảnh xâu xé đầu tiên. Bị tan nát vì đau khổ, người cha già ra công khuyên can con mình khỏi lao mình vào trong kế hoạch “vô vọng” này. Vô ích, cho dầu cảm động đến sa lệ, nhưng vị thánh chúng ta cứ một mực trả lời là Thiên Chúa muốn sứ mạng này và Ngài phải vâng lời mà thôi. Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài sức mạnh và lòng kiên nhẫn cần thiết để chịu đựng những hy sinh thánh ý Người áp đặt xuống.

        Sau cùng, người cha đề nghị vị Thánh tháp tùng mình đến Đức Giám mục, vì nghĩ rằng vị Giám mục tốt lành sẽ nhượng bộ khi thấy những giọt lệ của một người cha khốn khổ. Người vừa nức nở vừa nói với vị Giám mục: “Thưa Đức Cha, con đã cho phép con trai đầu của con tận hiến cho Giáo hội để thành một vị hiển tu chớ không thể đồng ý cho nó làm một Đấng tử đạo, thế mà Đức Cha đã sai nó đến lò sát sinh để nó bị sói dữ cắn xé. Nó là niềm hy vọng của gia đình, của tuổi già và cuộc đời con”.

        Chính vị Giám mục cũng không thể cầm nổi nước mắt và đứng yên không nói một lời. Nhưng vị Thánh chúng ta liền lên tiếng và ngoài nhiều điều khác ra, Ngài còn nói là mình phải nhắc lại cho Cha Mẹ điều là Đức Giêsu một ngày kia đã trả lời cho Đức Maria: “lại còn không biết là con phải lo việc nhà Cha con sao?”.

        Người lính già không phục những lý lẽ của con mình, đến nỗi vị Giám mục sắp để cho ông được toại nguyện. Nhưng vị Thánh lại can thiệp quyết liệt hơn bao giờ hết, và khẩn khoản xin Đấng bề trên cứ kiên vững trong những quyết định của mình, vì Ngài không muốn là sau khi đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau theo lối nhìn nhân loại và như vậy là không đáng với nước Trời. Tình trạng vô cùng bối rối của người cha già cho thấy thiếu hợp lý trong lời mình nói. Nhưng lời kết luận của ông cũng đủ để làm cho vị Thánh chúng ta sấp mình xuống dưới chân cha mà nói rằng: “Cha ơi, xin cha gia ân cho con, không chỉ không chống lại, nhưng còn cổ võ con qua phép lành của cha”.

        Câu trả lời của người cha già rất cứng cỏi: “Con ơi, cha thường nhận phép lành của con trong thánh lễ, trong tòa giải tội và trong bài giảng. Xin Thiên Chúa gìn giữ cha không bao giờ nguyền rủa con phần xác cũng như phần hồn, nhưng cha đảm bảo cho con là con sẽ không bao giờ được cha chúc lành cũng như đồng ý cho kế hoạch của con”.

        Cuộc gặp gỡ này chấm dứt với những lời lẽ đượm vẻ sầu não, người cha rút lui, vừa về lâu đài vừa khóc lóc, dầu vậy ông còn nhất quyết tìm cách thuyết phục lại.

        Vị hầu tước De Lullin trung hậu, một người bạn chí thân với gia đình De Salês, có thể giúp ích cho ông trong công việc này. Thực tế, ông sẵn lòng chấp nhận trọng trách thuyết phục vị trưởng giáo đoàn nhiệt thành khước từ ý định anh hùng của mình, nhưng khi ông nghe nói về những lý do được vị Thánh đưa ra, thì ông quá thán phục đến độ hứa với Ngài là sẽ nâng đỡ kế hoạch của ngài. Như vậy, là khi trở về lâu đài De Salês, ông đã nói rất thẳng cho vị lãnh chúa De Boisy là mình đã nhận ra nơi người con đó một sự thúc đẩy thần linh rất mực rõ rệt là mình coi là đáng tội nếu không thừa nhận điều Ngài dốc quyết. Và ông nói thêm là ông De Boisy phải tự xét là mình lãnh một đặc ân cao cả khi có một người con được Thiên Chúa rất mực yêu mến và kế hoạch của Ngài sẽ mang lại cho nhà De Salês của Ngài nhiều vinh dự hơn là mọi tước hiệu khác, cho dầu tuyệt hảo đến đâu mặc lòng.

        Nhưng, vị lãnh chúa già nua không nhượng bộ và vị tông đồ trẻ tuổi phải ra đi mà không có sự ưng thuận, phép lành của người cha rất đáng yêu của mình.

        Một vài ngày sau đó, khi ngang qua lâu đài với người anh em họ là Louis de Salês để đi truyền giáo, Thánh Phanxicô đã gặp vị lãnh chúa một lần nữa. Vì không muốn chịu thua, ông nói với Ngài là Ngài đang làm nguy hại cho mạng sống cũng như danh thơm tiếng tốt của ngài, vì vài năm nữa Ngài sẽ trở về mà không gặt hái được kết quả và người ta sẽ đàm tiếu cho: “Con ơi, con có một lòng nhiệt thành phi thường, nhưng con thiếu thận trọng và con không hiểu những khó khăn của kế hoạch mình, việc thành công quả là vô cùng bấp bênh”.

        Vị Thánh trả lời ông: “Thiên Chúa sẽ an bài, Người là Đấng cứu giúp chiến sĩ, kẻ sai phái quân đội xông trận, và dưới sự chỉ huy của một vị lãnh đạo như thế, liều mất tất cả là điều thích hợp. Điều phải có là lòng can đảm, chúng ta không phải làm việc với những dân man di, chúng ta cũng không phải là những kẻ xa lạ với những dân tộc này, chúng ta sẽ không dày xéo đất đai họ, chúng ta chỉ mang những vũ khí thiêng liêng mà thôi. Như vậy, tại sao họ lại sử dụng những vũ khí khác mà chống lại chúng ta?… Kế hoạch khó khăn, con biết rõ. Nhưng màu áo chúng ta mặc, nói cho chúng ta rằng vinh dự chức linh mục ít xứng hợp với con người nào bị sự liều lĩnh và nguy hiểm ngăn cản không cho chu toàn bổn phận mình”.

        Nhà truyền giáo trẻ còn phải qua mấy ngày ở lâu đài với người anh em họ là Louis và tự nhiên là lãnh chúa De Boisy lợi dụng thử lại một lần nữa. Để trợ lực cho mình, vị linh mục còn có bà Mẹ rất mực nhân đức, dầu bà cũng rất lo lắng cho số phận con mình là người đầy lòng nhiệt thành, nhưng bà vẫn hoàn toàn phó thác vào ý Thiên Chúa, không hề nói với Ngài một lời nào có thể gây xáo động cho những quyết định thánh thiện của ngài.

        Giây phút lên đường lại là một cơ hội xâu xé mới đối với vị tông đồ chúng ta. Cha Ngài chối từ không tiếp và cấm người nhà tiễn chân và giúp đỡ hai người sắp ra đi bằng một cách nào và vì đặt hết niềm tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng, các vị sốt sắng chào kính Thiên thần hộ thủ miền Chablais, và giao phó cho người công việc lớn lao mà mình sắp đảm nhận.

        Quả thật, công việc không dễ dàng gì, được 7 tháng rao giảng qua lời và gương sáng, vị Thánh trẻ chỉ thấy chung quanh mình có vỏn vẹn 3-4 người, và họ còn rất ít khi đến gần Ngài và chỉ chui nhủi mà thôi. Sứ mạng hình như là một sự thất bại hoàn toàn.

        Thế là vị lãnh chúa De Boisy lại can thiệp và với tư cách người Cha, ông truyền lệnh cho con mình phải về ngay, ngoài những điều khác ra, ông còn nói với Ngài là vì lỗi Ngài mà mẹ Ngài đã chết trong cảnh ưu sầu phiền muộn.

        Tư tưởng này đặc biệt đắng cay đối với tấm lòng vô cùng hiền dịu của vị Thánh, nhưng dầu vậy, vẫn không thể làm cho Ngài từ chối sứ mạng tông đồ của mình. Ngài trả lời Cha mình là xin ông hãy hầu chuyện với Đức Giám mục là người duy nhất, chính Ngài phải tùng phục khi người quyết định mà thôi.

        Những cuộc gặp gỡ mới xảy ra giữa lãnh chúa De Boisy và Đức Giám mục, cũng bi thảm không kém lần gặp gỡ đầu tiên. Vào một lúc nào đó, hình như vị Giám mục đã phải đầu hàng vì những lời khẩn xin của lãnh chúa De Boisy và sẵn sàng gọi nhà truyền giáo trở về. Nhưng sau đó, được soi sáng nhiều hơn nữa, người đã không hành động gì cả.

        Đến giờ Thiên Chúa muốn, tia sáng đầu tiên ló dạng. Những cuộc trở lại khởi đầu và sau cùng, chỉ vào lúc đó người Cha già của vị Thánh mới nhượng bộ sống xa con mình. Nhưng qua sự kiện có sự đối kháng kinh khủng này từ người cha, Ngài đã phải chịu đựng những đau khổ của một cơn hấp hối.

THƯ LUÂN LƯU CỦA DON RICCERI

Torino, ngày 21.8.1967.

Sinh nhật đệ tứ Bách chu niên

của Thánh Phanxicô Salê.

Các con thân mến,

        Lá thư này Cha đề ngày 21.8.1967, kỷ niệm sinh nhật đệ tứ bách chu niên của Thánh Phanxicô Salê. Nhân dịp hạnh phúc này, Cha vui sướng đại diện cho các con cử hành lễ trọng thể tại Annecy, cùng với mọi thành viên Ban thượng cố vấn.

        Trong thánh lễ tôn kính Thánh quan thầy chúng ta tại tu viện dòng Thăm viếng, Cha dâng cho nhu cầu của Tu hội chúng ta đứng trước trách nhiệm to lớn của thời điểm này…và cho từng người trong các con để nhờ sự cầu bầu của vị Tiến sĩ và tông đồ Thánh thiện, tất cả chúng ta có thể tìm được sự can đảm đem ra thực hành việc canh tân tận căn gốc nơi từng cá nhân, được Giáo hội và Tu hội đang nhắm vào.

        Cuộc hành trình của chúng tôi tới Annecy không chỉ để tỏ lòng tôn kính vị quan thầy, nhưng còn để khẳng định việc tìm về nguồn mà Công đồng kêu mời. Don Bosco không chỉ lấy tên của Thánh Phanxicô Salê đặt cho Tu hội, nhưng còn lấy cả tinh thần nữa, đối với chúng ta, Ngài là một giòng suối lưu chảy nước hằng sống mà Cha của chúng ta đã kín múc thật nhiều. chúng ta cũng được kêu gọi tới giòng suối ấy, để làm dịu cơn khát của mình. Sự phong phú thiêng liêng mà Thánh Phanxicô Salê vị thầy vĩ đại đã để lại cho chúng ta không phải để rồi lụi tàn theo thời gian, nhưng là để từ chính hòn đá sống động, giòng nước tự nguồn mạch trong lành liên tục đổ tràn trên chúng ta qua mọi thời đại.

        Đức Phaolô VI đã nhận rõ thực tại này và trong lá thư Sabaudiae Ghemma công bố nhân dịp bách chu niên này, Ngài coi Tu hội khiêm tốn chúng ta như một phản ảnh hạnh phúc của tinh thần của vị Giám mục vĩ đại thành Genève trong thế giới tân tiến này.

        Thực ra đây là ý nhắm của vị Đầy tớ Chúa Philip Rinaldi, khi ta trở về với điều Ngài viết năm 1924: “Thánh Phanxicô Salê là nhà giáo dục phi thường về sự trọn lành và những công cuộc của Ngài đầy tính giáo dục mà 200 năm sau vị Thánh sáng lập của chúng ta đã thán phục và in sâu cách kỳ diệu, không phải trên giấy tờ, nhưng trên Tu hội Ngài sáng lập ra để cứu vớt giới trẻ và đặt tên là Sâlêdiêng, để chỉ cho những ai theo sau Ngài là giòng suối truyền sinh phong phú”.

        Sinh nhật Thánh nhân mà chúng ta cử hành năm nay là một dịp tốt để tiến gần vị Bảo trợ của chúng ta theo sự nhắc nhở của Công đồng Vatican II và của Tổng hội 19, để kín múc từ Ngài những sự thúc đẩy phong phú và mới mẻ nơi Thánh nhân để làm cho khoa sư phạm và nền linh đạo đó được kết quả mà theo như Cha Albera đã viết là “những nguyên tắc đều y hệt nhau đối với Thánh Phanxicô, cũng như đối với Don Bosco”.

        Ở đây, Cha muốn kêu mời chúng con lưu ý đến vài phương diện của khoa sư phạm và nền linh đạo luôn thích hợp này, và đề nghị các con hãy hoàn hảo hóa và đào sâu sự hiểu biết chúng con có về chúng nhờ những phương thế là những ấn bản hiện có hay sẽ được ấn hành khắp nơi trong bách chu niên này.

Thánh Phanxicô Salê, vị thày đời sống linh đạo và nhà giáo dục mẫu mực trong trường dạy tự do

Vấn đề tự do.

        Ngày nay tự do là vấn đề cốt tủy của đời sống cá nhân cũng như xã hội. Sự nổi dậy của tầng lớp công nhân, sự nâng cao trình độ giáo dục và ý thức sinh động hơn về những quyền lợi cá nhân đối diện với quyền bính, rồi chính thái độ của Giáo hội nơi Công đồng Vatican II cũng đã nhấn mạnh vào sự quan tâm đến tự do này, vốn ăn rễ nơi con tim nhân loại, đã trở thành một sức mạnh không ngăn cản nổi.

        Tất cả những điều này đã vượt từ bình diện xã hội sang bình diện giáo dục, đến cả đời sống tu trì nữa, và chúng tìm thấy âm vang trong sự xung khắc giữa tự do và quyền bính, giữa Cha mẹ và con cái, giữa thầy và trò, giữa bề trên và kẻ thuộc quyền, mà đôi khi mang hình thức bạo lực và thái quá.

        Chỉ nói đến lứa tuổi thiếu niên thôi, thì sự tự do mà các em được vui hưởng ngày nay trong và ngoài vòng gia đình đã khác với sự tự do của giới trẻ thời Thánh Phanxicô Salê hay thời Don Bosco.

        Những khó khăn khi nuôi dưỡng giới trẻ đã gia tăng quá độ đến nỗi không một nhà giáo dục nào mà không có được một vài kinh nghiệm tương tự để chịu đựng.

        Có lẽ nhờ vào những sáng tạo tổng quát của Don Bosco mà chúng ta, là những người Salêdiêng, đã cảm thấy sự phản ứng này kém hơn ai hết. Nhưng dù sao đó vẫn là sự thật và chúng ta cũng nhận ra nhu cầu thích ứng với trạng thái mới là nguồn mạch gây phức tạp và ưu tư.

        Trong những hoàn cảnh khó khăn này, chúng ta tìm được sự nâng đỡ trong gương mẫu và lời dạy dỗ của Thánh Phanxicô Salê. Ngài đã trải qua một vài năm cuộc đời trong sự tự do dồi dào và bừa bãi thuộc bầu khí đại học Paris và Padova, và đã có dịp dạy cho mình biết đối phó với sự tự do của một cuộc sống như thế, và cơ may ấy đã để lại cho Ngài một kinh nghiệm rất quý giá mà Ngài có thể chuyển dịch thành lời khuyên nhủ khôn ngoan thích hợp cho mọi lứa tuổi, đặc biệt cho những ai mà sự tự do có khuynh hướng bị biến thành phóng túng, khi sự tự vệ luân lý của một con người phải phát ra từ nội tâm, nơi mà cơ cấu xã hội không còn năng lực canh phòng và bảo vệ.

        Trong cuốn sách danh tiếng của mình “Thánh Phanxicô Salê, người hướng dẫn các tâm hồn”, Vincent đã tóm tắt lời dạy của Thánh nhân về điểm này:

        “Thánh Phanxicô Salê đã tìm cách làm cho một tâm hồn tăng triển từ nội tâm và khiến tâm hồn ấy sống mãnh liệt hơn là chỉ gìn giữ tâm hồn ấy khỏi hiểm nguy. Một cơ thể tráng kiện, mạnh khỏe sẽ loại bỏ khỏi mình chất độc đe dọa đời sống. Trước hết ta phải dành cho linh hồn sự cố gắng sống còn và to lớn bao có thể, ta hãy kiện cường cấu trúc với một tình yêu nội tâm mạnh mẽ và rồi không còn phải sợ hãi quá đáng bão tố hay thác ghềnh. Hãy để kẻ khác bắt đầu bỏ đi hay là cố ngăn chặn giòng thác vũ bão, vị Giám mục thành Genève đã đặt sự thận trọng đáng ngờ vực này vào hàng thứ yếu. Ngài đặt vào con tim tín hữu tình yêu thần linh và tin vào sức mạnh từ đó phát ra. Ngài đợi chờ mọi thử thách và có thể xảy đến với Ngài mà không sợ hãi”.

Xây dựng những tâm hồn từ nội tâm.

        Thánh nhân ít có thiện cảm với lối giáo dục trong “một ngôi nhà nóng” gạt chúng ta ra ngoài điều kiện an toàn. Ngài biết rõ nhân đức mạnh mẽ và sức mạnh của nhân đức không bao giờ lại gặt hái được trong thời bình lặng nhưng chỉ dưới sức ép của những thử thách đối nghịch.

        Trong đoạn văn về khoa sư phạm Salêdiêng này, chúng ta nhận ra cách thức mà Giáo hội qua Công đồng vạch ra để đào luyện thiếu niên, giáo sĩ và tu sĩ trẻ. Thật là tốt đẹp khi điều ấy luôn có mặt sự cứng rắn, những mệnh lệnh, những cấm đoán đủ loại chẳng thấm thoát gì so với hiện nay, nhất là với kẻ nào muốn huấn luyện người khác, cho dù người đó có nhân danh gì mặc lòng, mà chỉ nhắm đến sao cho có trật tự luật lệ hay lệnh truyền. Hơn lúc nào hết, ngày nay nếu muốn được hiện thực và vững chắc, thì việc huấn luyện phải được “xây dựng từ nội tâm”, sáng tạo những xác tín cá nhân sâu xa và qua đó sản sinh hiệu quả là ý muốn của người hướng dẫn trở thành ý muốn của người được huấn luyện. Nếu thiếu điều này, nhà đào luyện chỉ liều mình xây dựng trong chân không và tự phơi mình và người khác hứng lấy thất bại vào ảo tưởng. Thật nhiều người có trách nhiệm đào luyện kẻ khác như Cha giải tội, tập sư, giám đốc, giáo lý viên và hộ trực viên ở các khánh lễ viện, tất cả cần ý thức thật rõ về chân lý này.

        Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải san bằng những cơ cấu, những phòng bị và những luật điều và xao nhãng lời dạy dỗ của Don Bosco về hệ thống giáo dục dự phòng. Thánh quan thầy của chúng ta đã duyệt y hệ thống dự phòng ấy với những kinh nghiệm sâu rộng của mình. Thực ra Vincent đã lưu ý rằng: “Hiển nhiên là Thánh Phanxicô Salê không hờ hững trong việc đón nhận những biện pháp bảo vệ cần thiết, đặc biệt được học hỏi cho những ai chưa trưởng thành- nhưng Ngài nắm giữ chúng khi quả quyết rằng tình yêu là một năng lực có tổ chức và tự miễn dịch”.

        Điều đó gợi lại nguyên tắc của Thánh Augustinô “Yêu rồi muốn làm gì thì làm”. Điều này thật rõ ràng ở đây khi đề cập đến tình yêu là điều vừa sâu xa vừa siêu nhiên, tình yêu đồng hóa ý con người với ý Thiên Chúa. Đó là lý do mà Thánh Phanxicô Salê viết cho bà Jeanna Chantal với tất cả sức mạnh của nó: “Đừng yêu vì sợ nhưng hãy sợ vì yêu”. Thánh nhân lặp lại với Giám mục Camus cùng một điều ấy: “trên con thuyền tình yêu thần linh không có một công việc cưỡng bách nào cả, tất cả đều là những tay chèo tự nguyện”.

        Dựa trên những nguyên tắc này Thánh nhân không bao giờ ban những mệnh lệnh thiếu hình thức thỉnh cầu hay khuyên răn. Thánh nhân dành cho lời lẽ của Thánh Phêrô một sự tôn kính đặc biệt: “Hãy là mục tử của Đoàn chiên Chúa trao cho anh em. Hãy nhiệt thành, quảng đại chứ đừng như những kẻ lao dịch”.

        Thánh nhân không thể chịu nổi những tinh thần kiêu hãnh, những kẻ đòi vâng lời bằng mọi giá, bằng tình yêu hay bằng sức mạnh, những kẻ muốn mọi người cúi đầu làm cho họ vui thích.

        Đức Giám mục Camus cũng kể lại điều tương tự. “Một ngày kia tôi than phiền với Đấng Thánh về những chướng ngại ngăn trở kế hoạch mưu ích cho các linh hồn của tôi, Đấng Thánh nói: Cha thật là độc tài, Cha cứ muốn cỡi mãi trên đầu sóng. Cha để lòng nhiệt thành lôi mình đi quá xa, và dường như Cha không ý thức rằng Cha đang tức tối. Cha đã làm hơn Chúa sao. Cha muốn nhào nặn các linh hồn như là những con người của riêng Cha sao. Nhưng Thiên Chúa lại giữ họ trong tay Ngài và không muốn hành xử như vậy. Ngài cho phép họ chống lại công trình của Thánh thần Ngài và ý chí nổi loạn của họ chống lại ánh sáng Ngài ban cho họ. Ngài không bao giờ ngừng kêu gọi kẻ tội lỗi dù họ từ chối lời mời gọi của Ngài và đáp rằng: “hãy xê ra, tôi không đi theo lời Ngài đâu!”. Thiên thần bản mệnh của chúng ta cũng hành động như thế, cho dù chúng ta có thể nổi trôi xa lìa Chúa vì tội lỗi chúng ta, các vị vẫn không hề bỏ ta. chúng ta tìm đâu được những mẫu gương tốt hơn thế?”.

Còn luôn đúng mãi.

        Có hai điều đáng lưu ý phát xuất tự nhiên từ những dẫn chứng trên. Thứ nhất là những ý tưởng và những lời chỉ dẫn cho việc đào luyện sư phạm và thiêng liêng của vị Giám mục Genève được diễn tả trong thể loại lời khuyên đặc sắc của nó, dù ngày nay không còn thế nữa, nhưng vẫn luôn mang tính cách thuyết phục, hoàn toàn hòa hợp với Vatican II và rõ ràng hiển nhiên có trong các văn kiện Công đồng như việc đào luyện hàng giáo sĩ, Perfectae caritatis và giáo dục Kitô giáo.

        Để chứng minh sự tương đồng chặt chẽ này quả là điều thú vị, nhưng lại mất quá nhiều thời giờ và vượt quá xa mục đích của lá thư này.

        Điều đáng lưu ý thứ hai là việc học hỏi những châm ngôn, phán đoán và gương mẫu của Thánh Phanxicô Salê vừa rồi, tự động vẽ ra trước tâm trí chúng ta hai nhân vật thân yêu đối với chúng ta: đó là Don Bosco, Cha chúng ta và Đức Giáo hoàng Yoan. Hai nhân vật này đã sống tinh thần của Thánh Phanxicô Salê và lan tỏa quanh mình những hiệu quả tốt đẹp dù cả hai sống sau Thánh Phanxicô Salê hai thế kỷ.

        Đây là hai diện mạo lớn đã thành công trong việc tông đồ được Thánh Phanxicô Salê gợi hứng, dù trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội khác biệt và xa lạ, cả hai chỉ cho ta thấy giá trị trường tồn của tinh thần Đấng Thánh, đặt nền trên sức mạnh tình yêu, ân sủng và Tin mừng.

        Thánh Phanxicô Salê, vị thầy đời sống thiêng liêng và mẫu gương giáo dục trong tinh thần đối thoại.

Tốt lành với mọi người.

        Đây là vấn đề mang tầm quan trọng sinh tử trong thời buổi hôm nay. Cha đã viết cho các con trong công báo ban thượng cố vấn và Cha hy vọng rằng những tư tưởng được vạch ra có thể giúp chúng con đi tới sự đối thoại chân chính mà chúng ta đã nghe quá nhiều và sống đối thoại trong tất cả những nội dung thực tiễn không vặn vẹo hay giải nghĩa quá giản lược.

        Cha sẽ tự giới hạn, chỉ trích dẫn những mẫu gương và lời dạy dỗ của Đấng Bảo trợ chúng ta, và bổ sung với những mẫu gương và lời dạy của Don Bosco.

        Giảng dạy chắc chắn là một hình thức đối thoại với thính giả, những kẻ mà ngày nay đòi hỏi và nhạy cảm đặc biệt. Theo Thánh Phanxicô Salê lời giảng phải khiêm tốn và tuôn chảy từ trái tim. Thánh nhân mang một lối hiềm khích với những nhà giảng thuyết gây sóng gió và luôn dọa nạt.

        Thánh nhân nói: “Tôi yêu thích việc giảng dạy tràn ra từ tình yêu tha nhân hơn là việc giảng dạy do cáu giận, ngay cả với ai phải đối xử với người Hugnenot là những ngưới ta cần đối xử bằng lòng trắc ẩn và thương xót, không cần nịnh hót họ. Điều này khỏi cân nhắc. “Trong câu nói này, các con có thể nghe thấy giọng điệu của Đức Giáo hoàng Yoan chăng? Trong việc bàn cãi với những người lạc giáo, Genève Rolland chứng thực là Ngài không hề biết đối xử bằng cách tính toán để chọc tức hay gây cho họ phải xấu hổ. Các tín hữu thường phê bình Ngài về sự kìm hãm này vì họ cho rằng Ngài chỉ đối xử với những người đối lập cách quá ư lịch sự. Ngài trả lời họ rằng Ngài tìm kiếm phần rỗi chứ không tìm cách làm cho họ phải xấu hổ.

        Thể loại đối thoại Thánh Phanxicô Salê dùng với những người lạc giáo, được Giám mục Camus diễn tả như sau: “Thánh nhân để cho những người Cải cách ăn nói tự do về tôn giáo của họ, trong khi đó Ngài tỏ ra kiên nhẫn khủng khiếp, không hề bị quấy rầy hay chán ngán, đối với những sự vô lý hỗn hào của họ. Chính thái độ này đưa họ đến việc lắng nghe khi đến lượt họ. Khi họ dành thời giờ cho Ngài nói là lúc Ngài lợi dụng khoảnh khắc quý giá đó để đạt được kết quả tốt. Thánh nhân không bài bác những vấn nạn của họ nhằm đưa ra một đề tài đức tin hay Ngài sẽ cắt nghĩa một vài điều trọng yếu nào đó thuộc giáo lý Giáo hội cách ngắn gọn, đơn giản, rất rõ ràng, không một lời tranh luận. Như thế, Thánh nhân đang giảng bài trong một lớp giáo lý. Nếu những vấn nạn được nêu ra, lòng kiên nhẫn của Ngài quả thật là vô biên và với một sự bình tĩnh khó tin, Thánh nhân tiếp tục giáo huấn của mình ngay khi được phép phát biểu”.

        Đồng thời, Thánh nhân sẽ tuyên bố: “những chân lý đức tin mang một vẻ đẹp đáng ngạc nhiên đối với những ai suy nghĩ trong bình thản và lặng yên. chúng ta thường che dấu vẻ đẹp này bằng cách thêm vào quá nhiều thứ trang sức. Ăn nói đơn sơ là cách thuyết phục tuyệt hảo nhất”.

Đức ái luôn toàn thắng.

        Ta còn lưu ý đến điểm này để xem cách Don Bosco đối xử với những người ngoài Kitô giáo thời Ngài. Các con thấy được rõ ràng cùng một tư tưởng và một cách diễn tả đó, chúng ta hãy đọc lại điều Cha Lemoyne viết:

        “Trong cách giao tiếp với những người ngoài Kitô giáo, Ngài không bao giờ từ chối đối xử tử tế với họ, cả khi những kẻ chống đối không dùng đến những phong cách lịch sự. Ngài coi đây là nhân đức đặc biệt cần thiết nhất trong việc đối xử với những người lạc giáo. Nếu họ nhận ra một người nào đó muốn thắng thế hơn họ thì họ sẽ đóng cửa lòng lại, không cần biết đến sự thật, nhưng cứ chống đối đã. Việc tranh luận khóa lòng con người lại, còn sự dịu dàng lại mở ra. Thánh Phanxicô Salê đã có thể chiến thắng được nhiều người lạc giáo bằng cung cách lịch sự hơn là bằng sự tinh thông, dù là trong cuộc tranh luận. Sức mạnh của một luận chứng thiếu tình yêu và ân cần không bao giờ biến đổi nổi ai” (MB 4,p.348).

        Thật là hiển nhiên, Don Bosco là một môn đệ thâm tín và chuyên cần của vị Giám mục Genève, và cũng hiển nhiên đó là con đường Giáo hội kêu mời chúng ta thích ứng vào trong lời giảng dạy và bàn luận của ta. Cha chỉ thêm điều này nữa là: một tư tưởng nhỏ chỉ cho ta thấy điều được nói trên tỏ lộ những yếu tố căn bản của phương pháp giáo dục của chúng ta. Các hội viên thân mến, nếu chúng ta muốn thu gặt những kết quả tích cực trong cách giao tiếp của chúng ta, chúng ta phải luôn được một tinh thần thông hiểu, lịch sự và an bình ảnh hưởng tới, không phải chỉ trong việc giảng dạy, bàn luận, họp mặt với những người trưởng thành, nhưng còn trong sự liên hệ của chúng ta với giới trẻ nữa.Đức ái luôn toàn thắng.

        Tất cả những điều ấy nói lên rằng: ngày nay, một kiến thức sâu xa bất tuyệt về giáo lý và tinh thần của Đấng Thánh quan thầy và về phương pháp giáo dục của Don Bosco là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Không phải là điều hiếm hoi gì khi thấy rằng sự hiểu biết về phương pháp này mà chính chúng ta có được thì chỉ mang đặc tính là ít ỏi từng phần và thực nghiệm và chính vì lý do đó ta không biết đánh giá đầy đủ và ta giải thích và sử dụng một cách võ đoán. Kết quả sẽ là tiêu cực đau lòng và đôi khi làm cho việc giáo dục chúng ta ra vô ích.

        Và đây là điều khích lệ là ngày nay, thay vào đó, ta được kêu mời làm việc với những trẻ em rất khó dạy trong những nơi được coi như sa mạc hoang vắng. chúng ta đã chứng kiến một sự biến đổi sưởi ấm cõi lòng xảy ra nhờ việc thực hành phương pháp Salêdiêng.

Thánh Phanxicô Salê vị thầy đời sống thiêng liêng và mẫu gương giáo dục trong bầu khí lòng tốt yêu thương

Đức ái là sự hoàn hảo của tình yêu.

        Thánh Phanxicô Salê đã nói nhiều về tình yêu cũng như Don Bosco nói nhiều về lòng tốt yêu thương. Thánh nhân đã tóm gọn toàn bộ tinh thần và lời giảng dạy của mình qua những dòng chữ: “con người là sự hoàn hảo của vũ trụ, tinh thần là sự hoàn hảo của con người, tình yêu là sự hoàn hảo của tinh thần con người, và đức ái là sự hoàn hảo của tình yêu”. Và Don Bosco, tuy dùng những từ ngữ khác, nhưng với cùng một tinh thần đó, đã viết: “toàn thể hệ thống của chúng ta dựa trên lời của Thánh Phaolô: tình yêu là kiên nhẫn và hiền hậu, chịu đựng tất cả, hy vọng tất cả, chấp nhận tất cả”.

        Đức ái này là nền móng và chóp đỉnh mọi sự hoàn hảo của con người trong tương giao với Thiên Chúa và tha nhân, nó là yếu tính và đặc điểm của tinh thần Salêdiêng và ám chỉ một sự đâm bông nở rõ sự phong phú tinh thần với nhiều tên gọi: lòng tốt yêu thương, lịch thiệp, hiền dịu, bằng hữu, nhân từ, khiêm hạ, thông hiểu, tín nhiệm, kiên nhẫn, dễ thương và ân cần.

        Chúng ta cần suy niệm sâu xa về yếu tính này của cả khoa sư phạm lẫn lối thiêng Salêdiêng trong hai cách. Điều này sẽ giúp chúng ta nắm bắt và đánh giá tròn đầy bí quyết của sức mạnh tông đồ và tìm ra cách thể hiện tốt nhất cho có hiệu quả trong đời sống chúng ta. Nền giáo dục có chất lượng như thế chắc chắn là rất đòi hỏi và khó khăn trong việc thực hành. Don Bosco là người đầu tiên nhận ra điều này và như Cha đã nói rồi, hãy nhìn vào hoa trái nó sinh ra thì biết!

        Đức Phaolô VI là người đã lặp lại đều đặn lời kêu gọi chú ý đến điều đó giữa những người khác, khi Ngài còn là Tổng Giám mục Milan và đặc biệt hơn nữa trong buổi triều yết lịch sử với những thành viên Tổng hội 19.

        Nhưng chúng ta hãy trở về với Đấng Bổn mạng chúng ta. Có lẽ Thánh nhân là người đầu tiên họa ra và lập nên một lối kiến trúc hoàn toàn cho đời sống thiêng liêng đặt nền trên tình yêu. Thánh nhân thường nói: “Hãy luôn đối xử lịch thiệp và thương yêu với người khác. Nếu phải sửa lỗi, hãy sửa lỗi với trái tim và những từ ngữ êm dịu. Một khi lưu ý thấy khiếm khuyết, hãy học cách bào chữa cho kẻ có tội từ bên trong sao cho lỗi lầm giảm bớt đến độ lời khiển trách hiển nhiên được chấp nhận đúng đắn. Ai thu phục được trái tim một người là thu phục được toàn diện con người ấy. Nhờ tình yêu con sẽ thu phục được nhiều người hơn là vì giận dữ, thường xuyên và can đảm sửa lỗi những người được giao phó cho mình coi sóc, nhưng luôn lịch thiệp và bình tĩnh. Lời khiển trách người Cha đưa ra từ trái tim với sự yêu thương có sức sửa sai người con hơn là nổi cơn thịnh nộ”. Thật là đúng đắn và sự hiểu biết trái tim con người cần biết mấy!

        Thánh nhân viết cho Giám mục Camus là kẻ luôn tức giận bởi cách đối xử của dân chúng trong giáo phận:

        “Thưa Đức Cha, khi đám con cái còn nhỏ, đức Cha đã chịu đựng chúng nhiều điều. Bốn lời của vị tông đồ có thể giúp ích nhiều cho chúng ta…opportune, importune in omni patientia et doctrina “Xin hãy đặt kiên nhẫn ở đàng đầu là điều cần thiết nhất, vì thiếu nó đạo lý chỉ vô ích…rồi chúng ta hãy tiếp tục gieo trồng mảnh đất của chúng ta vì không có thửa đất nào lãnh đạm đến độ tình yêu của một người nông phu cần mẫn lại không mang về hoa trái”.

Giáo dục bắt nguồn từ trái tim.

        Các con có thể nghe thấy âm vang những lời Don Bosco lặp đi lặp lại trong các thư luân lưu, các bài nói chuyện và những trang viết về hệ thống giáo dục của Ngài.

        “Điều cần thiết là kiên nhẫn, bền lòng và cầu nguyện nhiều, thiếu những điều ấy mọi luật lệ đều vô ích”. Don Bosco nói tiếp: “chưa hề có một mảnh đất khô cằn và sỏi đá nào mà cuối cùng lại không sinh hoa kết quả với lòng kiên nhẫn vô cùng, thì đối với con người cũng thế, khu đất thật sự trong trật tự luân lý- vì hình như người đó có cằn cỗi và không đáp trả thì sớm muộn cũng sẽ sản sinh một thứ suy nghĩ lương thiện nào đó, và kết quả của những hành động tốt lành, khi có được một người hướng dẫn, với kinh nghiệm sốt sắng, tăng thêm phần nghị lực của mình vào trong bàn tay Thiên Chúa để làm việc trên người đó và cùng với người đó với nhiều kết quả. Cha sẽ cho đi tất cả mọi sự Cha có để có thể chiếm hữu được lòng của trẻ, và dâng chúng cho Đức Kitô”. “Công việc được thi hành vì bị ép buộc không thể đẹp lòng Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu nên Ngài đòi hỏi thi hành mọi sự với tình yêu”. “Cần có can đảm, sẵn sàng chấp nhận chịu lăng nhục chứ không lăng nhục lại, luôn mong kẻ khác được điều tốt lành”.

“Giáo dục bắt nguồn từ trái tim.”

        Các con thân mến, Cha mời gọi chúng con đọc lại lá thư Don Bosco viết từ Roma năm 1884 (MB 17,p.110), lá thư luân lưu về hình phạt (MB 16,p.441) và phần đầu của đời cậu bé Fiorito Colle, con của bá tước Colle, vị đại ân nhân của Don Bosco. Các con sẽ tìm thấy ở đó một mỏ vàng ròng và một khoa sư phạm mà người ta không biết phải ngưỡng mộ thế nào hơn nữa, sự hiểu biết thâm thúy của Don Bosco về cõi lòng giới trẻ quả thật rất cần đến tình yêu tích cực và xây dựng, hoặc lòng nhiệt thành dẫn đưa tới Thiên Chúa mọi linh hồn mà Don Bosco gặp gỡ dọc suốt con đường tông đồ của Ngài quanh tình yêu siêu nhiên ban sức sống.

        Cha đã nói đến tình yêu siêu nhiên, bởi vì vị Thánh Bảo trợ của chúng ta đã nói: “Nếu bạn yêu bằng tình yêu không Thiên Chúa, bạn sẽ liều mình vì thiếu tình yêu thuần khiết, bền bỉ hay vô tư, nhưng nếu bạn yêu thương trong Chúa thì dầu là tình yêu tự nhiên vẫn sẽ được tẩy sạch và được biến thành sự vâng lời toàn hảo tình yêu thuần khiết nhất theo thánh ý Chúa”.

        Trong bầu khí hiện đại, chủ nghĩa tự nhiên thấm nhập khắp nơi trong các nhà chúng ta. Nó thường xuất phát trong cái lốt ngụy trang của kiến thức và kỹ thuật, nhưng nó để lại một sự trống rỗng tàn phá và cằn cỗi nơi cõi lòng người trẻ, vốn khát khao tình yêu thuần khiết. Việc đọc lại những trang về khoa sư phạm Salêdiêng này đã được Don Bosco sống và viết ra, sẽ như hơi thở đầy khí trong lành. Việc này cũng mời gọi chúng ta tra vấn lương tâm cách trầm lặng và hiệu quả. Cha hy vọng rằng sau cuộc tra vấn lương tâm này, các con cảm thấy có thể phát biểu như Don Bosco đã có thể nói với học sinh của Ngài: “Cha yêu tất cả các con. Chỉ cần biết các con là những đứa trẻ đối với Cha, cũng đã đủ để Cha yêu các con thật nhiều rồi. Cha sẵn sàng hiến tất cả những gì mình có để chiếm được cõi lòng giới trẻ và dâng chúng cho Chúa chúng ta”.

Thánh Phanxicô Salê mẫu gương của Don Bosco và của chúng ta trong việc tông đồ ấn loát luôn hợp thời

Bảo vệ và quảng bá đức tin.

        Giờ đây khi nhìn vào Thánh Phanxicô Salê, vị thầy thiêng liêng của chúng ta, xin cho Cha dừng lại đôi chút để cùng nhau phản tỉnh về một giao điểm không phải ngẫu nhiên giữa những lo lắng tông đồ của Thánh Phanxicô Salê và Don Bosco, xét cả hai khía cạnh đặc tính và ý nghĩa việc làm này rất ích lợi vào lúc này.

        Bất kỳ ai bước vào đền thờ Mẹ Phù hộ ở Tôrinô và quay về nhà nguyện thứ hai bên trái đã một thời được dâng kính Thánh Phanxicô Salê, sẽ nhìn thấy một bức tranh tường lớn họa cảnh Thánh nhân sửa bản in thử trong việc ấn loát, trong khi đó người thợ máy đang đưa cho Thánh nhân những bản khác. Bên dưới bức tranh và quanh cái vòm phân tách nhà nguyện này khỏi nhà nguyện Thánh tâm có những giòng này: Franciscus Salesius ad rem catholicam tutandam provehendamque constituit: hinc artis guttembergiae patronus inducitur (để bảo vệ và truyền bá đức tin Công giáo qua việc ấn hành sách tốt, Thánh Phanxicô Salê đã lập ra hẳn một nhà in và như vậy được đặt làm Đấng Bảo trợ trên trời cho nghệ thuật ấn loát).

        Người ta có thể nghĩ rằng những dòng chữ ghi bên dưới bức họa của Rolini đượm vẻ tiên báo. Họa sĩ chắc hẳn muốn diễn tả Thánh Phanxicô Salê như vị tông đồ ấn loát, một mẫu gương của Don Bosco: thật không ngẫu nhiên gì cả khi ta cũng thấy những đứa trẻ đang làm việc. Hẳn họa sĩ đã làm cho điều mà Đức Piô XI và XII sẽ làm sau này xảy ra trước khi hai vị tuyên bố Thánh Phanxicô Salê làm quan thầy các nhà báo và văn sĩ, và Don Bosco làm quan thầy các nhà xuất bản công giáo.

        Giao điểm của hai vị Thánh trong lãnh vực tông đồ thật có ý nghĩa. Thánh Phanxicô Salê đã thất bại trong việc hấp dẫn thính giả khi giảng dạy vào thời khởi đầu sứ mệnh tại Chablais, vì thế Thánh nhân quyết định đến tận nhà dân chúng. Thánh nhân sửa soạn những tờ giấy đã in sẵn những chân lý chính yếu của đức tin nhằm làm sáng tỏ những điểm chính xác của cuộc tranh cãi, Thánh nhân giải đáp các vấn nạn, bác bỏ những lời vu không và vạch trần những điểm sai lầm của lạc thuyết. Những tờ giấy này được phát không cho các gia đình ở khắp nơi với số lượng lớn. Chúng thắp sáng trí óc dân chúng, xua tan những nghi hoặc và có ảnh hưởng trong những trường hợp hoán cải.

        Don Bosco cũng làm một việc tương tự như vậy trong thời mình. Thánh nhân bắt đầu với tờ Avvisi ai Cattolici (những điều tín hữu cần lưu ý) và Letture Cattoliche (tờ báo công giáo). Đồng thời Ngài quy hoạch xuất bản một cuốn sách biện giáo bình dân và thực tiễn mang tựa đề il Cattolico istruito (người Công giáo được đào tạo kỹ) y như Thánh Phanxicô Salê đã không cố ý soạn thảo quyển tranh luận. Kế hoạch nhìn về tương lai của Don Bosco trong việc phục vụ các linh hồn không kết thúc ở đây. chúng ta đã biết Ngài đã làm việc và chịu nhiều đau khổ đến mức nào trong việc theo bước chân vị Thánh quan thầy để phát triển và tăng số việc tông đồ ấn loát tới giới hạn cho phép.

“Một việc Đấng Quan phòng đã trao ban cho Cha”

        Don Bosco trực giác thấu hiểu quyền lực lớn lao của khí cụ truyền thông xã hội này, Ngài cũng hiểu làm thế nào công việc này có thể phát triển với đà tiến hóa xã hội trong thế giới. Chính bởi vì nhận thức được sức mạnh báo chí trong xã hội mà Ngài để lại việc tông đồ cho con cái Ngài như di sản. Ngài ghi điều đó vào Hiến luật như một trong những mục đích đặc biệt của Tu hội (HL 1,8) và không chỉ có thế, mà Ngài còn đưa nghĩa vụ này (việc lưu hành sách báo tốt) cho các cộng tác viên như một bổn phận đầu tiên trong việc tông đồ của họ (luật hội cộng tác viên, chương 3, số3).

        Nhưng chúng ta hãy nghe những lời Don Bosco viết trong lá thư mệnh danh được là Hiến chương của vấn đề này vào năm 1885. Những lời Ngài viết thật sống động và đầy ý nghĩa. Thật hợp thời, đặc biệt sau sắc lệnh của Công đồng về các phương tiện truyền thông xã hội. Sau đây là những đoạn cho ra từ lá thư đó: “Hẳn các con chấp nhận hết lòng điều Cha chọn giữa các phương tiện để cứu các linh hồn và mang lại vinh quang cho Thiên Chúa. Đó là việc lưu hành sách báo tốt. Cha không ngần ngại gọi phương tiện này là thiêng liêng từ khi chính Thiên Chúa sử dụng nó để tái sinh nhân loại. Thế giới nhận được chân lý qua chính những cuốn sách mà Thiên Chúa mạc khải. Vì thế chúng ta phải noi gương Cha chúng ta trên trời bằng việc phân phát sách báo tốt giữa nhân loại là một trong những phương tiện tốt nhất thích hợp cho việc thiết lập Nước Chúa nơi nhiều linh hồn”.

        Đây là một trong những công việc đặc biệt mà Đấng quan phòng đã dành cho Cha và tất cả các con biết Cha đã phải làm việc như thế nào với những nỗ lực không ngừng, mặc dầu Cha còn phải đảm nhận những điều khác nữa.

        Việc lưu hành sách báo tốt là một trong những mục đích chính của Tu hội chúng ta, việc xuất bản của chúng ta hình thành một hệ thống có phối hợp bao gồm mọi tầng lớp xã hội trong một phạm vi rộng lớn.

        Những lời trích dẫn này đã bộc lộ tâm tư của Don Bosco khiến chúng ta cảm kích lối nhìn xa và sự bén nhạy tông đồ đặc loại của Ngài (nên nhớ là điều này đã được viết 80 năm trước ). Đồng thời, những lời có uy quyền này nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ đối với bổn phận không thể để cho khía cạnh này trong việc tông đồ chúng ta hao hụt đi. Điều đó có thể xảy ra không chỉ vì chúng ta bãi bỏ loại công việc này (một điều thật đáng phàn nàn), nhưng còn bởi việc chúng ta quay sang một hướng khác xa hẳn mục đích thánh thiện và thiết yếu của nó, đó là những nhà in của chúng ta trở thành những mối bận tâm thương mại trong những nghệ thuật tạo hình hay bị dành riêng cho việc ấn hành những sách giáo khoa trường ốc, hoặc đình chỉ việc sửa soạn con người khi mà thời đại đòi hỏi những tạp chí định kỳ và sách báo đề cập đến tôn giáo, luân lý và việc tiêu khiển xứng đáng.

        Việc nghiên cứu đang được đảm nhận để gọt thành hình lại công việc chúng ta trên toàn thể Tu hội, và người ta đã đề cập đến nó quá nhiều, cũng cần nghiên cứu góc cạnh này của việc tông đồ chúng ta để làm thế nào những ai có năng khiếu thích hợp phải được sửa soạn và trang bị cho công việc Salêdiêng này trong các tỉnh dòng.

        Cha lặp lại ở đây điều Cha đã nói trong những dịp khác: không được phí phạm những hội viên đó, bởi đã được chọn lựa kỹ và dành riêng trong lãnh vực tông đồ họ đem lại nhiều ích lợi hơn những hội viên dấn thân ở một vài loại công việc khác.

        Cha vui mừng hơn nữa nếu dịp lễ bách chu niên “Salêdiêng” này giúp lay tỉnh từng phần tử trong tu hội một ý thức và đánh giá thực tiễn việc tông đồ này. Đức Phaolô VI trong bức tông thư Sabaudiae Ghemma đã trích dẫn trên, và khi nói với đám công chúng rộng lớn hơn, đã diễn tả ước vọng hăng nồng rằng gương mẫu của vị Thánh Giám mục Genève là một nhắc nhở kiến hiệu đem ra thực hành những chỉ dẫn của sắc lệnh Công đồng về phương tiện truyền thông xã hội.

        Cha chắc rằng ngày nay, Don Bosco cũng đề cập với chúng ta bằng những ngôn từ cùng một sức mạnh và từng chữ một như đã viết trong lá thư năm 1885. Trách nhiệm của chúng ta là đáp trả lời mời gọi và lòng sốt sắng con thảo.

Chúng ta phải làm gì?

        Trong phần kết luận những tư tưởng đã đến với Cha nhân dịp Bách chu niên này, Cha muốn mời gọi các con hồi tưởng vài lời khuyên tốt Thánh Phanxicô Salê dành cho Don Bosco trong một giấc mơ mà Cha chúng ta kể lại vào ngày 9.5.1878. Cha nghĩ rằng đây sẽ còn là một khám phá mới đối với nhiều người.

        Trong giấc mơ, Don Bosco hỏi Thánh Phanxicô Salê nhiều câu hỏi, tất cả những câu hỏi phát xuất từ tình yêu của Cha chúng ta đối với Tu hội với ước mong là những điều đó chắc chắn làm cho Tu hội triển nở, với nỗi lo lắng là cùng với thời gian trôi qua, Tu hội sẽ ngừng bước, không tiến về phía trước hay còn tệ hơn nữa là bị trật đường và thất bại làm cho sứ mạng mà Đấng quan phòng đã trao ban để thi hành trong cuộc sống Giáo hội phải ra hư không. Những câu trả lời của Thánh nhân đánh hồng tâm và vạch rõ những phương thuốc, những phương tiện và đường lối cần phải theo.

        Đối với ơn gọi, qua một vài chữ cũng đủ phác họa một chương trình đầy đủ và hợp thời mà chúng ta thấy trong Perfectae caritatis.

Don Bosco: Con phải làm gì để có nhiều ơn gọi?

Phanxicô Salê: người Salêdiêng sẽ có nhiều ơn gọi nhờ hạnh kiểm gương mẫu, nhờ sự đối xử với học sinh qua một đức ái bao la và sự khuyến khích hiệp lễ thường xuyên.

Don Bosco: Làm thế nào chúng con có thể duy trì tinh thần tốt trong các nhà chúng con cách hữu hiệu nhất?

Phanxicô Salê: Các Bề trên hãy đối xử tử tế với các hội viên, thường xuyên viết thư, thăm viếng và tiếp nhận họ.

Thật là sự khôn ngoan “Salêdiêng” trong những câu trả lời này. Điều này tốt cho hết mọi người, nhưng lại cốt thiết đối với bất cứ ai nắm giữ quyền bính.

Don Bosco: Trong những miền truyền giáo, chúng con phải nhắm tới mục đích gì?

Phanxicô Salê: Tìm phương cách phát triển ơn gọi bản xứ.

Đây là một nhắc nhở rất chân thực và khẩn thiết đối với chúng ta hôm nay, và mối quan tâm lớn lao và là điều phải thực hành đối với toàn thể Giáo hội truyền giáo dù luật điều này đã được ban hành 100 năm trước rồi.

Don Bosco: Liệu Tu hội sẽ được tồn tại trong thời gian lâu dài không?

Phanxicô Salê: Tu hội của con sẽ tồn tại bao lâu các hội viên yêu thích làm việc và tiết độ. Nếu trong hai cột trụ này gãy đổ, cả tòa nhà sẽ tan tành, nghiền nát các bề trên, các kẻ thuộc quyền và những ai theo sau họ.

Kết luận:

        Các con thân mến, trong cảnh hỗn loạn và những lệch lạc nghiêm trọng của thời đại này, cả trong suy tưởng lẫn hành động trong ánh sáng phát xuất từ những câu trả lời sắc bén rõ ràng của vị Bảo trợ cho những câu hỏi âu lo của Don Bosco, tất cả chúng ta hãy can đảm đánh giá vị thế mỗi người trước Tu hội và chúng ta hãy rút lấy những kết luận thích hợp sao cho cách sống và làm việc của chúng ta như một Salêdiêng trở thành sự xây dựng quảng đại cho Tu hội và nhờ đó, thay vì có cơ phải chịu may rủi của tai họa, Tu hội sẽ trở thành phong phú hơn trong công việc vì Thiên Chúa trong thế giới khó khăn hiện nay.

        Chúng ta hãy cùng nhau xin Đấng ban phát mọi sự tốt lành, qua lời chuyển cầu của Thánh Phanxicô Salê và Don Bosco, ban cho chúng ta sức mạnh và ánh sáng để nối gót các Ngài và trở thành những người xây dựng nước Chúa với tinh thần của các Ngài, những người xây dựng nước Chúa trong bản thân ta trước rồi đến những người chúng ta gặp gỡ dọc đường đời.

        Cha không muốn các con quên lãng những đề nghị đã được đề ra trong số công báo trước lễ Bách chu niên của Thánh Phanxicô Salê. Ngày đó cần được cử hành long trọng trong mọi học viện, việc cử hành trọng thể được hoạch định cho PAS phải là mẫu mực cho những người khác nữa. Chúng ta hãy có được trực giác đi vào trong tinh thần của Thánh nhân qua việc đọc lại đời sống và tác phẩm của Thánh nhân. Tình yêu, lòng sùng kính và khao khát noi gương Thánh nhân sẽ vọt ra từ sự hiểu biết đó. Đây là hoa trái thiêng liêng mà ta kỳ vọng trong dịp Bách chu niên này.

        Xin gởi đến các con những lời chào thân ái của mọi thành viên Ban thượng cố vấn. Xin các con nhớ đến Cha trong kinh nguyện hằng ngày của các con, và Cha xin cảm ơn các con trước. Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta và ban cho chúng ta niềm an ủi của Ngài.

Linh mục Aloysio Ricceri – Bề trên Cả.

KẾT LUẬN

Tác giả: Claude Roffat,

À l’école de Saint Francois de Sales,

Nhà xuất bản Spes – Paris, 1948.

        Sự việc là Thánh Phanxicô Salê có thể được các tâm hồn khao khát trọn lành theo đuổi cách vô cùng an toàn đã được chính Giáo hội xác nhận qua việc xếp Ngài vào hàng các vị Tiến sĩ của mình. Nhưng nếu Đấng quan phòng đã đặt Ngài ngay từ thời đại mới này và ở ngay nơi gặp gỡ của các dòng linh đạo Kitô giáo lớn, vào cuối thế kỷ 16 đầy biến động và bất ổn, và trong nước Pháp quân bình và rạng sáng này, thì có lẽ đó không phải là không có chương trình.

        Ngay ở phần trước, chúng ta đã gắng sức ghi nhận nhanh gọn vai trò của Thánh Phanxicô Salê đối diện với chủ thuyết lạc quan nhẹ dạ của thời Phục hưng ngoại giáo và chủ thuyết bi quan thái quá của Phe Cải cách Thệ phản. Vào buổi bình minh của một cuộc cách mạng luân lý và thiêng liêng mà chúng ta luôn luôn được sống, chớ gì công việc sửa sai những giá trị Kitô giáo này cho đích đáng, là sự kiện có một vị Thánh người Pháp, thật đúng như vậy, xin nói lại một lần nữa, quả là sự quan tâm của Đấng quan phòng, đáng cho ta tìm hiểu. Trên thực tế, nếu phe Cải cách đã không ăn sâu vào trong đất Pháp, dầu cho Calvin có nỗ lực bao nhiêu đi nữa, thì chính là thuốc giải độc Salêdiêng đã giao tranh cách toàn thắng vào đúng nọc độc lạc giáo, ngăn cho nó không tràn vào được đất nước với trọn vẹn sức tác hại của nó như đã từng xảy ra ở Đức, và kết thúc bằng cuộc chiến thắng phe Thệ phản giảm khinh này là chính chủ thuyết Jansenio.

        Ngài đã không làm việc một mình ở tại đất nước này, nhưng người ta sẽ không phóng đại vai trò của Ngài trong công việc của phong trào chống Cải cách mà đối với nước Pháp Ngài chắc chắn là tác nhân chính yếu. Nhiều lực lượng khác – mọi lực lượng của Giáo hội thời đó, đã hành động theo cùng một chiều hướng này, vài ba vị Thánh lớn khác cũng đã cống hiến hoạt động của mình ở đây, nhưng Thánh Phanxicô Salê đã mang lại liều thuốc giải độc khẩn thiết cho công việc tái thiết nền nhân bản trong một bầu khí Kitô giáo, bằng cách hướng dẫn phần tử tinh nhuệ Kitô giáo thời Ngài tới một nhận thức quân bình, vững vàng và đồng thời cũng chắc chắn về những mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa.

        Điểm đặc trưng của Ngài là quân bình, và đó là một điểm đặc trưng mang màu sắc người Pháp. Sự kiện là có một bầu khí thiêng liêng đặc biệt đối với nhiều quốc gia khác nhau mà bó hoa Giáo hội được trang điểm, thì khi đọc các tác giả tu đức và thần bí của mỗi nước sẽ chứng minh cho thấy điều đó ngay. Sự nhiệt tâm dịu dàng và dứt bỏ nơi những bậc thầy vĩ đại ở bên Tây ban Nha, đam mê xuất thần nơi người Ý, sự dịu dàng thi vị nơi người Flamand, ngần đó nét muốn nhấn mạnh đặc biệt về tình yêu Thiên Chúa tùy theo các miền đất. Còn nền thần bí của Pháp, nếu ta tin vào lời Henri Bremond, thì được xếp vào “trật tự tối thiện ôn hòa và trong sáng”. Xứ sở Descartes ít nếm cảm được những đám sương mù dày đặc miền Bắc, và những mối nhiệt tình đôi khi bất quân bình của miền nam, điều cần thiết ở đây là một chút tối thiểu vẻ sáng sủa trong mầu nhiệm và bẽn lẽn trong cơn xuất thần. Thật có ý nghĩa khi thấy Thánh Phanxicô Salê tín thác vào lý trí tự nhiên, có khả năng tìm kiếm được Thiên Chúa, và ngờ vực, như là điều thuộc bản tính, đối với những thị kiến, xuất thần, những lối thần bí đặc biệt. Ở đó cảm quan của Ngài về mực thước đã bị đụng chạm và phản xạ đầu tiên của Ngài là nhìn điều đó như là một cạm bẫy của ác ma. Ngài ước ao làm sao cho Maria có được khuôn mặt của Matta, và bà Acarie ca tụng Ngài vì bà đã bảo toàn liên lỷ được bổn phận đấng bậc hằng ngày của mình ở giữa những mê mẩn của tình yêu thần linh. Ngài yêu mến sự quân bình này là dường nào, dưới góc cạnh này, chính Ngài là gương mẫu trọn vẹn về nhiều điểm. Sự  quân bình giữa bản tính tự nhiên và ân sủng; sự quân bình giữa hành động và chiêm niệm; sự quân bình giữa nỗ lực tu đức và thuyết vô vi thần bí, tất cả những điều đó có thể được tóm kết trong sự căng thẳng giữa lòng khiêm nhường và sự tín thác, chúng ta đã tìm cách đưa dẫn điểm cốt yếu của giáo thuyết Ngài hướng về sự căng thẳng này. Lòng khiêm nhường của bản tính tự nhiên được thử luyện bằng chiêm niệm, và nở hoa kết trái trong sự từ bỏ mầu nhiệm: trọn vẹn con người thánh Phanxicô Salê là ở đó. đó là điều cho phép Ngài được hòa giải nơi con người mình những tương phản và chu toàn được tất cả giữa hai điểm đó như Pascal đã từng mong muốn Ngài vừa yêu cầu vừa thực hành điều độ trong nhiệt tình nhưng đồng thời hăng hái trong thói quen, tự chủ trong nhuệ khí nhưng nồng nhiệt trong khô khan, hiền dịu trong nghị lực , với sức mạnh trong sự êm ái. Làm sao người ta có thể tìm thấy được niềm tán dương trong sáng hơn và vẻ êm đềm nồng nhiệt hơn, một ơn huệ dịu dàng hơn trong hành động, một sự từ bỏ nóng bỏng hơn trong chiêm niệm được hợp nhất lại với nhau nơi một vị thánh khác?

        Nhưng đâu có phải nơi nỗ lực nhân bản mà Ngài đã tín thác để đạt cho được một sự quân bình như thế. Ngài chỉ hy vọng vào kinh nguyện , là sức mạnh lớn lao nhất, là điều duy nhất có khả năng điều động tính toàn năng của Thiên Chúa theo sự xử dụng của chúng ta. Ngài là một vị thầy dạy cầu nguyện, và chắc chắn mọi vị Thánh là thế, nhưng Thiên Chúa đã ban cho Ngài chớ không phải ban cho một ai khác sứ mạng đưa tinh thần cầu nguyện vào trong thế gian. Đó là vai trò đặc biệt của Ngài đã được nhận ra cách tỏ tường ngay từ quyển Dẫn vào Đời Sống Sủng Ái và cả trước đó nữa. Ngài được trao ban đặc ân là làm cho các linh hồn học biết cách làm cho lời cầu nguyện của mình được nguyên tuyền trong cuộc sống, và ngay lúc tinh thần phục hưng ra công gắng sức mà phân rẽ điều thánh thiêng khỏi điều trần tục trong con người, thì Ngài được trao ban ơn là làm cho các linh hồn biến mọi hoạt động trở thành một lời cầu nguyện liên tục.

        Một ngày nọ, người môn đệ ưu tú nhất của Ngài có viết:“không cần phải luôn luôn quì gối để cầu nguyện, người ta có thể cầu nguyện khi nhồi bột, khi quét dọn, và đối với tôi, tôi thích nhìn một chị thực hành vâng lời chính xác hơn là thấy chị ta được những cảm nghiệm thiêng liêng ngây ngất” (thánh Jeanne Chantal, đàm thoại 11).

        Bà đã biết nắm giữ bài học của thầy mình, trước khi gặp gỡ Phanxicô, bà Nam tước nhiệt tình này đã hiểu sự sủng ái sai đi, nên đã làm cho các đầy tớ phải khó chịu không ít. Người ta biết được lời nhận định ý vị của họ được bà Mẹ Chaugy kể lại “vị linh hướng đầu tiên của bà đã truyền cho bà cầu nguyện chỉ có 3 lần một ngày thôi, thế mà chúng con tất cả đều bị quấy rầy, nhưng Đức Giám mục Genève đã truyền cho bà phải cầu nguyện mọi giờ trong ngày, ấy vậy lại không làm cho ai khó chịu cả” (hạnh bà thánh Jeanne Chantal, do bà Mẹ Chaugy 1,17).

        Chắc chắn, cần phải cầu nguyện luôn luôn , chuyển đưa việc sủng ái của mình vào trong toàn bộ cuộc sống, và không chỉ trong những giây phút dành cho việc khẩu nguyện hay phụng vụ mà thôi, nhưng trên hết còn phải là: việc sủng ái vốn đang năng động hóa mọi sự không được làm hư hỏng điều gì và tựu trung phải phát triển thành những nhân đức có xã hội tính, Đối với thánh Phanxicô Salê, một lòng sủng ái mà không tỏ ra đáng yêu là một lòng sủng ái tồi tệ, một vị thánh mà cô độc là một điều buồn cười cho vị thánh đó. Niềm thành kính đứng trước sự siêu việt thần linh và khoan thứ đối với tha nhân, đó là những mối tương giao mà thánh Phanxicô Salê ước ao được thấy các tạo vật có đối với Thiên Chúa và với nhau:

        “Tóm lại, có được trái tim dịu hiền đối với tha nhân và khiêm nhường đối với Thiên Chúa, là tất cả rồi” (gởi bà Limojon, ngày 28,6,1605 (13,59).

        Thật vậy, đó là trọn lý tưởng của Phúc Âm, và đó là lý do tại sao, mặc dù tất cả đều được đáp ứng hoàn toàn theo nhu cầu của thời đại Ngài, và theo một vài khuynh hướng đích xác hơn mang đặc tính của người Pháp, như là quân bình và xã hội tính, nhưng nền linh đạo Salêdiêng còn cống hiến được một sự hướng dẫn có giá trị cho hết mọi người và vào mọi thời với nét đặc biệt của Ngài.

        Giữa nhiều điều khác ra, nền linh đạo này đáp trả cách đầy đủ cho những nhu cầu cốt thiết của các linh hồn đang sống đồng thời với chúng ta, chỉ cần suy nghĩ một chút về những khuynh hướng cứng tin ngày nay để hiểu rõ hơn về sức lực của mình, từng giữ bo bo lấy sự tự trị của mình, từng kiêu căng về sự độc lập của mình. Thế kỷ của chúng ta chỉ muốn tin mình có thể chữa trị được các sự dữ của mình, và đảm bảo được nền hòa bình của mình, và Thiên Chúa cũng không được mời gọi đến giúp đỡ nữa. Nhưng cũng không bao giờ các biến cố đã đối lại cách khốc hại hơn với những ảo tưởng quá điên rồ đó. Đến nỗi là ngày nay nhân loại đang lo âu tự hỏi phải chăng thế giới phi lý, và con người, sau khi đã mất hết cảm quan về tội lỗi, thì đang mất đi niềm hy vọng. Điều mà họ cần để chạy chữa đó là khiêm nhường và hy vọng. không được tin tưởng vào sức lực riêng mình nhưng phải phó thác vào sự cứu giúp của Thiên Chúa.

Một Nữ Thánh Salêdiêng: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

        Điều lạ lùng, chính Thiên Chúa kêu mời họ đến với niềm phó thác và việc từ bỏ này qua các người đi tiên phong đương thời, là những sứ giả đang công bố Lời Người theo chức phận, các vị Thánh hôm qua và hôm nay, đứng đầu các vị này, hiện nay một nữ thánh Người Pháp vẫn còn chiếu sáng lung linh, đó là Teresa Lisieux. Đã vậy, vào thời đại chúng ta, không có người đại diện tuyệt hảo nào cho tinh thần Salêdiêng bằng thánh Teresa Hài Đồng Giêsu. Hình như không đâu ngoài quyển khảo luận về tình yêu Thiên Chúa là tác phẩm qua đó người đã đem thánh Phanxicô Salê ra làm gương mẫu thực hành nhiều nhất, ngoài sự việc thông thường là trong khi vẫn được nuôi dưỡng bằng thánh Têrêsa và thánh Gioan Thánh giá nhiều hơn, nhưng người còn có những mối gắn bó thân thiện mạnh mẽ với dòng thăm viếng, và nhất là khuynh hướng tinh thần người thì mang tính cách Salêdiêng tròn đầy hơn. Người đã bị lôi kéo mà không cưỡng lại được bởi một lý tưởng trọn lành được xếp đặt để đem ra thực hành những việc nhỏ bé nhất mà được chu toàn với tình yêu càng lớn lao bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, với ý thức đầy đủ về sự khốn nạn của mình và với sự từ bỏ hoàn toàn cho Thiên Chúa tác động trong mình. Có biết bao nhiêu nét của Người mà người ta có thể kê khai ra, đôi khi chúng ghi lại được từng chữ một những lối diễn tả của Thánh Phanxicô Salê: Người viết: “Điều Thiên Chúa nhân lành yêu thích trong linh hồn bé nhỏ của tôi là nhìn thấy tôi yêu mến sự bé nhỏ và nghèo nàn của tôi, đó là niềm trông cậy mù quáng mà tôi đã đặt vào lòng thương xót của Người” (Thư thứ 6 gởi Marie du Sacré-Coeur, p 355).

        Đó đúng thật là tình yêu sự hèn hạ và lời kêu xin tình thương của Thiên Chúa nơi Ngài, cả hai đều rất được Thánh Phanxicô Salê quí chuộng. Và đây là thuyết duy thực và lạc quan Salêdiêng: “Sự kiện cho thấy là tôi rất yếu đuối, nhưng tôi không bao giờ ngạc nhiên… Tôi sung sướng biết bao khi thấy mình quá bất toàn và cần đến tình thương xót của Thiên Chúa tốt lành là chừng nào” (Novissima verba, p 45,97).

        Và bây giờ một định nghĩa mà Thánh Phanxicô Salê đã ký nhận với hai bàn tay Ngài : “Sự thánh thiện hệ tại một dữ kiện tâm hồn biến ta nên khiêm nhu và nhỏ bé trong cánh tay Thiên Chúa, ý thức được mình yếu đuối, và tín thác đến độ liều lĩnh vào lòng cha nhân từ của Người”(Novissima verba, p 112-113).

        Đối với Têrêsa, chính trong suốt quyển lịch sử một tâm hồn mà sự trọn lành tình yêu được bày tỏ ra dưới hình thức sự từ bỏ, và cũng qua đó bằng những hạn từ Salêdiêng. Xin hãy thẩm định điều đó: “Phải, chính tình yêu lôi kéo mà thôi. Con không còn ước ao chịu đau khổ cũng như là chết nữa. đã lâu lắm rồi, con đã đặt tên cho chúng là những sứ giả niềm vui… Hôm nay, chỉ có sự từ bỏ dẫn lối cho con đi. Con không còn biết phải nhiệt liệt cầu xin gì trừ việc chu toàn hoàn hảo thánh ý Thiên Chúa” (Lịch sử một tâm hồn, chương 8).

        “Con đường duy nhất dẫn đến là lửa thần linh này… Đó là sự từ bỏ của đứa con nhỏ dại nằm ngủ mà không sợ hãi trong cánh tay cha nó…Đức Giêsu không đòi hỏi những hành động cao cả, nhưng chỉ là sự từ bỏ và lòng biết ơn mà thôi” (Lịch sử một tâm hồn, chương 11).

        “Con không còn ước muốn chết cũng như không còn muốn sống; nếu Chúa cho con chọn lựa, con sẽ không chọn gì cả, con chỉ muốn điều Người muốn mà thôi” (Lịch sử một tâm hồn, chương 12).

        Và, khi bà Mẹ Agnès de Jesus hỏi Người xem người muốn dạy cho các tâm hồn con đường nào: “Thưa Mẹ. đó là con đường bé thư thiêng liêng, đó là đường phó thác và từ bỏ tất cả… Người ta không bao giờ tín thác vào Thiên Chúa tốt lành cho đủ được, Đấng quá mạnh mẽ và thương xót vô cùng! Người ta nhận lãnh nơi Người tất cả điều mình hy vọng” (Lịch sử một tâm hồn,chương 12).

        Như vậy, gần 400 năm xa cách mà cùng một bầu khí thiêng liêng đó đã làm tuôn trào cùng những ước vọng nơi các tâm hồn thánh thiêng trên cùng một mảnh đất. Bởi thế làm sao còn lưỡng lự không theo gót một vị thầy mà những vị thánh lớn nhất đã từng làm dội lại những mênh lệnh tối thượng của Ngài được?

Tiếng nói của Giáo hội.

        Cũng thế, Giáo hội mời gọi chúng ta với những tiếng nói có thẩm quyền nhất. Ngay khi còn sống, Đức Giám mục Genève đã hưởng được uy thế lớn lao nhất trên các nhà thần học và các tác giả thiêng liêng. Nhưng những nhu cầu của các thời đại đã can thiệp qua những lần khác nhau để giới thiệu các lời chỉ dạy cũng như gương sáng của Ngài cho các tín hữu thuộc Giáo hội toàn cầu. Trong sắc chỉ tuyên phong Tiến sĩ năm 1877, Đức Piô IX tuyên xưng Ngài là “gương mẫu thánh thiện ưu việt và bậc thầy của lòng đạo đức thân thật… Qua lời nói và những bút tích vĩnh cửu của Ngài, Ngài đã biết cách sửa chữa nết xấu, canh tân phong tục và làm cho việc lên trời được dễ dàng cho hết mọi người… Vị Giám mục Genève đã chỉ cho mọi người Kitô hữu con đường nhân đức quá dễ dàng, lòng đạo đức thật sự đã giải chiếu ánh sáng khắp nơi và nó đã thâm nhập được vào các ngai vua, vào lều các tướng lãnh quân đội, vào pháp đình các thẩm phán, vào những quầy hàng, cửa tiệm và vào trong cả những lều tranh của các mục đồng”.

        Năm 1923, nhân dịp mừng ngày thứ 300 Ngài qua đời, Đức Giáo hoàng Piô XI đã công bố thông điệp Rerum omnium perturbationem để cổ võ các nhà thần học và tín hữu đọc các tác phẩm của thánh Phanxicô Salê “để thấy lòng sùng hiếu lại nở hoa khắp nơi”.

        Sự trùng hợp đáng chú ý; khi các Đức Thánh Cha nhận biết nơi phương pháp của Thánh Phanxicô Salê có một sự thích hợp đặc biệt để trình bày giáo lý Kitô giáo giúp cho các linh hồn, và nhấn mạnh đến sự chắc chắn mà Ngài đã xử dụng để làm dịu đi những nhân đức khắc khổ nhất, làm cho người ta yêu mến đau khổ và làm nỗ lực hóa ra dễ dàng như Bremond đã nói cách tuyệt diệu rằng: “Ngài làm tất cả nên dịu dàng mà không giảm khinh đi một chút gì cả”, thì các Ngài chỉ làm một điều là hiến thánh kinh nghiệm của mọi môn đệ theo gót Đấng thánh và trước hết là kinh nghiệm của bà thánh Jeanne Chantal, người quả quyết rằng điểm đặc sắc của “người cha duy nhất” của bà là “nâng các tâm hồn lên đến một tình yêu đối với Thiên Chúa quá êm dịu đến nỗi mọi khó khăn mà người ta tin là có ở trong cuộc sống sủng ái đều sẽ tiêu tan đi hết cả” (Tác phẩm của bà thánh Chantal II,201)

        Linh mục Mackey viết trong lời dẫn nhập cho ấn bản phê bình quyển dẫn vào đời sống sủng ái: “Với một cách thế dịu dàng và dễ dãi, Ngài nâng các môn đệ của Ngài lên đến sự trọn lành mà không bao giờ làm cho thiện chí của họ ra chán ngán, mà không bao giờ làm cho sự yếu đuối của họ ra chưng hửng bẽ mặt- đó là điều người ta không hề cảm thấy được” (Tác phẩm của thánh Phanxicô Salê III,44). Lời nhận định đó mang tính cách tổng quát; nó biện minh rõ rệt khi người ta thấy thánh Phanxicô Salê đặt lòng khiêm nhường tươi vui ngay tại nền tảng giáo thuyết thiêng liêng của Ngài và sự tín thác hoàn toàn ở trên chóp đỉnh. Đồng cảm với con người khốn nạn, tự phó thác cho Thiên Chúa đầy lòng thương xót, một lần nữa, đó không phải là điểm đặc trưng của những vị nào có bổn phận rao giảng hay sao? Thánh Chantal nói với chúng ta: “Cần phải chết trong khi kê đầu lên hai chiếc gối: một chiếc là lời tuyên xưng khiêm tốn rằng chúng ta chỉ đáng xuống hỏa ngục, chiếc thứ hai là lòng tin tưởng hoàn toàn và tuyệt hảo vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng sẽ trao ban Thiên Đàng cho ta” (Tâm hồn thánh Phanxicô Salê do bà thánh Chantal biên soạn, trang 47).

        Thiết tưởng là chúng ta nên kết thúc ở câu này, một câu quá mang sắc thái Salêdiêng, nhưng chúng ta không thể cưỡng lại lòng mong ước cống hiến cho độc giả hai trang sách được rút ra từ quyển cuối cùng trong tác phẩm của thánh Phanxicô Salê như bó hoa thiêng của công việc học hỏi này. Có thể những trang sách này được viết ra vào khoảng thới gian trước khi Ngài từ trần một chút để gởi cho một nữ tu dòng thăm viếng, mà qua chị đan sĩ khiêm nhường này, chúng lại được đề tặng hết thảy chúng ta. Chớ gì ta đọc chậm rãi, vừa đọc vừa cảm nếm niềm vui thiêng liêng khi tìm lại được ở đó những chủ đề cốt yếu do thánh Phanxicô Salê khởi xướng: mời gọi nỗ lực trong niềm vui và tự do tâm hồn, tùng phục những dự định của Thiên Chúa trong công việc thánh hóa chúng ta, cổ võ sống khiêm nhường với tình yêu mến và tín thác tươi vui mặc dầu có mọi thứ khó khăn, trong tinh thần cầu nguyện và hưởng dùng lễ tạ ơn có sức mạnh biến đổi, đó là vẻ tráng lệ của một bài thánh ca mà mỗi người sẽ tìm thấy những điểm nhấn mạnh sâu sắc nhất của một trong những thi sĩ trổi vượt nhất về tình yêu thần linh. Chúng ta hy vọng là thế.

        “Con ạ, con hãy sống an bình trước Chúa chúng ta, đừng bối rối. Miễn là con bước đi trong đường nhân đức dầu có chậm chạp thế nào đi nữa, thì cũng đừng bỏ cuộc, một hãy tới đích. Vậy con hãy đi cách vui vẻ, nhưng nếu con không thể luôn luôn đi trong đời với niềm vui vẻ, thì ít là hãy can đảm mà bước đi và tín thác vào Thiên Chúa. Con hãy làm như những đứa nhỏ đang tập đi, vừa khi hụt té, thì chúng bèn chạy đến Mẹ chúng, chúng lao mình vào bàn tay và lòng người rồi nấp bóng ở đó.

        Con hãy chân thành ra sức chiếm đoạt cho được các nhân đức mà không lúng túng; hãy để cho Thiên Chúa cai quản con, phụng sự Người theo sở thích của Người chớ không phải theo điều con thích, con hãy xem chính Người là Đấng đã đặt con vào nơi hiện bây giờ con đang ở. Con hãy đứng như một pho tượng trong khám đặt tượng của Người; con đứng đó để làm vui lòng Người, đối với con thế là đã đủ rồi. Thỉnh thoảng Thày chúng ta sẽ nhìn con và sẽ đưa mắt trên con. Con đừng ước ao gì ngoài tình trạng của con, bởi vì nếu Vầng Thái Dương của con hình như có bị che khuất đi, thì chẳng bao lâu nữa cũng sẽ xuất hiện và lại chiếu sáng cho con.

        Con hãy cố gắng đạt tới sự trọn lành là điều thích hợp cho cuộc sống này. Ta đừng muốn làm thiên thần quá sớm; hãy là những con gà con dưới cánh mẹ chúng ta, bởi vì chúng ta còn chưa biết bay. Ta hãy tập những nhân đức bé nhỏ thích hợp với ta và chúng không có vẻ gì rực rỡ; hãy vui vì nỗi hèn hạ của ta. Cần phải làm sao cho hương thơm của ta tỏa mùi thối tha đối với lỗ mũi thế gian; ta đừng sợ lời phán xét mà họ kết án ta, đừng ngã lòng bởi vì bao lâu Thiên Chúa còn muốn gia ân cho ta qua việc cầm tay ta, lúc mà người bảo toàn trong ta nỗi ước ao mà ta phải yêu mến người, thì ta chẳng có gì phải sợ hãi.

        Không cần phải yêu mến các mối bất toàn của ta, cũng đừng yêu thích những điều ô nhục mà chúng gây cho ta. Đừng để mình bị khuấy động và đè nặng trong nỗi yếu hèn của ta, phải tìm cách thoát ra khỏi đó với vẻ bình an. Hỡi những điều khinh dể thân ái mà những nỗi bất toàn và khuyết điểm của ta đã mang lại cho ta, ta mến thương các người; ta ghét sự dữ song vui thích vì bị sỉ nhục. Trong cuộc sống này cần phải chịu đựng mình song với vẻ bình thản. Nhưng chúng ta chịu đựng gì khi mà chúng ta lại tự chịu đựng chính mình, không gì đáng giá cả; điều đó không phải làm chúng ta ngạc nhiên.

        Thiên Chúa yêu mến những người khốn khổ, Người để mắt nhìn xem những người không là gì cả, những kẻ yếu đuối và những kẻ ty tiện trở nên ngai Thiên Chúa ngự trị; Người thiết lập ngai Người ngự trên một linh hồn nào hèn hạ. Bởi thế hãy thú nhận mình nghèo nàn. Con ạ, hãy vui mừng vì mình không là gì cả, hãy tỏ những vết thương của con cho Người, hãy bày tỏ cho người nỗi bần cùng của chúng ta. Giữa những người nghèo khổ trên đời, kẻ nào chỉ có quần áo rách rưới phải mặc để xuất đầu lộ diện và các vết thương để bày ra cho người ta thấy thì tự coi mình là người có lợi nhất, bởi hy vọng rằng một khi đã phô bày sự nghèo nàn của mình ra, người đó sẽ lãnh nhận được những của bố thí lớn lao nhất. Ta hãy đứng ở vị thế này trước nhan Nhan Thiên Chúa; ta hãy chỉ nói cho Người biết những nỗi khốn nạn của ta mà thôi, hãy vào đền thánh của Người mà tỏ cho người biết con người ta thế nào, nhưng chớ ngã lòng.

        Hãy nâng tấm lòng đáng thương của con dậy khi nó sa ngã, con đừng xỉ vả nó; hãy tỏ ra can đảm một lần nữa, bởi vì nếu con sa ngã thường xuyên, thì con cũng hãy thường xuyên chỗi dậy. Đừng thúc bách lòng con, đối xử quảng đại với nó, vì nó thà chết chẳng thà xúc phạm đến Thiên Chúa mình. Cũng cần phải thà mất hết mọi sự còn hơn là mất đi sự bình an. Vậy, hãy đơn sơ bước đi, và con sẽ bước đi với niềm vui vẻ và tín thác; hãy đối xử quảng đại với lòng con, và đừng thúc bách nó quá . Hãy tỏ ra công bằng với lòng con, để không vu cáo nó, cũng đừng chữa tội cho nó cách quá nhẹ dạ: Một đàng có thể làm cho nó ra kiêu ngạo và một đàng thì lại làm cho nó ra nhát đảm.

        Bao lâu mà ta tỏ ra cứng rắn trong điều dốc lòng là để Thiên Chúa thống trị nơi ta, thì đừng sợ gì cả,. Phải, con ạ, hoặc chết hoặc yêu; phải yêu hay là chết đi cho xong: chớ gì Thiên Chúa là người duy nhất sống trong lòng ta hay không có gì cả hết. Và bao lâu tình cảm này được ghi khắc sâu đậm trong lòng ta thì tại sao ta lại còn phải băn khoăn? Con không thấy sao, tính tự ái nó đang tinh tế len lỏi để làm khổ ta đó sao? Một lần nữa, cha cổ võ con hãy đối xử quảng đại với lòng mình; tạ ơn Thiên Chúa , nó khỏe lắm vì tình yêu đang làm cho nó được sinh động và vì nó luôn luôn yêu mến.

        Bởi vậy, con hãy làm cho tâm hồn đáng thương của con được vui tươi; hãy yên ủi nó trong cơn sầu muộn, hãy củng cố nó trong cơn lao nhọc, hãy làm cho nó được khoan khoái khi nó phiền chán, hãy yên ủi nó trong hồi xao xuyến, để, một khi không bị ngã lòng, nó cảm thấy có một lòng can đảm mới hầu phục vụ Thiên Chúa. Chính trong luồng tư tưởng này mà cha xin con hãy giữ cho nó được vui tươi hớn hở nhất theo sức con có thể; phải đối xử ân cần với nó để nó tiến được những bước thật xa. Hãy nghĩ rằng Đức Lang quân chọn tâm lòng này để làm giường cho Người nghỉ ngơi; nó cần phải được nở hoa. Con biết rằng Thiên Chúa vui lòng nhận dâng hiến mà người ta đem dâng với một ý chí ngay thật .

        Con yêu dấu, hãy thong dong bước đi , thánh hiến mình cho Đấng Cứu Thế thần linh; hãy dâng Người nụ hôn đức ái thánh thiêng, và hãy luôn tiếp tục sống khiêm nhường sâu thẳm, để con được đến với Ngưới mà không sợ hãi; vì cha tin rằng phương thế lớn lao nhất để đạt tới sự trọn lành là tiếp nhận Đức Giêsu Kitô, miễn là người ta lo đến việc phá hủy tất cả mọi sự gì có thể làm cho Người phật lòng, hãy tin vào cha đây, không gì làm cho dạ dày được bồi bổ bằng cách chỉ ăn một thứ thịt nào ngon lành nhất; bởi vậy con hãy nuôi mình bằng thứ thịt các Thiên thần hay dùng, Người sẽ làm cho con có đường tiêu hóa tốt, Người sẽ truyền thông đến mọi năng lực của con, sẽ hành động trong con, sẽ thi hành công việc trong lòng con. Chính Người sẽ soi sáng tinh thần con, sưởi ấm ý chí con và sẽ không còn chính là con sống nữa, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô trong con. Và để lãnh nhận ơn huệ này, chúng ta phải nuôi mình bằng Đức Giêsu Kitô bị đóng đinh; chính Người sẽ sưởi ấm và kiện cường dạ dày tâm hồn ta và Người sẽ chuẩn bị ta và làm cho ta xứng đáng tiếp rước Người thường xuyên.

        Vậy, con đừng bỏ rước lễ vì cảm thấy khó chịu và yếu đuối, dù có chia trí và khô khan đi chăng nữa. Những sự đó chỉ ở phần hạ đẳng, vì cha biết rằng phần thượng đẳng được kết hiệp với Thiên Chúa và chỉ khao khát Người mà thôi, Và vì con tìm kiếm vị Thầy thần linh của ta, cho nên con có thể tìm thấy được Người ở đâu khác trừ nơi ngai tình yêu của Người? Người muốn làm vua chúng ta: và như vậy Người sẽ ban hòa bình cho ta, Người sẽ chặn đứng tâm hồn chúng ta và sẽ làm cho chúng ta được yên tĩnh.

        Con đừng đứng xa mặt trời của con, nếu con muốn được soi sáng. đó là một lò tình yêu, nơi những hành vi hững hờ của ta sẽ bị thiêu hủy, đó là một thứ dầu thơm quí giá sẽ chữa trị các vết thương của ta, sau cùng đó là một kho tàng gồm toàn mọi ân sủng sẽ làm giầu cho con. Nếu con cứng cỏi, sẽ được mềm mại; nếu con khô khan, sẽ được tưới gội; nếu con đang buồn phiền, thì Người sẽ là niềm vui cho con. Tắt một lời, Đức Giêsu Kitô muốn là tất cả mọi sự cho con trong bí tích thần linh này: chính miếng thẻ bài này mà con cần phải đeo ở bên trái tim để con được bồi bổ và để con được gìn giữ khỏi phải thói hư. Sau cùng Đấng Cứu thế thần linh này thật ước ao làm bảo chứng cho vinh quang mà Người đã hứa.

        Ta hãy hối hả khát vọng cuộc sống vĩnh cửu hồng phúc này; nó cứ tiến lại gần trong khi thời gian trôi qua. Này, con ơi, không hệ gì cả khi những giây phút trong cuộc sống này có gây buồn bực, miễn làm sao ta có thể ngợi khen và chúc tụng Chúa chúng ta đến muôn ngàn đời.

        Con ơi, hãy gắng công tích trữ cho đầy kho gồm những lần chúng ta suy phục thánh ý Thiên Chúa “Amen” (Những đề nghị thiêng liêng gởi một chị nữ tu dòng Thăm viếng (26,360-364).

PHẦN II

BÚT TÍCH CỦA

THÁNH PHANXICÔ SALÊ

ĐẶC TÍNH CÁC TÁC PHẨM CỦA THÁNH  PHANXICÔ SALÊ

Trích từ quyển Les Controverses,

Introduction générale, Phần II: Caractère des Oeuvres

de Saint Francois de Sales, tr 54-58.

        Khi nói về thánh Phanxicô Salê, một nhà phê bình nổi tiếng hiện đại đã phát biểu rất đúng rằng: ”Người ta còn chưa nhìn thấy được bậc vĩ nhân này trong toàn thể các tác phẩm của Ngài” (M. Godefroy, Histoire de la littérature francaise,16 e sieche). Ở đây chúng tôi tự hạn chế vào việc thu xếp góp những đặc tính tổng quát các tác phẩm,còn về giáo thuyết chứa đựng trong đó và về hình thức chúng trình bày cho ta, thì trước hết, cống hiến cho ta một cái nhìn nhanh gọn về vô số những chứng từ tỏ lòng tín nhiệm đã thừa nhận nơi các nhân và các bút tích của Ngài, những chứng từ này cũng là những bằng chứng ngoại tại về sự siêu việt của các lời dạy dỗ của Ngài.

        Ngay khi còn sống, thánh Phanxicô Salê đã được các đức Giáo Hoàng coi như một bậc thầy trong giáo hội: Sắc chỉ công bố tiến sĩ gợi nhắc rằng vào năm 1596, Đức Clemente VIII đã uỷ thác cho vị Trưởng giáo đoàn trẻ tuổi sứ mạng tế nhị thuyết phục nhà chủ trương lạc giáo De Beze và dẫn đưa ông thi hành công việc thu hồi những gì mình đã phổ biến; sau đó, Đức Phaolo V đã hỏi ý kiến vị giám mục Genève về vấn đề De Auxiliis nóng bỏng và đang được tranh luận sôi nổi và mong mỏi rằng cảm tình của vị giám mục thánh thiện sẽ kết thúc được cuộc tranh luận. Bà thánh Jeanne Francoise de Chantal coi vị linh hướng thánh thiện của bà như được Thiên Chúa linh hứng và quì gối đọc các bức thư của Ngài. Thánh Vinh Sơn Phaolo gọi Ngài là “Tin mừng biết nói, Evangelium loquens”, một danh xưng tuyệt vời nhất chưa từng được gán cho một người nào từ sau thời các tông đồ, Những vị linh hướng siêu việt nhất như Suffren, Berulle và tiến sĩ Duval; những vị giám chức danh tiếng như De Marquemont, De Villard, Camus, Fenouillet đã gán những ánh sáng của mình cho sự khôn ngoan trời phú từ các lời khuyên dụ của Ngài. Thẩm quyền của Thánh Phanxicô Salê không phải là kém so với giáo dân như Antoine Favre, vị sấm ngôn của miền Savoie đã tự coi mình là đồ đệ khiêm nhường ngay từ lúc các vị hội ngộ với nhau lần đầu vào năm 1593, và sự kiện vị giám mục miền Savoie đã được đánh giá tại triều đình Henri IV và Louis XIII không phải là kém phần hiển nhiên, không chỉ những người kém thế giá nhất do lòng đạo đức của họ như Deshayes và quận công Bellegarde đã đánh giá Ngài cao, nhưng chính Henri IV, Richelieu (công hàm dòng thăm viếng ở Westbury on Trym, Anh quốc), Marie de Medicis và nguyên soái Lesdiguières xảo quyệt cũng đã thẩm định như thế.

        Tóm lại, vị tiến sĩ thánh thiện”đã được đại chúng tham khảo như một trong những người siêu quần bạt chúng giữa các giáo phụ cổ sơ, và tính cách siêu việt của Giáo thuyết Ngài không phải là bị giảm đi sau khi Ngài qua đời, nhưng càng ngày càng tăng thêm (Sắc chỉ phong tiến sĩ). Sắc chỉ phong thánh, những lời cung khai của các nhân chứng và những lá thư thỉnh nguyện là những bằng chứng chói lọi nhất cho lời xác quyết này: Vô số những bài tán tụng vị thánh, từ năm 1623 đến năm 1668, còn là một chứng từ tuyệt diệu khác nữa. Vụ án phong thánh năm 1648 có đặc biệt đề cập đến chừng 100 tác phẩm, giữa muôn vàn tác phẩm, trong đó những kết luận của vị tiến sĩ tương lai được thích ứng để làm mẫu mực trong những vấn đề đức tin và luân lý.

        Lời thẩm định của các bậc tài trí vĩ đại và phi thường thuộc thế kỷ XVII đã được tóm lược trong tuyển tập các bài tán dương do Blaise biên soạn ở một trong những quyển bổ sung cho ấn bản của ông(tác phẩm đầy đủ của Thánh Phanxicô Salê, Paris,1821) và những lời của Bourdaloue, con người uyên bác và sâu sắc là một lời diễn tả đúng đắn nhất về bản hòa tấu gồm những lời khen ngợi này: “Sau Kinh thánh, không còn có tác phẩm nào đã duy trì được lòng đạo đức cho bằng các tác phẩm của vị Giám mục thánh thiên này… để hình thành nền phong hóa cho tín hữu, không ai có được cùng một ân huệ như vị giám mục Genève này”(Lời tán dương thánh Phanxicô Salê, phần 2). Tất cả những chứng từ của thế kỷ XVIII đã phai nhòa đi đứng trước chứng từ của Thánh Anphong Liguori: Trong đôi ba khảo luận của mình, người đã dẫn chứng vị thánh của chúng ta hầu như là từng trang một, và như linh mục Mauron, Bề trên tổng quyền dòng Chúa Cứu Thế đã xác quyết (Concessio tituli Doctoris S. Franc. Salêsii, Postulatio 37), “Người đã luôn luôn coi Ngài như người hướng dẫn mình”. Tài liệu này dẫn đưa ta tới thế kỷ 19, vào thế kỷ mà một vinh quang mới mẻ,lòng tôn kính vang dội đã chào đón vị tân Tiến sĩ. Cần phải trích dẫn tất cả các thư thỉnh nguyện của các vị giám chức ưu tú nhứt của giáo hội toàn cầu, nhưng những lời của giám mục Piô là tiếng vang có thẩm quyền nhất của tiếng nói lớn này (như trên, Postul., 27).  Vị giám mục nổi tiếng này nói : ”… Đối với bất cứ ai đã học hỏi lịch sử và cuộc đời sâu kín của xã hội Kitô giáo từ ba thế kỷ nay, phải chăng là một điều không rõ rệt như chính bằng chứng là thánh Phanxicô Salê đã không chỉ là một nhân vật uyên bác trong Giáo hội mà thôi, nhưng trong nhiều điểm giáo thuyết và thực hành, thì những bút tích của Ngài còn là luật diễn tả chính giáo thuyết của Giáo hội nữa hay sao? Khắp mọi nơi có sự thánh thiện anh hùng xuất hiện, vào những thời gian sau này Giáo hội đã đặt hay nghĩ là sẽ đặt lên bàn thờ, nơi mọi linh mục và tín hữu nào siêu việt về sự hiểu biết và nhân đức, ở phần đời cũng như ở trong tu viện, người ta có thể phủ nhận được rằng các sách vở của vị Giám mục Genève thánh thiện đã không gây được một ảnh hưởng đậm nét nào, và tia sáng chói lọi và trong suốt nhất của mọi tâm hồn không phải là một sự giãi sáng và sức nóng ấm phát xuất từ Ngài hay sao? Như vậy đây là điều công bằng khi dâng lên Ngài hào quang Tiến sĩ, đó là lòng biết ơn chân thật đối với sức mạnh truyền thông và đối với nhân đức phú bẩm này về sự hiểu biết và lòng đạo đức. Kính thưa Đức Thánh Cha, đối với con, con làm một việc công bình cũng như là lòng biết ơn khi công bố giữa những tiên kiến về trường phái còn loan truyền ở tiền bán thế kỷ này, đại để về những gì thuộc cơ chế của Giáo hội, thì chính việc học hỏi thân mật các tác phẩm của Thánh Phanxicô Salê đã xua đuổi ra khỏi con những bóng tối của hơn một tối tăm, giải quyết hơn một nghi ngờ, và nếu con đã có thể tiến bộ,dầu quá ít oi, trong mầu nhiệm ân sủng và trong cung thánh kín nhiệm của Kinh Thánh thì con đã học hỏi chính yếu được điều đó nơi trường của vị Thầy vĩ đại này. Còn bao nhiêu người khác cũng như con lại không ở trong trường hợp phải chứng giám như vậy hay sao?…

        Những văn nhân thời đại mới như Godefroy đã trích dẫn, ngay cả những tư tưởng gia tự do như Sainte-Beuve, cũng cạnh tranh với những tác giả đạo đức trong những thẩm định tán thưởng một người đã làm vẻ vang không ít cho nền văn chương đời cũng như là cho Kinh thánh. Danh hiệu tiến sĩ Giáo hội phổ quát, được trao ban cho Thánh Phanxicô Salê thể theo nỗi ước mong và những lời tung hô của toàn thế giới Kitô giáo, có thể nói được như thế, là việc phong thánh cho các bút tích của Ngài, là vinh quang lớn nhất đã được dâng lên cho sự khôn ngoan thần linh được biểu lộ trong các thánh.

  1. Giáo thuyết trong các tác phẩm của thánh Phanxicô Salê

        Đặc tính đầu tiên cần phải được nêu rõ trong giáo thuyết này mà từ đó lời xác quyết phổ quát về tri thức siêu việt của Thánh Phanxicô Salê được tỏ lộ ra “là trương độ, sự dồi dào và khác biệt về các vấn đề, trong ba ngành phân biệt các tác phẩm của Ngài: “Phần tu đức, bút chiến, rao giảng lời Thiên Chúa” (Sắc chỉ phong tiến sĩ). Trong quyển dẫn vào Đời Sống Sủng ái và khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, vị tiến sĩ vạch ra những qui luật đích xác và thực tiễn để hướng dẫn các linh hồn, hoặc là để hướng dẫn họ bước đi trong những nẻo đường hiệp nhất của cuộc sống sủng ái, hoặc là để chỉ vẽ họ bay về những đỉnh cao trọn lành phúc âm. Các thư của Ngài cũng áp dụng các nguyên tắc đó cho hết mọi trường hợp đặc biệt có thể xảy đến trong cuộc sống thiêng liêng; và Ngài không chỉ là Bậc Thầy của lòng đạo đức mà thôi, nhưng Ngài còn dạy nghệ thuật thông truyền cho những người khác nữa (Magisterium pietatis), như vậy là xứng với tước hiệu “Tiến sĩ về lòng sủng ái” mà Tournemine muốn áp dụng cho Ngài theo ý nghĩa tròn đầy (Memoires de Trévoux, Juillet, 1736).

        Văn tập các lời giảng dạy cụ thể của vị thánh giám mục mặc một vẻ tuyệt hảo đặc biệt, chiếm lấy được tính cách phong phú và sức mạnh hơn, do cách trình bày, vừa thân mật vừa sâu xa, những chân lý vĩ đại về mặt tín lý, trên đó các giới răn về sự trọn lành được xây dựng. Bản tính và các ưu phẩm của Thiên Chúa, những mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi và Nhập thể, những đặc quyền của rất thánh Nữ Đồng Trinh, sự sa ngã và cứu chuộc con người, ân sủng và tội lỗi, nhân đức và nết xấu: tất cả những chủ đề này đi vào trong khuôn khổ rộng lớn của khảo luận về tình yêu Thiên Chúa. Thánh Phanxicô Salê động chạm đến “nhiều điểm thần học”; Ngài nói về “cội nguồn” đức ái, cũng như những hoa quả của nó (lời dẫn nhập khảo luận về tình yêu Thiên Chúa). Với bản chất tiên tri mà sự thánh thiện trao ban, vị Tiến Sĩ tương lai theo những nguyên tắc thần học cho đến mức phát triển toàn bộ của chúng: việc đầu thai vô nhiễm của Đức Nữ trinh hiển vinh Maria đã là một tín điều đối với Ngài, và sắc chỉ phong tiến sĩ gợi lại cách thế mà “Ngài đã gieo mầm cho việc tôn sùng Thánh Tâm Đức Giêsu”.

        Dầu vậy, người ta vẫn không biết cách cảm nếm trọn vẹn trương độ của các tác phẩm thiên tài của vị thánh chúng ta, nếu cứ coi những tác phẩm này chỉ được dành cho con cái trung thành với Giáo hội mà thôi; với cách thế tương đương cần phải nói đến các bút tích có mục đích bảo vệ chống lại những cuộc tấn công của quân thù. Sắc chỉ phong cho thấy quyển Tranh luận như một quyển sách chứa đựng “một lối trình bày đầy đủ về đức tin công giáo” và “điểm tựa cho các định tín của Công đồng chung Vaticano về tối thượng quyền và sự bất khả ngộ của Đức Giáo hoàng Roma”. Quyền bảo vệ ngọn cờ thánh giá là một cuộc thỉnh cầu chiến thắng cho việc phụng thờ dụng cụ cứu chuộc chúng ta và một khoa hộ giáo về toàn bộ nguyên tắc bí tích; nghĩa là việc sử dụng những vật thể trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người.

        Theo những lời của đoản sắc, thì mặc dầu chân trời này có rộng lớn thế nào đi nữa, cũng còn sẽ khai rộng thêm, một khi vị Thánh Tiến Sĩ được trao ban cho ta để khen ngợi như là “Vị thầy và người canh tân khoa hùng biện thánh”. Sưu tập thư về lời Rao giảng (Sưu tập này được đề gởi Tổng Giám mục Bourges, ngày 10.10.1604), là một tuyệt tác thuộc loại này, và nó chứa đựng mọi yếu tố nghệ thuật giảng dạy của khoa này, được dịch và phổ biến ở Tây Ban Nha ít lâu sau khi vị Giám mục thánh thiện này từ trần. Sưu tập thư đó luôn được các nhà hùng biện trong quốc gia này đánh giá rất cao. Thánh Anphong Ligouri đã đích thân sử dụng và hình thành hàng giáo sĩ nước này theo những nguyên tắc mà thư này đã gồm tóm (Thư bàn về cách thế rao giảng theo Phúc âm). Vào thời đại chúng ta, bản dịch tiếng Đức mà Sailor xuất bản đã gán cho vị thánh Giám mục Genève danh hiệu “Vị thầy và tiến sĩ của các nhà Giảng thuyết nước Đức” (Concessio tituli Doctoris S Franc. Salesii, Responsio ad animas, 33).

        Đặc tính chủ yếu thứ hai trong lời giáo huấn của Thánh Phanxicô Salê là tính kiên cố: Con số, sức tác dụng. Tính thức thời của các lý chứng và sự hợp lý sít sao đưa chúng về với mục đích của chúng. Kinh Thánh là nguồn gốc chính yếu cung cấp các lý lẽ Ngài dẫn chứng. Thật vậy, điểm riêng biệt của vị thánh tiến sĩ Kitô giáo là giảng dạy Lời Thiên Chúa chứ không phải là lời mình, và những tác phẩm của vị tiến sĩ vĩ đại của chúng ta hệ tại lời Thần linh, được trích dẫn, chống đỡ do những điểm chứng minh mạnh mẽ, và được nhắm đến trên bình diện thực tiễn: toàn bộ phần thặng dư chỉ là phần phát triển và chú giải. Không có những chương nào trong Cựu Ước và Tân Ước mà vị Thánh không rút ra một vài câu; ở nhiều chương, Ngài trích dẫn hầu như là từng hàng. Bản văn của Ngài cũng như bản văn của thánh Bernard yêu dấu, chỉ là một bản kết dệt bởi lời sách Thánh, với những lời cắt nghĩa và diễn dịch ngắn gọn: ở đây những đoạn thuyết phục cứ tiếp nối nhau liên tục dồn dập; nơi khác một chân lý duy nhất hay một sự kiện duy nhất nuôi dưỡng cả một chương trọn. Ngài thích đi sâu vào tận cốt tủy ý nghĩa Kinh thánh do việc “suy niệm Lời”, ý nghĩa này mặc khải cho vị rao giảng như một bí mật đặc biệt (thư về lời rao giảng); Ngài thủ đắc cách siêu việt ơn “cắt nghĩa những mầu nhiệm Kinh thánh, cung cấp chìa khóa mở các ẩn dụ, ném một luồng sáng mới soi chiếu những đoạn mờ tối” (sắc chỉ phong tiến sĩ). Vị Thánh Tiến sĩ luôn luôn theo bản Vulgata, nhưng Ngài cũng thường xuyên xử dụng bản Hy lạp hay bản Hipri để làm cho ý nghĩa được trong sáng hơn. Bản địch tiếng Pháp mang sắc thái riêng của Ngài, đó là thứ ngôn ngữ Ngài sử dụng vừa duyên dáng vừa đích xác, trừ trong quyển khảo luận về tình yêu Thiên Chúa ra, ở đó cứ cách từng quãng là Ngài lại xử dụng bản dịch mang tính chất âm luật các thánh vịnh của Desportes.

        Thánh Phanxicô Salê thích nói đi nói lại rằng các tác phẩm của giáo phụ không khác Kinh Thánh, nhưng nếu có ai khác là như “một tấm bánh bẻ vụn ra, một tấm bánh trọn vẹn”, và hạnh các thánh trong mối liên lạc với Phúc âm, là “một bản nhạc được hát lên” đối với ”một bản nhạc được ghi chép ra” (thư về lới rao giảng 5). Ngài cũng năng khai triển những nguồn này như là hệ luận của bản văn thánh. Đôi khi Ngài chỉ ghi phần cốt yếu, như trong 14 giòng của khảo luận về tình yêu Thiên Chúa đã làm cho Ngài phải đọc 1200 trang sách khổ đôi; ngoài ra, có ít bậc thầy trong Giáo hội Thiên Chúa đã một cách minh nhiên xây dựng lời giáo huấn của mình trên các truyền thống giáo phụ, các nhà kinh viện và các sử gia về Giáo hội. Chỉ cần đưa mắt nhìn bản liệt kê dài các tác giả mà Ngài trích dẫn cũng đủ thẩm định tầm mức rộng rãi của công việc nghiên cứu của Ngài; thông thường là do trí nhớ uyên bác, bản mục lục do công học hỏi nghiêm túc tạo nên, mà vị thánh Tiến sĩ rút ra được những kho tàng bác học, rồi Ngài rắc gieo vào những điều Ngài viết. Việc Ngài chọn lựa chắc chắn được chủ đề chi phối; nhưng ta thấy được rằng, những tác giả Ngài ưa thích hơn cả là thánh Augustino, người cha đẻ của nền thần học, thánh Grêgoriô Cả, thánh Gioan Kim khẩu, bậc cự phách của khoa hùng biện Kitô giáo; những cách thế diễn tả đầy nghị lực của thánh Giêrôm thu hút Ngài không kém gì vẻ dịu dàng của ngôn ngữ thánh Bernard xử dụng; còn về phần bút chiến, ta cần phải thêm thánh Cypriano, Tertuliano và đặc biệt là Vinh sơn Lerins.

        Trong các tác giả được trích dẫn trên đây, dù rất họa hiếm, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một bản văn đáng nghi ngờ: vị thánh Tiến sĩ đôi khi phải hãnh diện vì những thẩm quyền phụ thuộc và không thể đi trước lối phê bình của thời mình. Tuy thế, tính chính xác đã không bao giờ làm cho Ngài phải nhầm lẫn khi Ngài có thể về lại các nguồn văn liệu; những lời Ngài biện luận, được chính các đối thủ chấp nhận, đều có tính cách quyết định “đối nhân”. Ngoài ra, Ngài không bao giớ xác quyết tích cực dựa trên những chứng từ không chắc chắn; thêm vào đó Ngài còn xử dụng chúng như là một bản phụ lục cho các bằng chứng không thể bị tranh luận được rút ra từ Kinh thánh và Truyền thống đã được chấp nhận cách phổ quát.

        Những quyển sách đạo đức này không phải là nguồn duy nhất kể lại vinh quang Thiên Chúa cho vị Giám mục Genève đáng yêu; đối với Ngài, toàn bộ các trang sách thiên nhiên vĩ đại là một bản chú giải Lời Thần Linh sống động, và bí mật của chúng đã được mạc khải, trong tất cả trương độ và vẻ đẹp dáng khen ngợi của chúng (xem bài giảng về Thánh Phanxicô Salê, do M. Olier, tác phẩm ấn bản Mige, quyển thứ nhất), cũng bởi bài suy niệm này mà Ngài đã vào sâu trong những mầu nhiệm bị ẩn dấu dưới bức màn Kinh Thánh : Trong khuôn khổ rộng lớn gồm các khoa học tự nhiên, Ngài theo các tác giả như Pline và Mattioli, vị thánh chúng ta quen thuộc với những khoa học này; dầu vậy, những lối so sánh lý thú nhất, những hình ảnh chất phác mà Ngài điểm trang cho các điều Ngài viết hầu hết là kết quả của những quan sát cá nhân và cũng không kém phần đích xác và duyên dáng. Ở đây vị thánh kiêm nhà luân lý không bao giờ nhầm lẫn; nếu đôi khi Ngài có đi lạc đường, thì đó là vì dựa trên những sự kiện bất toàn của khoa học thời đó. Dầu thế, khi Ngài đưa ra một sự kiện ngờ vực, thì không bao giờ sự thật về các lý chứng lại lệ thuộc vào sự giả định, nhưng chỉ khi nào các điểm giống nhau là lời cắt nghĩa hay lối giải thích cho cách suy luận mà thôi và khi một giả thuyết có thể chống đỡ cho tư tưởng của Ngài mà cũng mang lại lợi ích tương đương như một sự đích xác tuyệt đối.

        Còn đối với lý trí nhân loại và đối với chứng từ của các tác giả ngoại đạo, thì Ngài gán cho chúng toàn bộ sức nặng mà họ đáng được, với những sự hạn chế đúng đắn; các triết gia cổ, những châm ngôn các nước, lịch sử các dân tộc lần lượt đến ủng hộ  các lời Ngài quả quyết; trong quyển khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, Ngài đi vào trong kế hoạch của Ngài là chứng giám cho đặc tính ưu việt của nền luân lý Kitô giáo, ngay cả từ phía người ngoại giáo nữa. Aristote, Platon, Epictète, Seneca, Plutarque được kêu gọi đóng vai trò : một phần, lợi ích tự nhiên có ở trong họ xác quyết những chân lý thuộc trật tự siêu nhiên; phần khác, lối lý luận chưa đầy đủ, những nguyên tắc sai trái, những tập tục hủ bại của họ chứng tỏ cần phải có mạc khải thần linh, sự trọn lành của nhân đức Kitô giáo. Trong việc Ngài trao đổi với thời cổ đại, đôi khi tác giả thánh không khinh chê nhưng lại còn xử dụng những nét quen thuộc trong nền văn chương cổ điển : vào thời đại chúng ta, sự cho phép riêng này làm phát sinh một thứ tương phản đối với nét cao quí thông thường thuộc lối văn Ngài viết; nhưng hình như bây giờ không phải là thế và những thứ của thời đại đòi phải có sự khoan dung này. Quả là điều lý thú khi điều tra những gì thánh Phanxicô Salê đã vay mượn từ các tác giả ngoại đạo đồng thời với Ngài, nhất là từ Montaigne mà Ngài đã cảm nếm tác phẩm đầu tay của ông (Le Christianisme de Montaigne, Blaise, Paris,1819): nét hùng biện khí thế của tác giả này, thái độ ông khinh thường những tư tưởng thấp hèn, tình yêu ông có đối với đại chúng, điều kiện con người này cần đến sự trợ giúp của chúng ta” (Essais, quyển 3, chg 13), làm ông được Đấng Thánh chúng ta tỏ tình thân ái, ngay từ thuở nhỏ, Ngài đã thông chia những ước vọng quảng đại của ông.

        Những trước tác hộ giáo của Thánh Phanxicô Salê đòi buộc Ngài tham khảo một loạt những tác giả được xếp loại khá khác biệt. Không đủ để Ngài trang bị cho mình những khí giới có ích nơi các văn gia uyên bác và chính thống, như Bellarmino, Ghenebrard, Canisio, Sanders, Cochlee mà thôi, nhưng Ngài còn phải vào sâu trong “những lý lẽ vô lý” (quyển tranh luận, phần 2, chương 1, đoạn 4) của các đối thủ lạc giáo, và mục lục các sách cấm mà Ngài có phép đọc (mục lục này sẽ được công bố vào cuối quyển 2 thuộc ấn bản này) chứng tỏ rằng, ngay từ góc cạnh này, vẻ uyên bác của Ngài cũng không có gì là thiếu sót chính trong những cuộc giao tranh tương tự như thế và khi thì người ta có thể khen ngợi tính vững chắc trong giáo thuyết của Ngài.

        Tính sắc bén hoàn toàn mang đặc tính trừu tượng của một vài nhà kinh viện đã vô cùng xa lạ đối với Ngài, và khi Ngài xử dụng cách lý luận và biện chứng pháp, thì chỉ là để vô hiệu hóa những kết luận của đối phương và để làm nổi bật sức mạnh một chứng từ mà Ngài rút ra từ Kinh Thánh hay từ một vài bằng chứng cao hơn. Dầu vậy đôi khi nhà hộ giáo không chút sợ sệt đóng chắc mũi đinh lý chứng thuộc một trật tự cao hơn bằng một thứ lý luận nhân loại, nhưng không thể bác bỏ được, mà Ngài đã vay mượn từ Thánh Tôma, từ các sách luật, từ Aristote, hay Ngài tút ra từ nguồn mạch sung mãn là kinh nghiệm riêng tư của Ngài và sự hiểu biết sâu xa về bản tính nhân loại.

        Tính chắc chắn của giáo thuyết được chứa đựng trong các bút tích của Thánh Phanxicô Salê là một vấn đề còn quan trọng hơn vấn đề về trương độ và kiên cố của chúng; chắc chắn nó đã được chứng minh đầy đủ bởi những bằng chứng được nêu lên trong những trang trước, nhưng sẽ không phải là điều không hợp thời, không phải lối khi ta đem chứng từ của chính vị thánh Tiến sĩ vào; tính khiêm nhường sâu thẳm của Ngài gán cho những lối diễn tả này một giá trị đặc biệt. Bà thánh Jeanne Francoise de Chantal xác quyết đã nghe Ngài nói rằng : “Thiên Chúa đã ban thưởng cho Ngài nhiều ánh sáng và sự thông hiểu để thấu triệt những mầu nhiệm đức tin thánh của chúng ta, và Ngài nghĩ mình nắm chắc cảm thức và ý ngắm của Giáo hội đối với các mầu nhiệm mà Giáo hội dạy cho con cái mình”. Việc vinh thăng Thánh Phanxicô lên hàng tiến sĩ Giáo hội toàn cầu không còn để lại một nghi ngờ nào về điểm này; nhưng không phải là điều vô ích khi gợi lại hai vấn nạn đã được nêu ra, một chống lại lời giảng dạy về tín lý, vấn nạn khác chống lại lời giảng dạy về luân lý của vị thánh Giám mục Genève. Điều thật lạ lùng! chính Bossuet là người nêu ra vấn nạn đầu tiên đó và chống lại một giáo thuyết mà ở nơi khác ông đã tán dương quá cao công nghiệp của nó. Bằng cách chứng minh đến độ minh bạch là khoa huyền bí giả tạo của Fenelon, không tìm được một nơi nương tựa nào trong quyển khảo luận về tình yêu Thiên Chúa hay trong quyển Đàm thoại, thế mà chính Bossuet lại trách cứ thánh Phanxicô Salê đã xử dụng những lối diễn tả ít chính thống vấn đề ân sủng, và không chính xác trong một vài điểm về thần học luân lý. Thẩm quyền của Vị Giám mục Meaux, trong khi gán cho những lối vu cáo này một sức nặng mà chúng không đáng được, đã phủ lên giáo thuyết của Vị Thánh chúng ta một bóng tối kéo dài trong chốc lát, nhưng đàng khác sẽ được chứng minh rõ ràng rằng Bossuet đã hoàn toàn xem thường ý nghĩa đích thật của các lời bị tấn công, và vị giám chức thánh thiện đã không còn lầm lẫn trong điều gì có liên quan đến chính chân lý hơn là trong cách trình bày chân lý này ra.

        Vấn nạn thứ hai được nêu lên để chống lại sự chắc chắn trong lời vị Tiến sĩ vĩ đại chúng ta giảng dậy, đó là, vì muốn làm cho mọi người có thể đạt tới lối đi nhỏ bé khó khăn của nhân đức, thì Ngài đã hạ thấp trình độ trọn lành Phúc âm xuống. Không sợ phải đính chính, ta có thể trả lời rằng nếu thánh Phanxicô Salê đã làm cho nhân đức trở nên dễ dàng, thì không phải theo nghĩa tuyệt đối, nhưng là tương đối. Trong khi chỉ cho các tâm hồn thành tâm thiện chí thấy được một con đường thánh hóa dịu dàng hơn và trông từ bên ngoài lại lại êm ái hơn, mà cho đó đã tạo dịp tốt cho sự đồi bại của bản tính tự nhiên là điều rất xa vời. Cũng thế, Giáo hội trong những lời tán dương được dành cho những lời giảng dạy của vị thánh Tiến sĩ, đã luôn luôn nối kết hai tư tưởng: Giáo hội khen ngợi Ngài “đã khôn khéo và dịu dàng biết cách đưa lòng đạo đức chân thật đến vừa tầm với của các tín hữu thuộc mọi điều kiện sống”, và hơn nữa, đã “chỉ cho mọi Kitô hữu thấy con đường trọn lành chắc chắn, dễ dàng và êm ái”, nếu quả là điều đúng đắn khi nói rằng vị tiến sĩ đáng yêu của chúng ta đã gạt khỏi lý tưởng về sự thánh thiện tính chất cứng nhắc của biệt phái, nó làm cho lý tưởng này bị méo mó đi, thì Ngài đã không biến đổi cũng không hạ thấp xuống nó xuống chút nào cả.

        Bossuet luôn luôn hoàn toàn đồng ý với thánh Phanxicô Salê trong mọi điều có liên quan đến việc hướng dẫn cụ thể các tâm hồn, đã thừa nhận công trạng của Ngài (bài tán dương thánh Phanxicô Salê, phần 2). Ông nói: “Ngài đã dẫn đưa lòng sủng ái về cho trần gian, nhưng đừng tin rằng Ngài đã giả dạng nó đi để làm cho nó ra dễ chịu đối với con mắt những người trần tục: Ngài dẫn nó về trong bộ áo tự nhiên của nó, với thánh giá, gai góc, với những đau khổ của nó”. M. Olier nghiêm khắc diễn tả cùng một tư tưởng đó khi ông gọi thánh Phanxicô Salê “là người khổ chế nhất trong mọi vị thánh”, bởi vì Ngài không chỉ đòi hỏi phải khổ chế chính thân xác, trong những giới hạn đúng đắn, mà còn phải từ bỏ hoàn toàn và không đứt quãng những ham muốn xác thịt, một sự đóng đinh trái tim toàn bộ”. Và làm thế nào Ngài không khổ chế được ở mức độ cao, người mà mọi lời giảng dạy chỉ có một mục đích duy nhất là hợp nhất không có trung gian giữa tinh thần con người với tinh thần Thiên Chúa, với Đấng Thiên Chúa đã được gọi bằng danh hiệu là một ngọn lửa thiêu đốt, một Đấng Thiên Chúa thánh thiện và rất mực ghen tuông!

        Như vậy, vị thánh Tiến sĩ không hạ thấp mức độ nhân đức xuống, nhưng Ngài khởi hứng cho linh hồn được nhiều sức lực hơn để bay lên đến những đỉnh cao trọn lành; Ngài thúc bách ý chí bằng những “lời bóng gió êm ái”, Ngài đề xướng cho linh hồn những động cơ hữu hiệu, những phương thế vừa vững chắc vừa thực tiễn. Quả thật, người ta có thể rút ra từ các tác phẩm của Ngài, như chính từ Kinh thánh, những đoạn trong đó sự buông thả nom như tìm được một sự thoái thác; dầu vậy không bao giờ được quên điều này là những nguyên tắc và qui luật sống của vị thánh Giám mục Genève tạo nên một hệ thống trọn vẹn được nhắm tới trong toàn bộ của nó: được cân nhắc như thế này, mỗi một phần được xử dụng như là đối lực với phần khác; tự do được chấp thuận, nhưng dưới những điều kiện làm nó không gây tổn hại; một tường lũy chỉ dẹp bỏ đỉ để được thay thế bằng một tường lũy khác, cũng hữu hiệu và còn cụ thể hơn nữa. Dầu dáng vẻ bề ngoài có khiêm tốn, nhưng những giới răn tu đức của Ngài lại nâng cao đến độ anh hùng về nhân đức do việc trọn vẹn đem chúng ra thực hành liên lỷ và do việc trọn vẹn con người lụy phục cảnh giam cầm do chúng tạo ra.

        Nói tóm, để nhắc lại ngôn từ cao cả của thánh Vinh sơn Phaolô: trong sách vở cũng như trong các lời rao giảng của mình, vị Giám mục Genève là Phúc âm biết nói: Phúc âm, với bộ luật từ bỏ trọn vẹn, nhưng Phúc âm cùng với những lời hứa êm ái của nó, với sự hiện diện, tình yêu và ân sủng của Đấng Cứu Thế! Đấng Cứu Thế đáng được thờ phượng này đang mạc khải cho thế gian biết những sự giầu sang vô tận của Thánh Tâm Người: Thánh Phanxicô Salê được chọn làm vị tiền hô hầu tỏ lộ tình yêu thần linh cách mới mẻ; Giáo hội cũng nói về Ngài rằng Ngài đã đến để san bằng những ngõ ngách hiểm trở, và Ngài có sứ mạng đặc biệt là làm cho mọi tín hữu nghiệm thấy chân lý về Lời thần linh : Ách ta êm ái và gánh Ta nhẹ nhàng. Thánh Gioan Tẩy Giả, giữa những bóng tối tăm của luật cũ, đã phải làm nổi bật nỗi bất lực của các luật điều Môsê qua sự tương phản giữa những nhân đức cứng nhắc của lề luật và lòng khoan dung của Vị Thầy thần linh của mình; bằng giới răn cũng như bằng gương sáng, thánh Phanxicô Salê phải trao ban cái bí quyết là thực hiện làm sao cho tạo vật được trở nên giống vị Thiên Chúa làm người cách trọn hảo, điều đó vừa là một đặc ân vừa là một bổn phận tối thượng của người Kitô hữu.

  1. Hình thức Tác phẩm của thánh Phanxicô Salê

        Dưới tên gọi hình thức tác phẩm của thánh Phanxicô Salê, chúng ta không chỉ hiểu về vẻ bề ngoài của các khảo luận, diễn từ, thư tín tạo nên pho sách gồm chứa những lời giảng dạy của vị Tiến sĩ vĩ đại chúng ta mà thôi, nhưng còn là cách thức quan niệm và diễn tả nữa, cũng quan trọng như chính chất liệu vậy; nó nằm ở bản thể tư tưởng. Hơn bất cứ một người nào, vị thánh Giám mục làm cho chúng ta thấy rõ được tư tưởng này; Ngài nói với người đồ đệ của mình trong nghệ thuật hùng biện : “Chính ở nơi đây mà tôi ao ước có nhiều sự tín nhiệm hơn nơi khác, vì tôi không theo ý kiến chung và dầu vậy điều mà tôi nói là chính sự thật. Vị triết gia có nói rằng hình thức trao ban hữu thể và hồn cho sự vật. Anh hãy nói cách tuyệt với, nhưng nếu không nói đúng, thì chẳng là gì cả: anh hãy nói ít, nhưng nói đúng, đã là nhiều rồi vậy”. Mang một tầm quan trọng cốt yếu, vấn đề này sẽ được nhắm tới dưới ba quan điểm: cách thế đặc biệt mà vị tác giả thánh trình bày và khai triển chủ đề các bài diễn văn nói hay viết, thể theo mục đích Ngài muốn tìm cách đạt tới; những phẩm chất của lối văn nói theo đúng nghĩa, lời lẽ Ngài xử dụng với những yếu tố sơ lược, việc chọn lựa từ ngữ và các nguyên tắc văn phạm.

        Mục đích của con người tông đồ này không chỉ là trình bày và bảo vệ giáo thuyết công giáo cách tổng quát mà thôi, nhưng nhất là và chính yếu là làm cho mỗi một tâm hồn cảm nghiệm được rằng Ngài phải tin các điểm tín lý thuộc đức tin chúng ta và đem những nhân đức Kitô giáo ra thực hành. Việc đem những nguyên tắc ra áp dụng là nét nổi bật, đặc điểm của vị thánh chúng ta, giữa những nhà thần học nổi bật nhất thời đại Ngài; một số khá đông các vị đó đã chiến thắng trong việc bảo vệ chân lý chống lại những người đổi mới, nhưng những pho sách vĩ đại được viết bằng tiếng Latinh của họ không ích lợi gì cả và hầu như là đối với đại chúng, không ai với bắt được. Sự thúc bách lớn lao của thời gian hiện tại tự nó buộc phải chấp nhận: cần phải tìm ra một con người biết nối kết được hai công nghiệp này; một đàng, chiếm hữu được sự hiểu biết về tín lý trong toàn thể trương độ của nó và cũng biết cách chọn lựa trong tổng kho gồm chứa các lợi khí là những chứng minh về đức tin công giáo những bằng chứng nào mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất và, nếu cần, thì rút từ tài năng uyên bác riêng tư mà thêm vào; và đàng khác, có khả năng trình bày những chân lý này cho đại chúng dưới một hình thức nào mà nét vững chắc của chúng không bị mất mát gì cả, trái lại còn cho chúng nên thu hút và phổ biến theo ý nghĩa đích thật nhất của hạn từ này. Con người mà có được một sự siêu việt như thế, được Chúa Quan phòng đào tạo, và còn được Người làm giầu bằng những nhân đức, những tài năng khiến được nên thích hợp với sứ mệnh cao cả của mình, đó là vị tiến sĩ vĩ đại của chúng ta.

        Chính vì luôn luôn theo nguyên tắc này, là làm cho mọi người có thể hiểu được, mà vị thánh giám mục đã chọn lựa và khai triển những lý chứng, gán cho những lý luận trừu tượng nhất một bút ý thực tiễn . Vì vấn đề Ngài đề cập đến quá rộng rãi cho nên Ngài thường bị ép buộc phải trình bày những bản tóm lược trong đó mỗi giòng gồm chứa một chứng minh mới, khi nào chủ đề cho phép là chỉ lấy một hay hai tư tưởng, thì Ngài thích theo dõi chúng cho đến cùng, kín múc cạn sạch, có thể nói như thế, để rút ra được từ đó một lối áp dụng sau cùng, dứt khoát; đó là lời Ngài không ngừng ghi khắc vào tâm trí các vị giảng thuyết. Bàn về những đề kiến thư của các giáo phụ, Ngài nói: “Sau khi đã trích dẫn chúng bằng tiếng Latinh, thì phải phát biểu ra bằng tiếng Pháp cho hữu hiệu và làm tăng giá trị của chúng bằng cách chú giải và diễn dịch cách sống động” Ngài còn nói thêm: “Những ví dụ có một giá trị lớn lao, chúng chỉ cần thích hợp, được đề nghị sít sao và áp dụng tuyệt hảo. Phải chọn những câu chuyện đẹp và oanh liệt, đề nghị rõ ràng và phân biệt, và áp dụng cho sống động, như các giáo phụ đã làm…” Và để đánh động và thuyết phục độc giả hay thính giả cho mạnh mẽ hơn, Ngài tự đồng hóa với họ, có thể nói được như thế, và thích nhân cách hóa, không chỉ trong các bức thư và các bài giảng của Ngài mà thôi, nhưng còn trong các khảo luận tổng quát, mà Ngài đề tặng Théotima hay Philotea. Thật vậy, Ngài theo một thói quen thông dụng được chấp nhận vào thời Ngài, nhưng còn hơn thế nữa là khuynh hướng thân tình của lòng Ngài. “Người ta phải nói cho người mình muốn nói” (alloqui hominem), Ngài nói cho Vaugelas là người bạn của mình; và người này là một trong những độc giả cần được dạy dỗ, giúp đỡ: Ngài cũng đặt mình trong vào trình độ mà chủ đề cho phép, Ngài ứng dụng các bài học của mình cho người dốt nát, trong lúc đó, với một nghệ thuật tuyệt vời, Ngài chiếm đoạt mối bận tâm của những trí khôn minh mẫn nhất. Sự cao vời siêu việt của Vị Thánh Tiến sĩ không bao giờ làm cho người ta cảm thấy rõ hơn ngoài vẻ đơn sơ trong sáng này, đó là tuyệt tác thiên tài và đức ái của Ngài khiến Ngài thật sự đã trở nên mọi sự cho hết mọi người để chiếm đoạt được tất cả mọi người.

        Những nhà chép Công vụ chư thánh nhận định : “Có lẽ viết một cách đúng đắn về những điều thuộc tín lý, luân lý và tu đức làm sao cho người dốt nát hiểu được mà không bị người học thức khinh bỉ thì khó hơn là dọn những khảo luận vĩ đại nhất về thần học: đó là một khó khăn chỉ được vượt thắng bởi những con người ở mức độ cao (summis viris)

        Ngoài việc nâng cao bậc thiên tài và sức mạnh tư tưởng đã làm cho vị thánh Tiến sĩ vĩ đại của chúng ta được nổi bật lên giữa những nhà văn đáng lưu ý nhất của thời đại Ngài, ngoài ra vẻ thanh lịch và duyên dáng của bút pháp Ngài còn đảm bảo cho Ngài một thứ công trạng khác. Được đặt vào buổi bình minh của thế kỷ vĩ đại, thánh Phanxicô Salê xuất hiện như một trong những khuôn mặt đẹp đẽ nhất thời đó. Được phát sinh từ trời cao để sưởi ấm lại các tâm hồn trong luồng khí thần linh tình yêu, Ngài cũng phải lôi kéo tinh thần bằng những hấp lực khiến không ai có thể chống lại nổi việc được phát sinh từ lời Ngài nói và chữ Ngài viết ra.

        Trong đường nét trổi vượt về bút pháp đã đánh dấu cho vị thánh chúng ta thì cùng một lúc cần phải phân biệt vai trò mà trí năng, trí tưởng tượng và con tim đã tạo nên được. Nền văn hóa trí thức mà Ngài lãnh nhận đã làm cho lời Ngài nói được chói sáng với ba phẩm chất nền tảng là “tính tự nhiên, minh bạch và sức mạnh”. Dầu vậy, cần phải thú nhận rằng phẩm tính thứ nhất, tính tự nhiên, kém phần rõ nét trong một vài tác phẩm vào thời Ngài còn thanh xuân, được phát triển tiệm tiến với giòng thời gian. Chính sự hài hòa này mà vị thánh giám mục hình như muốn chỉ cho thấy khi nói về bút pháp của quyển Dẫn nhập vào Đời sống sủng ái và quyển khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, Ngài thẩm định tính chất của nó là “vô cùng khác biệt” với bút pháp Ngài đã xử dụng trong quyển “Bảo vệ Thánh giá”. Thật vậy, trong tác phẩm cuối này, cũng như là trong một vài lá thư được viết vào những năm 1593-1598 và trong bài điếu văn đọc trước di hài quận công Mercoeur, tác giả thánh hình như đã quá chú ý chọn lựa những từ ngữ và vận luật các câu: Đó là sự hồi tưởng lại những năm ở ghế nhà trường, nhưng chẳng bao lâu sau Ngài vượt qua hết, trước là vì nhu cầu đòi hỏi, rồi vì những thứ văn chương của Ngài là thích sự tinh ròng. Trong quyển tranh luận, viết vội vã cho đại chúng, với một lòng nhiệt thành, hầu như là với bầu nhiệt huyết, Ngài đã vượt lên khỏi thói lệ hình thức của thời đại mình: sau đó một vài năm Ngài đã dứt khoát hiểu rằng “kỹ xảo tuyệt vời nhất đó là không có kỹ xảo”, Ngài đã đạt tới được một vẻ đơn sơ diễm lệ và tự nhiên, chớ không phải là một vẻ sơ sài giả tạo.

        Nét minh bạch rành rẽ và thích hợp trong các thành ngữ là những điểm cốt yếu để diễn tả tư tưởng, đã không thiếu đối với vị thánh tiến sĩ chúng ta, Ngài luôn luôn đi thẳng tới đích mình đã vạch ra. Vaugelas nói: “Tôi chưa bao giờ nghe nói cách dõng dạc và rõ ràng về toàn bộ những mầu nhiệm đức tin như Ngài đã làm” (Process. Remiss. Parisiensis, ad art 24). Vẻ đơn sơ nơi các quan niệm, nét đúng đắn ở các định nghĩa và kiểu phân biệt, thứ tự và cách phân chia luận lý các tiết mục, sự chuyển biến tuần tự từ điều đã biết đến điều chưa biết, những lối quảng diễn rõ ràng đều là những tia sáng chiếu soi lối đường cho độc giả, xuyên qua những bóng tối mầu nhiệm đức tin và những điều u ám của đời sống thiêng liêng.

        Sức mạnh từ các bài diễn từ của Ngài được đặt nền trên tính vững chắc và lối trình bày thích đáng các đề tài mà Ngài bàn tới, nhất là nó xuất hiện trong vẻ gọn gàng từ lời lẽ chắc chắn và đầy thẩm quyền, và đến từ cách thế mà Ngài tỏ ra là đã làm chủ được đề tài và ý thức về phẩm cách của chức vụ Ngài. Ngài không chỉ cắt nghĩa những điểm khó khăn mà thôi, nhưng như Sainte Beuve đã nói (Lundi, 3 Janvier,1853): “Bởi cách thế cao thượng, dịu dàng và trầm tĩnh của mình, Ngài đã ngăn cản chúng không được phát sinh” nhất là trong các tác phẩm bút chiến và đặc biệt là trong quyển tranh luận, được phát sinh từ ngòi bút nẩy lửa của Ngài mà ta phải học hỏi nghị lực của vị thánh chúng ta: ở đây Ngài có một thái độ hiếu chiến thích hợp để tạo được niềm tin tưởng cho các chiến hữu của mình và làm cho kẻ thù phải sợ hãi. Trong khi đọc qua các trang sách Ngài viết người ta có thể có được một tư tưởng đúng đắn hơn về các tác phẩm của Ngài, trong đó sức mạnh không phải là kém phần hiện thực, mặc dầu nó có mặc lấy một hình thức khác biệt và hoàn toàn được hòa lẫn với vẻ dịu dàng. Như vậy ta không được bao giờ làm mất đi phẩm tính này, là phẩm tính được coi như một trong những đặc điểm thuộc về bút pháp thánh Phanxicô Salê đã xử dụng : cũng một cách thức ấy, con cái luôn luôn thấy trước mắt chúng có treo thanh gươm dũng cảm của Cha chúng, và nhìn ngắm nó với một vẻ cung kính giữa những nét quen thuộc dịu dàng và điều đảm bảo an hòa trong cuộc sống gia đình.

        Trong khi tô mầu và trang điểm cho tư tưởng Ngài, trí tưởng tượng của vị thánh Giám mục Genève đã cho Ngài một luồng sáng mới và một sức mạnh to lớn hơn. Những lối so sánh rất phong phú dưới ngòi bút Ngài, bắt đầu từ lối so sánh được phát sinh từ một thành ngữ mặn mà duy nhất đến lối ám dụ cứ kéo dài ôm ấp cả một chương sách: chúng được đặc biệt sử dụng, hoặc để làm cho một quan niệm trừu tượng hay siêu hình được dễ hiểu hơn, hoặc còn để làm nổi bật vẻ đẹp của những tình cảm tương đồng hay đối nghịch nhau, nhờ những mối liên lạc hay những tương phản mà chúng trình bày. Chính phẩm tính này giữ vững được mối bận tâm liên lỷ của độc giả, cho dầu các chủ đề có kém phần thu hút: dưới ngòi bút nhà văn đáng yêu, không bao giờ có một sự gì là đơn điệu, không gì là vô vị; nhờ những cách miêu tả, những câu chuyện, lời đối thoại mà trình thuật trở nên một loạt những bức họa và thường chiếm được một vẻ duyên dáng hầu như là dễ gây cảm động. Ngoài ra trí tưởng tượng có đóng một vai trò quan trọng trong việc thành hình một vài câu văn sắc bén, có âm điệu rất nhịp nhàng, và đôi khi ngay chỉ ở trong một từ ngữ mà thôi thì tại đó tư tưởng của vị thánh tiến sĩ như được khảm vào chẳng khác nào một hạt kim cương đối với vàng vậy: một ngày kia Đức Piô IX có nói: “Không có gì đẹp đẽ, mạnh mẽ đánh động cho bằng một từ ngữ của thánh Phansicô Salê”.

        Ân huệ về trí tưởng tượng này đáng cho ta chú ý trong bút pháp của vị giám chức hồng phúc đến nỗi người ta có thể quả quyết rằng đó chính là “phẩm tính nổi bật” của quyển “Dẫn vào đời sống sủng ái” (M. Godefroy, lịch sử văn chương pháp thế kỷ 16). Lời xác quyết này sẽ làm cho ta nhầm lẫn dưới hai khía cạnh nếu ta để cái chính tùy thuộc vào cái phụ, và nếu ta không đích xác khi chỉ đề cập đến phẩm tính văn chương mà thôi: Vị thánh có một công trạng cao vời và còn hiếm hoi hơn biết mấy, đó là làm cho lòng mình rung động lên qua những từ ngữ, hướng đưa tâm hồn lên cao, từ những dấu nhấn mềm mại nhất, dịu dàng nhất đến văn cảm động tuyệt vời. Ngài dặn dò nên có thứ bút pháp đượm vẻ thân ái, ngay cả trong những khảo luận thần học nữa (thư gởi linh mục Feuillant ngày 15.11.1617); Ngài thúc đẩy mạnh mẽ các vị giảng thuyết (bức thư về lời rao giảng 7) : “Những lời chúng ta nói ra phải nồng nhiệt…, được phát xuất từ trái tim hơn là từ miệng lưỡi; Người ta nói hay, nhưng lòng nói với lòng, và lời nói thì chỉ nói cho lỗ tai nghe mà thôi”. Và không phải những tình cảm nhân loại hướng dẫn ngòi bút Ngài, nhưng chính dầu Thần Khí Tình Yêu, đức ái siêu nhiên: Ngọn lửa này đã thiêu đốt vị thánh văn sĩ, Ngài muốn nó được đốt lên và cháy sáng trong mọi tâm hồn. Tournemine nói: “Người ta cảm thấy rằng Ngài Yêu và Ngài được yêu, nhưng Ngài muốn rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng duy nhất được yêu mến”. Cần phải trở về nguồn mạch thần linh này để phán quyết bút pháp của vị thánh tiến sĩ chúng ta: Ngài dùng ngôn ngữ vườn địa đàng mà nói, ngôn ngữ trong trắng vô tội thủa ban đầu; theo lời thẩm định của một thế giới đồi trụy và bại hoại phong hóa thì đó là vẻ dịu dàng được diễn tả quá ẻo lả, một vẻ mềm mại vô vị và thái quá, nhưng đối với Ngài lại không có gì khác ngoài những điều chân thật, thanh cao và tinh ròng.

        Còn một phẩm tính nữa mà ta phải làm nổi bật; nó gồm tóm được tất cả, và bằng một từ ngữ duy nhất nó nói lên được đặc điểm mà thánh Phanxicô Salê đã viết và đã nói: Phẩm tính này là sự thuyết phục, nhưng sự thuyết phục dưới khía cạnh đáng mến nhất của Ngài, nó phát xuất từ “vẻ hùng biện thân tình và lời đàm thoại, còn công hiệu hơn cả nhũng bài diễn văn uyên bác và cao siêu” (Tournemine, như trên), vị thánh tiến sĩ không phải là một văn sĩ tầm thường, ngay khi cầm bút thì Ngài cũng là nhà hùng biện: hình thức hùng biện này được nhìn thấy không chỉ trong các bài giảng thuyết và quyển tranh luận của Ngài mà thôi, nhưng nhiều tác phẩm khác của Ngài như các thư từ, quyển tranh luận, khảo luận về tình yêu Thiên Chúa còn trình bày cho ta tình trạng của nó nữa, sự thuyết phục vốn là mục đích mọi bài diễn từ của Ngài, chính là kế hoạch mà tác giả thánh đề nghị trong mọi bút pháp của mình, từ đó phát sinh ra, như từ nguồn mạch của chúng, lối diễn tả rõ ràng, những kiểu diễn dịch chân lý mạnh mẽ, việc chỉ vẽ những phương thế để sử dụng hầu san bằng các chướng ngại vật, sức mạnh và vẻ oai phong của lời nói. Chính để đạt đến mục đích này mà trí tưởng tượng bị giam hãm, mối quan tâm được nâng đỡ; cũng còn chính trong mục đích này mà tấm lòng của văn sĩ vĩ đại đã tràn ngập, và thấm nhập mọi sản phẩm do ngòi bút Ngài sáng tạo ra với một sức mạnh không ai có thể chống lại được, nó lôi cuốn ý chí, dẫu hình như không có động cơ nào khác ngoài việc soi sáng trí năng cả; tắt một lời, để sử dụng chứng từ riêng biệt của Ngài (bức thư đã được trích dẫn trên kia, gởi cho linh mục Feuillant), “có hiệu lực” vì “có tình”.

        Bây giờ, điều quan hệ là cân nhắc ngôn ngữ theo nghĩa hẹp, trong những hạn từ và nguyên tắc của nó, như nó được vị thánh tiến sĩ của chúng ta xử dụng một cách khéo léo để làm phản ánh ra được tư tưởng của Ngài. Những kiểu khai triển mà chủ đề này đòi hỏi được áp dụng cách rõ ràng trước hết vào đặc tính tiếng mẹ đẻ của thánh Phanxicô Salê; nhưng trong một mức độ nào đó, chúng có thể liên kết tới tiếng Ý, và nhất là tiếng Latinh mà vị thánh chúng ta thường hay sử dụng. Ngài chỉ sử dụng tiếng Ý khi giao tiếp với sứ thần của Đức Thánh Cha ở Tôrinô, và các ông hoàng ở Piêmont, Nhưng Ngài thích nhất là tiếng Latinh. Ngài sử dụng tiếng này với vẻ vừa thanh tao vừa trong sáng, và các thư Ngài gởi chủ tịch Favre cho thấy được mức độ mà Ngài có được những bí quyết của ngôn ngữ Ngài thông thạo, và vẻ duyên dáng Ngài sử dụng để làm toát ra đến tận những nét hài hòa nhỏ nhất trong triền tư tưởng phong phú của Ngài. Dầu vậy, khi nói về các tác phẩm mà vị tiến sĩ đã từ đó làm vẻ vang cho tiếng Pháp, thì chính trong cách thế sử dụng ngôn ngữ này mà ta cần phải học hỏi cách đặc biệt mức phát triển thiên tài văn chương của vị thánh chúng ta.

        Ngôn ngữ của thế kỷ 16, đầy hăng hái và cất cánh, hòa điệu vào mầu sắc, nhưng lại thiếu vắng một bộ luật chắc chắn sở dĩ có thể giữ cho sự hiện hữu của nó được độc lập. Chẳng bao lâu sau, khi bị những lý thuyết chật hẹp hơn ràng buộc, nó mất đi những phong cách trung thực và tự do và ở giữa những điểm phong phú và trong sáng của nền văn chương thời đại mới, người ta có thể hợp lý mà tiếc xót những thành ngữ tự nhiên và đầy nhựa sống, tượng trưng cho những hữu thể hay những sự vật như chính thiên nhiên đã chỉ cho chúng ta ; những điểm khác biệt mà ngôn ngữ thế kỷ 16 và thế kỷ 19 cống hiến không tạo nên cho tiếng nói của thế kỷ 16 kia một vị thế thấp kém: nguyên tắc này một khi đã được thiết định, thì sẽ giúp ta nếm cảm được những nét duyên dáng và vẻ đẹp trong các bút tích của thánh Phanxicô Salê, vị thế cao vời mà chúng ta giữ được trong nền văn chương Pháp. Văn sĩ bậc thầy này biết tránh né những chướng ngại nguy hiểm của tính độc lập, và tìm thấy trong sự tự do một sức bật thiên tài của mình; trong khi đó ngòi bút thanh nhã, do bởi vẻ mềm mại và nét đơn sơ cao quý của nó, đã bảo tồn được cho ta tiếng nói mỹ lệ của thời đại Henri IV, rất được chúng ta ngày nay thán phục đúng đắn.

        Trong lời Ngài dẫn nhập cho quyển Khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, vị thánh có nói: “Điều rất cần thiết là xem vào tác phẩm người ta viết”; theo nguyên tắc này, thì Ngài đã biết cách sử dụng những công việc mà các người đi trước Ngài đã làm, lấy làm của riêng mình những vẻ duyên dáng trong bút pháp họ, không bắt chước những khuyết điểm của họ. Ngữ pháp La tinh, những chữ mới được vay mượn từ tiếng Ý sang, nhiều chữ ít được Ngài sử dụng hơn là hầu hết các người đồng thời với Ngài, mà dưới ngòi bút Ngài, không còn là một hạn từ ngoại quốc, nhưng là một thứ ngữ pháp đầy vẻ duyên dáng làm toát ra được trọn vẹn chất tinh khiết của tư tưởng Ngài và sức mạnh từ luận chứng Ngài nêu ra.

        Hàn lâm viện Pháp đã thẩm định sự trổi vượt của thánh Phanxicô Salê, không ngần ngại đặt Ngài vào với những tác giả “đã viết tiếng Pháp chúng ta cách thuần khiết nhất” và giới thiệu các tác phẩm của Ngài như là những mẫu mực (vào năm 1635. Xem lời dẫn nhập cho ấn bản 6 của quyển tự điển Hàn lâm viện). Vaugelas đã làm chứng về điều này cho vị thánh chúng ta; điều mà không ai có thể bác bỏ được (Process remiss Parisiensis, ad art 24): “Ngôn ngữ Ngài tinh khiết, nóng nẩy và mạnh mẽ thuyết phục, nhưng nhất là Ngài trổi vượt trong cách thích đáng khi dùng từ, Ngài đã chọn lựa cách quá tao nhã đến độ điều đó lại làm cho Ngài phát biểu ý kiến cách chậm chạp và muộn màng”. Vào thời của chúng ta, M. Godefroy đảm bảo rằng thánh Phanxicô Salê “phải được đặt ở hàng đầu gồm những người cho chúng ta được ăn nói, và Ngài thuộc con số ít ỏi những vị thầy mà ta không thể đọc cho thông suốt được cũng như không bao giờ được coi là đã học hỏi quá nhiều”.

        Nền văn chương thế kỷ 16 được biết đến khá nhiều trong những đường nét lớn, cũng như trong những nét hài hòa nhỏ mọn nhất, nên không cần phải học hỏi đặc biệt ở đây, điều này vượt ra ngoài mục đích lời dẫn nhập này. Chỉ với một vài từ ngữ mà thôi cũng đủ để phác họa nên những nét đặc biệt thuộc về tác giả thánh của chúng ta, những điểm cá biệt làm cho Ngài được nổi bật.

        Vào thời thánh Phanxicô Salê sống, những nguyên tắc văn phạm, bởi còn chưa được xác định, nên đã cho phép tư tưởng chuyển mình với nhiều vẻ co dãn và mềm dẻo: hy sinh hình thức cho tính hợp lý của thành ngữ, đó là luật đã được theo đuổi một cách tổng quát hơn, những lý thuyết cứng ngắc về cú pháp học thông thường đã để tùy theo sự thận trọng của tác giả, những chi tiết tỉ mỉ về phép chính tả, để mặc cho cơn chướng của ông; từ đó, những sự thay đổi này còn tiếp tục cho đến ngay cả vào cuối thế kỷ 17 nữa.

        Vì quen sử dụng tiếng La tinh với vẻ thanh tao và chắc chắn, theo sở thích, vị thánh tiến sĩ đã thường chọn lấy phép chính tả theo ngữ nguyên La tinh, khi Ngài có dịp chọn lựa cũng vậy, đối với những danh từ mà chủng loại có khác biệt vào thời Ngài, thì Ngài năng theo chủng loại tiếng La tinh; Ngài thường có liên hệ với những bản hòa hợp khác biệt của các tĩnh từ và động từ. Chúng ta biết rằng luật cũ về phân từ khác với luật thời mới ngay nay: luôn làm bạn với trật tự, thánh Phanxicô Salê theo những luật đó với nhiều vẻ thức thời: Ngài luôn luôn đứng về phía lý trí và nguồn nhã thú Dự liệu cho ngôn ngữ hiện thời của ta. Ngài thường đi trước những người đồng thời với Ngài, biết tránh những khuyết điểm của họ. Tóm lại, Ngài đã cống hiến một bước tiến về văn chương cho thời đại của ngài.

        Dầu vậy, hình như đôi khi có quang cảnh đối kháng xảy ra dưới ngòi bút của tác giả thánh; bên cạnh một nguyên tắc mà sự quán triệt và nhiệt liệt nơi thiên tài của Ngài đã biết cách khám phá ra và chấp nhận, người ta nhận thấy có một thứ bất hợp luật: sai lầm ở vẻ bên ngoài, sự bất hợp luật này, sự thay đổi trên thực tế lại là nét phân biệt của thời đại Ngài, nó cho phép văn sĩ uyên bác được theo triền dốc bản tính tự nhiên của mình. Tự do và thoát khỏi sự chú ý tỉ mỉ mà nhiều luật lệ về phép chính tả của chúng ta áp đặt lên, tinh thần Ngài tập trung nỗ lực vào sự trong suốt về lối diễn tả, nét trong sáng nơi các lý chứng, nét duyên dáng nơi các bức họa sống động và mầu mè. Sự phóng túng ra ngoài quy luật này thường xuyên có nơi vị thánh chúng ta được biện minh như sau: viết cùng một từ ngữ với những cách thế khác nhau, thông thường thì ngay cả vào những khoảng cách rất gần nhau; Ngài để cho ngòi bút được lướt chạy dưới sự soi sáng tùy cơ hội, không một chướng ngại nào có thể áp chế được sức bật thiên tài của Ngài.

        Việc sử dụng tổng dữ luận, quá thường xuyên vào thế kỷ 16 thích hợp đặc biệt với khí lực tinh thần của vị thánh tiến sĩ: nơi Ngài, tư tưởng thống trị, Ngài biết đúng thời đúng buổi mà hy sinh từ ngữ; một lý thuyết lạnh lùng và khô khan không làm tê liệt được hành động tư tưởng Ngài, nó xuất hiện với độc giả với trọn vẻ duyên dáng và sự quan tâm của thành ngữ tự nhiên Ngài sử dụng. Cùng một nguyên tắc hòa hợp được tìm thấy dưới mọi hình thức trong các bút tích của thánh Phanxic Salê, nhưng luôn luôn trong giới hạn những sự phóng túng ra ngoài quy luật được thời đại Ngài cho phép, luôn luôn mang tính chất hợp lý, phép chính tả của vị thánh chúng ta không có gì là chướng tai gai mắt: bị vẻ duyên dáng của bút pháp lôi cuốn , độc giả quên đi những biến hóa và khó khăn, đồng hóa với tác giả mình, tìm thấy được sự minh bạch và ánh sáng ở ngay giữa những bóng tối tăm mịt mù.

NHỮNG BẢN VĂN HAY NHẤT CỦA THÁNH PHANXOCÔ SALÊ

VỀ ĐỨC MARIA

  1. KINH CẦU NGUYỆN CÙNG ĐỨC MARIA TỐT LÀNH VÀ QUYỀN PHÉP VÔ CÙNG.

 Ghi chú

–   Đầu đề của Pie Régamy OP trong quyển Les plus beaux textes sur la Vierge Marie, do nhà xuất bản Brodard et Taupin, 1962.

–   Đôi dòng lịch sử:

        Người ta đã đặt nhiều vấn nạn về kinh này: Phải chăng nó là của thánh Phanxicô Salê? Một truyền thống cổ thời vào năm 1762 đã gán kinh này cho Đấng thánh Giám Mục Genève. Người ta thấy nó trong quyển Lịch sử việc khám phá ra bức ảnh Đức Bà Étang, do linh mục Dejoux biên soạn (ấn bản 1 năm 1762; ấn bản 2 năm 1853); trong quyển Lịch sử bức tượng Đức Bà Giải thoát hay Làm phép lạ, của một linh mục giáo phận Paris (Gaume, 1844); trong quyển Tháng Đức Maria, được rút từ những bút tích thánh Phanxicô Salê, do linh mục Huguet, v.v.

        Linh mục Dejoux kể lại rằng khi ở Dijon, vị thánh Giám Mục giảng Mùa Chay (1604), “Ngài có bàn tính với” bà De Chantal về việc “thành lập Dòng Thăm Viếng”. Điều này sai, người ta biết rằng cho đến năm 1607 vị thánh vẫn còn giữ bí mật của mình ngay cả đối với người con thiêng liêng của Ngài nữa. Tác giả tiếp tục: “Để cho dự định được thành công may mắn, cả hai vị vào nhà nguyện Đức Bà Étang, bái phục trước bức ảnh lạ, khiêm nhường dâng lời cầu nguyện – may mắn thay người ta đã giữ lại được lời nguyện sốt sắng được bảo đảm là đã được vị Giám Mục cao vời soạn thảo vào dịp đó…” Chắc chắn Ngài có thể soạn thảo; nhưng phải chăng nó được Ngài soạn ra, hay Ngài lại tìm thấy trên một “tấm bảng”, như kinh “Xin hãy nhớ” của Thánh Bernard trong nhà thờ Đức Bà Giải thoát ở Paris không? Mọi việc khảo cứu tìm tòi đều vô hiệu.

        Lời kinh thường được ghi lại theo nhiều bản khác nhau, nhưng lại giống nhau về nền tảng; bản văn sau đây phù hợp với đặc tính và bút pháp của thánh Phanxicô Salê; nó đơn giản hơn, hối thúc hơn, tín thác hơn, thực thà hơn (trích tác phẩm của thánh Phanxicô Salê, quyển 26, trang 427 – 426).

“Kính mừng Đức Trinh Nữ Maria rất êm ái, là Mẹ Thiên Chúa. Ngài là Mẹ và là Bà Chúa của con; vì vậy con khẩn nài Mẹ nhận con làm con và tôi tớ của Mẹ, vì con chỉ muốn Ngài làm Mẹ và Bà giáo của con. Bởi thế, lạy Mẹ tốt lành, diễm lệ và dịu hiền, xin Mẹ thương an ủi con trong mọi nỗi âu lo và khổ cực về phần hồn cũng như phần xác.

Lạy Đức Trinh Nữ rất dịu hiền, xin hãy nhớ và nghĩ lại, Mẹ là Mẹ của con và con là con của Mẹ, Mẹ rất quyền phép và con là một tạo vật đáng thương, hèn hạ và yếu đuối. Vì vậy, con khẩn nài Mẹ, lạy Mẹ dịu hiền, xin thống trị và bảo vệ con trong mọi nẻo đường, và hành động của con, vì than ôi, con là một kẻ đói khát và ăn mày đáng thương, rất cần đến sự bảo trợ thánh thiện của Mẹ. Vậy, lạy Trinh Nữ rất thánh, lạy Mẹ hiền của con, xin gìn giữ và giải thoát xác hồn con khỏi mọi sự dữ và nguy hiểm, và xin Mẹ hãy cho con tham dự vào hạnh phúc và nhân đức của Mẹ, và nhất là vào sự khiêm nhường thánh, lòng trong sạch tuyệt hảo và đức ái nồng nàn của Mẹ.

Lạy Đức Trinh Nữ diễm lệ, xin Mẹ đừng nói với con là Mẹ không thể, vì Con chí ái Mẹ đã làm cho Mẹ nên quyền phép vô cùng, trên trời cũng như dưới đất. Xin Mẹ đừng nói với con là Mẹ không buộc phải lo, vì Mẹ là Mẹ chung của mọi người đáng thương và đặc biệt là của con. Nếu Mẹ không có thể, thì con sẽ bào chữa cho Mẹ : Quả thật Người là Mẹ của tôi và Người yêu thương tôi như con cái vậy, nhưng Bà nghèo hèn đó thiếu của cải và quyền thế. Nếu Mẹ không phải là Mẹ con, thì con có lý mà gắng chịu; con sẽ bào chữa cho Mẹ là: Người có khá nhiều của cải để giúp tôi, nhưng than ôi, vì không phải là Mẹ tôi nên Người không yêu tôi.

Tuy nhiên, lạy Đức Trinh Nữ dịu hiền, Mẹ là Mẹ con, và Mẹ có quyền phép, thì làm sao con có thể bào chữa cho Mẹ nếu Mẹ không đỡ đần, cứu giúp và hỗ trợ con. Lạy Mẹ của con, Mẹ thấy không, Mẹ bị bó buộc phải ban cho con điều con xin.

Lạy Đức Trinh Nữ vinh hiển và là Đức Maria thân mẫu rất cao sang của con, đáng tán tụng trên trời dưới đất và vì danh dự và vinh quang của con Mẹ, xin hãy nhận con làm con Mẹ, xin đừng nhìn đến những sự khốn cùng và tội lỗi của con. Xin giải thoát hồn xác con khỏi mọi sự dữ và ban cho con mọi nhân đức của Mẹ, nhất là đức khiêm nhường. Sau cùng, xin ban cho con mọi ơn lành, lợi ích và ân sủng nào làm hài lòng Chúa Ba Ngôi, là Cha, Con và Thánh Thần. Amen.

  1. THÁNH PHANXICÔ SALÊ NÓI VỀ MẸ.

        Toàn vẻ duyên dáng của “nền nhân bản sủng ái” hiện diện nơi thánh Phanxicô Salê. Ta có thể trích dẫn những trang tín lý về Đức Maria.

Đức Giêsu và Đức Maria, là những vị trạng sư của chúng ta, Công chính và thương xót.

        (Theo điều mà ta hiểu biết, thì không có gì sửa lại cho được đúng hơn cách tái phân phối những chức năng công chính và thương xót mà quan niệm Kitô giáo đã thán phục lẫn lộn giữa Đức Kitô và Mẹ Ngài. Đây là vài dòng mang tính cách thật sự là giải phóng cho bất cứ một ai chịu những thái cực mà thời cổ thường hay bị rơi vào đó, khi đối đầu với những cuộc tấn công Thệ phản, người tông đồ miền Chablais và vị Giám Mục thành Genève bó buộc phải xác định giáo thuyết về điểm này; những cuộc tấn công này tạo nên cơ hội quá tốt; việc bó buộc như vậy chắc chắn có một chút ít công lênh nào đó trong vẻ chính xác tuyệt vời này).

        Con Ngài là trạng sư của chúng ta (1 Ga 2,1); Ngài là trạng sư của chúng ta; nhưng lại rất khác nhau, điều đó tôi đã nói đi nói lại cả trăm lần. Đấng Cứu Thế là trạng sư công bằng, vì Người biện hộ cho chúng ta, bằng cách dẫn chứng lề luật và lý lẽ vì chúng ta; Người đưa ra những chứng văn cho chúng ta, những điều này không là gì khác ngoài sự cứu chuộc, máu, thánh giá của Người; Người công bố với Cha Người rằng chúng ta là những kẻ mắc nợ, nhưng Người cho biết là Người đã trả thay cho chúng ta. Nhưng Đức trinh Nữ và các thánh là những trạng sư ân sủng; các Ngài khẩn cầu cho chúng ta để được tha thứ, và hoàn toàn nhờ cuộc tử nạn của Đấng Cứu Thế; các Ngài không phải dùng sự gì để chứng minh hầu công chính hóa ta cả, nhưng là phó thác cho Đấng Cứu Thế. Nói tóm tắt, các Ngài không kết hợp lời kinh của mình với sự chuyển cầu của Đấng Cứu Thế, vì những lời kinh này không có cùng một phẩm chất, nhưng giống như những lời kinh của chúng ta. Nếu Đức Giêsu Kitô cầu nguyện trên trời, thì người cầu nguyện theo Người, nhưng Đức Trinh Nữ chỉ cầu nguyện như chúng ta, theo Con của Ngài, nhưng lại có thế lực và được ưu đãi hơn. Anh em không thấy rằng mọi điều đó trở về với danh dự của Con Ngài và tán dương vinh quang Người hay sao?

Đức Trinh Nữ thánh thiêng an giấc.

        Nếu các tín hữu đầu tiên được nói đến là chỉ có một lòng và một linh hồn (Cv 4,32), vì họ thương yêu nhau trọn hảo, nếu thánh Phaolô không còn là Ngài sống, mà là Đức Kitô sống trong Ngài (Gl 2,20), vì trái tim Ngài kết hợp mật thiết vô cùng với trái tim Thầy mình, vì đó mà linh hồn Ngài như là chất trong trái tim Ngài vậy, để sống trong trái tim Đấng Cứu Thế mà Ngài yêu mến. Ôi lạy Thiên Chúa chân thật! Còn chân thật hơn biết mấy khi Đức Trinh Nữ thánh thiêng và Con Ngài chỉ có một linh hồn, một lòng và một sự sống, đến độ người Mẹ thánh thiêng này sống như không phải Ngài sống, mà là Con Ngài sống trong Ngài! Người Mẹ yêu mến nhiều nhất và được yêu mến nhất mà chưa hề có ai được như thế, nhưng yêu mến và được yêu mến với một tình yêu còn siêu việt không gì có thể so tầy sánh kịp hơn tình yêu của mọi đẳng cấp Thiên Thần và loài người, cứ theo tên Mẹ duy nhất và Con duy nhất cũng là những tên ở trên tất cả mọi tên khác trong vấn đề tình yêu.

        (Vị thánh tiến sĩ nhấn mạnh đến đặc tính phi thường của tình yêu nối kết Đức Giêsu và Đức Maria lại với bằng chứng là xét về mặt nhân loại Đức Giêsu chỉ có một người Mẹ và không có cha, và nguyên lý đầu thai của Người là chính Thánh Thần tình yêu. Ngài tiếp nối tư tưởng:)

        Không còn là sự liên kết nữa, nhưng là sự duy nhất tấm lòng, linh hồn và cuộc sống giữa Người Mẹ và Người Con này. Đã vậy, nếu người Mẹ này sống bằng sự sống của Con mình, thì Ngài cũng chết bằng cái chết của Con mình… Đức Trinh Nữ, Mẹ đã thâu tóm vào trong trí Ngài, bằng một trí nhớ rất sống động và liên tục, tất cả những mầu nhiệm đáng yêu đáng mến nhất trong cuộc đời và cái chết của Con Ngài, và luôn luôn đón nhận trực tiếp những sự soi sáng nồng nàn nhất của Con Ngài, Mặt trời công chính (Ml 4,2), đã gieo vãi trên nhân loại với ánh sáng gắt lúc chính ngọ Đức Ái của Người, thế rồi về phần mình, Ngài còn vận động chiêm niệm vĩnh viễn để cho ngọn lửa thánh thiên thuộc tình yêu này thiêu đốt trọn bộ con người Ngài như một của lễ toàn thiêu thơm tho đến nỗi Ngài chết vì yêu, linh hồn Ngài tràn ngập vui sướng và được mang về trong cánh tay yêu thương của Con Ngài. Ôi cái chết đầy sức sống tình yêu, ôi tình yêu gây chết chóc đầy sức sống.

        Có đôi ba người yêu thánh thiêng đã hiện diện lúc Đấng Cứu Thế chết, giữa những người này, ai yêu nhiều nhất thì đau đớn nhất. Vì lúc đó, tình yêu được ngâm trọn trong đau đớn và đau đớn trong tình yêu, và hết những ai yêu Đấng Cứu Thế mình cuồng nhiệt thì say yêu cuộc tử nạn và nỗi đau đớn của Người. Nhưng người mẹ dịu hiền, Đấng đã yêu mến hơn mọi người khác, thì lại bị lưỡi gươm đau đớn đâm thâu qua hơn mọi người: Nỗi đau đớn của Con là một lưỡi kiếm sắc bén xuyên qua trái tim Mẹ (Lc 2,35). Cũng như trái tim của Mẹ đây đã bị dán chặt, nối kết và hợp nhất với Con mình bằng một sự hợp nhất quá hoàn hảo đến nỗi không có gì có thể gây tổn thương cho người này mà lại không làm cho người kia phải sầu khổ mãnh liệt như vậy. Vì vậy, tấm lòng mẫu tử đây đã bị thương vì yêu, không chỉ sẽ không tìm phương thuốc để chữa trị vết thương, nhưng còn yêu mến vết thương mình hơn là mọi thứ săn sóc chữa lành, thân thiết giữ lại những vết thương đau mà Ngài đã nhận, vì thứ tình yêu đã phóng vào trong lòng Ngài, và liên lỉ ước mong cho chết đi, vì Con Ngài cũng đã vì yêu mà chết, Đấng như toàn bộ Kinh thánh và mọi vị tiến sĩ đã nói là Người chết giữa những ngọn lửa đức ái, làm của lễ toàn thiêu hoàn hảo vì hết mọi tội lỗi thế gian.

(Theo nhãn quan truyền thống khi khai triển, thì quả là điều thú vị mà ghi nhận rằng ở những đoạn kế tiếp, thánh Phanxicô Salê đã quy chiếu tỏ tường giáo thuyết của Ngài với thánh Mechtilda. Bà đã nhận lời Đức Mẹ cho biết rằng chứng bệnh gây tử vong cho Ngài là “một cuộc tấn công vũ bão đến từ tình yêu thần linh”, với thánh Brigitta và với thánh Gioan Đamascênô “chứng giám cho rằng Ngài chết cực kỳ êm ái”).

        Hỡi Theotima, cả hai đều đúng cả.

        Tinh tú đẹp tuyệt diệu, và tỏa ra những nguồn sáng dễ chịu. Nhưng nếu con chú ý, thì đó là do những luồng sáng lấp lánh và tia chói chan từ chúng phát sinh ra, coi như là chúng mạnh mẽ khai sinh ra ánh sáng, nhiều lần nhiều lượt khác nhau; hoặc vì ánh sáng của chúng yếu ớt không thể hành động liên tục với cường độ như nhau, hoặc là cặp mắt yếu đuối của ta không xem cho được liên tục và vững vàng, vì khoảng cách quá xa giữa chúng và những tinh đẩu này. Cũng vậy, thông thường ra thì các thánh nào chết vì yêu thì cảm thấy có nhiều điều ngẫu nhiên và bệnh chứng yêu thương trước khi viên tịch; sức mạnh như đà thúc đẩy, sức mạnh xung kích, sức mạnh xuất thần, sức mạnh gây bạc nhược, sức mạnh tạo cơn hấp hối và hình như tình yêu của các Ngài làm cho mình chết lành qua nỗ lực và bằng nhiều lần nhiều cách: điều này xảy ra vì sự hư nhược của tình yêu còn chưa được tuyệt đối hoàn hảo, tình yêu không thể yêu thương với một sự vững vàng đều đặn.

        Nhưng với Đức Trinh Nữ rất thánh thì hoàn toàn khác biệt. Vì như ta thấy cảnh bình minh tươi đẹp ló rạng ban ngày không phải qua nhiều lần nhiều cách và qua chấn động, nhưng là qua một thứ khuếch trương và phát triển liên tục nào đó, hầu như là có thể cảm thấy được cách vô hình, đến độ là quả thật người ta thấy nó cứ sáng rực ra, nhưng mà đồng thời không một ai thấy được là có một sự gián đoạn, tách biệt hay ngắt quãng nào đó trong sự tăng trưởng, thì cũng có thể tình yêu thần linh đã tăng triển mỗi một giây phút trong lòng trinh trong của Đức bà vinh hiển, nhưng qua những sự phát triển êm ái, dịu dàng và liên tục, không xao động, không chấn động hay một sự cưỡng bức nào cả. Ôi, không, hỡi Theotima, không được gán một nét giao động kịch liệt nào vào trong thứ tình yêu thiên cung có nơi lòng thân mẫu Đức Trinh Nữ, vì tự nó, tình yêu thì êm ái, diễm lệ, dịu dàng và yên tĩnh: Nếu đôi khi có những cuộc tấn công, nếu nó gây chấn động cho tâm trí, thì bởi vì nó gặp thấy sức kháng cự; nhưng khi tâm hồn dành cho nó những lối đi, không gặp tương phản, xung đột, thì có những tiến bộ êm ái, với một vẻ ngọt ngào không gì so tầy sánh kịp. Cũng thế, lòng yêu thương thánh thiện sử dụng sức mạnh của mình trong lòng trinh trong của Mẹ Thánh thiêng mà không có gắng sức, dữ dội kịch liệt, vì nó không thấy có sự chống đối ngăn cản nào. Vì như người ta thấy những con sông lớn gợn sóng và tung tóe những tia nước với nhiều tiếng động ở những nơi gập ghềnh, ở những đoạn có đá tảng to và đá ngầm chống lại và ngăn chặn không cho nước chảy hoặc trái lại, khi ở đồng bằng thì chúng chảy và gợn sóng êm ả lăn tăn, không cần nỗ lực; cũng thế đối với tình yêu thần linh, khi thấy những linh hồn ngăn chặn và đối kháng lại, như trên thực tế mọi linh hồn đều như vậy, mặc dầu cách thế có khác nhau, tình yêu có những bạo lực, khi chống lại những khuynh hướng xấu, đánh động cõi lòng, thúc đẩy ý muốn bằng nhiều cách, lay động và nỗ lực khác nhau, hầu dẹp chỗ hay ít là vượt qua những chướng ngại này. Nhưng nơi Đức Trinh nữ thánh thiêng, tất cả đều ưu đãi và tán trợ cho triều sóng tình yêu thiên quốc; những tiến bộ và phát triển của tình yêu này sẽ to lớn khiến không ai có thể đo lường được, hơn cả các tạo vật khác cộng lại, tuy nhiên là những tiến bộ dịu dàng êm ái và yên tĩnh vô cùng. Không, Ngài không ngất đi vì tình yêu, vì trắc ẩn bên thập giá Con Ngài, nhưng còn đi vào tình yêu cách nồng nhiệt và đau đớn nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra được; vì, mặc dầu việc đi vào có vô cùng sâu xa đi nữa, thì nó vẫn vừa mạnh mẽ vừa dịu hiền cùng một lúc, vừa uy lực vừa yên tĩnh, vừa mau mắn vừa êm ái, được cấu tạo bởi một sức nóng cháy bỏng nhưng lại dịu dàng.

        Này Theotima, tôi không nói là trong linh hồn Đức Trinh Nữ rất thánh không có hai phần và như vậy là hai sự thèm muốn, một là theo tinh thần và lý trí cao thượng, hai là theo giác quan và lý trí hạ đẳng, đến độ Ngài có thể cảm thấy những tị hiềm và xung đột của một sự thèm muốn này: vì tác dụng này cũng xảy ra cả nơi Chúa chúng ta, Con Ngài nữa. Nhưng tôi nói rằng nơi Đức Mẹ thiên đàng, mọi tình thân ái đều được xếp đặt và phối trí cách tốt đẹp đến nỗi tình yêu thần linh thi thố quyền lực và quyền thống trị nơi Ngài cách rất êm dịu, khiến Ngài không bị nhiều ý muốn và khát vọng khuấy động, không do sự tương phản giác quan, vì sự gớm ghét của tham dục tự nhiên cũng như những giao động giác quan không bao giờ đi đến tội, ngay cả đến tội nhẹ nữa; trái lại tất cả những điều đó đều được sử dụng một cách thánh thiện và trung thành để phục vụ tình yêu thánh hầu tập luyện những nhân đức khác, mà phần đa số chỉ được đem ra thực hành giữa những khó khăn, đối kháng và mâu thuẫn.

        Như vậy, Đức Mẹ rất thánh không có gì nơi mình gây cản trở tình yêu thần linh của Con Ngài thực hiện, nên đã kết hợp với Người bằng một sự hợp nhất không gì có thể sánh được, bằng những cơn xuất thần êm ái, dịu dàng và không gắng sức; những cơn xuất thần mà phần cảm giác không để cho Ngài phải hành động, bởi đó cũng không gây ra một sự bất tiện nào cho việc hợp nhất với tinh thần, cũng như việc cầm trí hoàn toàn không tạo dịp giải khuây cho giác quan. Đến nỗi cái chết của Đức Trinh Nữ đầy dịu dàng hơn cả điều người ta có thể tưởng tượng ra được, Con Ngài lôi kéo Ngài cách dịu ngọt theo mùi hương thơm của mình (Diệu ca 1,3), còn về phần Ngài, Ngài không theo mùi hương thánh thiêng Con mình mà vào trong lòng tốt lành của Con mình. Và mặc dầu linh hồn thánh thiện này rất mực yêu mến thân xác cực thánh, rất tinh tuyền và rất đáng yêu của mình, thì Ngài cũng vẫn dễ dàng từ bỏ, không chút đối kháng, giống như bà Giuđitha trinh bạch, dầu bà yêu thích áo đền tội và góa bụa lắm, nhưng vẫn vui lòng rời bỏ, lột ra để mặc áo cưới vào, khi ra đi chiến thắng Holopherne (Gđt 10), hay như Jonathan, vì yêu mến David, anh đã cởi áo mình ra (1 Vua 18,4). Tình yêu đã trao ban cho vị hôn thê thần linh này những sự đau đớn vô cùng khiến có thể chết được lúc ở gần bên thánh giá; thật vậy, là điều hợp lý, cái chết đã cho Ngài những nỗi vui sướng khôn lường của tình yêu vào giây phút cuối cùng của cuộc đời.

(Khi so sánh trang này với trang của Bossuet viết về sau, ta sẽ thích thú thấy rằng Bossuet được cảm hứng từ đó).

Đức Maria lên đền thờ dâng mình.

(Tuy nhiên, trong mối tương quan với các vị tiến sĩ thời cổ sơ, Trung cổ và với các vị kế tục trực tiếp sau Ngài theo trường phái Pháp, thì khi Ngài nói về Đức Trinh Nữ, ta không thấy thánh Phanxicô Salê có gì độc đáo về mặt giáo thuyết cả. Bù lại, việc Ngài nhấn mạnh thì vẫn là riêng biệt của mình Ngài có mà thôi).

        Quả là một hành vi đơn sơ đáng khen ngợi, là hành vi của một Em Bé quang vinh, dầu còn bú mẹ nhưng vẫn không bỏ chuyện trò với Đấng thần linh quyền phép. Bé kìm hãm không nói cho đến thời đến buổi và hơn thế nữa, Bé cũng chỉ như các trẻ em khác cùng lứa tuổi, mặc dầu luôn luôn ăn nói cách thích đáng. Em ở trong lòng bà thánh Anna như một con chiên nhỏ suốt thời gian 3 năm, sau đó em thôi bú và được đưa vào đền thờ hiến dâng như Samuel, là người đã được mẹ mình dẫn đi cung hiến cho Chúa vào cùng lứa tuổi đó.

        Lạy Thiên Chúa của con, con hằng ước ao làm sao cho mình có thể trình bày nỗi yên ủi và êm ái trong chuyến đi này bắt đầu từ nhà thánh Joakim đến đền thờ Giêrusalem một cách sống động. Em Bé này hài lòng biết mấy khi thấy là giờ phút mình hằng mong ước đã đến. Những ai lên đền thờ để thờ lạy và dâng của lễ cho Đấng thần linh quyền phép cũng ca hát suốt cuộc hành trình; và vì đã từng có ấn tượng này cho nên vua tiên tri Davit đã cố ý sáng tác một thánh vịnh mà Hội thánh truyền cho ta đọc mọi ngày trong kinh thần vụ. Thánh vịnh bắt đầu với những lời này: “Beati immaculati in via: phúc cho ai đường lối tinh tuyền (Tv 118), không vết tội: “trong đường lối Chúa”, nghĩa là việc tuân giữ điều răn Ngài. Như vậy, các vị thánh hồng phúc Joakim và Anna đã hát khúc ca này dọc đường; và Đức Bà là Bà Chúa vinh hiển của chúng ta cũng hát theo các vị ấy. Ôi lạy Thiên Chúa, thật là du dương thánh thót ngần nào. Mẹ đã hát xướng lên còn diễm lệ hơn các Thiên thần ngàn lần, các vị này không bao giờ hát được như vậy; các vị ngạc nhiên đến nỗi đã đến nghe bản hòa âm thiên giới, nhóm này rồi lại nhóm kia, và tầng trời rộng mở, các vị nghiêng mình trên lan can Giêrusalêm thiên quốc để nhìn xem và thán phục Em Bé rất đáng mến yêu này. Tôi muốn nói điều này sơ qua vào khoảng thời gian còn lại trong ngày, để gợi đề tài cho quý vị, mong nói về sự dịu ngọt của chuyến đi này; và cũng để cho quý vị động lòng lắng tai nghe bài ca vịnh thần thiêng này mà vị công chúa vinh hiển cất giọng hát sao mà du dương quá, và với đôi tai sủng ái, vị thánh Bernad rất diễm phúc nói rằng lòng sủng ái là lỗ tai linh hồn (Trích tác phẩm Les plus beaux textes sur la Vierge Marie, do nhà xuất bản Brodard et Taupin, 1962, trang 292 – 301).

  1. PHƯƠNG PHÁP LẦN HẠT.

Ghi chú: Đôi dòng lịch sử:

        Ta đọc thấy trong quyển Năm thánh của dòng Thăm Viếng (thủ bản được lưu giữ ở đan viện Annecy): “Ngày 14 tháng 8, thánh Phanxicô Salê đi thăm nhà thờ thánh Gioan Tẩy Giả ở Aux với một lòng sủng ái đặc biệt… Chính trong ngày hôm nay mà vị Giám Mục vĩ đại này đã soạn thảo và đã do bàn tay mình viết ra phương pháp lần hạt, vì Ngài thấy trong giáo xứ đó vài ba linh hồn tốt lành rất yêu mến Mẹ Thiên Chúa nhưng lại rất ít được chỉ vẽ về mầu nhiệm cuộc sống thánh thiện của Người. Với tình phụ tử, Ngài sửa lỗi cha xứ, vị này đã gìn giữ bút tích vị Giám mục thánh thiện cách trìu mến như một thánh bút quý báu, đây là bản văn đó: Con cầm tràng hạt ngay ở Thánh giá”…

        Phương pháp này được ghi tên trong Tác phẩm của vị thánh, vào năm 1634 (Tolose, Bosc) được xếp ngay sau chương cuối cùng của quyển dẫn vào Đời sống sủng ái (trang 110) và ở trước phần phụ lục của quyển sách này; trong ấn bản năm 1641, bản văn cũng được giữ y nguyên như vậy trong phần 1. Tại sao người ta đã đặt nó vào chỗ này, trong khi mà một phương pháp khác, được linh mục De la Rivière ấn bản thì lại được xếp vào trang 1051 theo ấn bản năm 1637, giữa những thành tích của chân phước Phanxicô Salê? Có lẽ nó đã được cho vào trong một vài ấn bản của quyển dẫn nhập trước năm 1637, như người ta đã làm một vài lần trước rồi (trích Tác phẩm của thánh Phanxicô Salê, quyển 26 trang 233-235).

(Phương pháp thứ nhất để lần hạt, được soạn ở giáo xứ thánh Gioan vùng Aulps, ngày 14.8.1606).

        Con cầm tràng hạt ngay ở Thánh giá, sau khi đã dùng Thánh giá mà làm dấu, con hãy hôn kính và đặt mình trước mặt Thiên Chúa, vừa làm vừa đọc trọn kinh tin kính.

        Khi lần hạt lớn đầu tiên, con kêu cầu Thiên Chúa, xin Ngài chấp nhận công việc con muốn dâng Ngài và xin Ngài dùng ơn hộ vực con lần hạt nên.

        Đến ba hạt nhỏ đầu tiên, con cầu xin lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ thánh thiện, chào kính Người ở hạt đầu tiên như là người con yêu quý nhất của Chúa Cha; hạt thứ hai, như là Mẹ của Chúa Con, và hạt thứ ba như là hiền thê khả ái của Chúa Thánh Thần.

        Đến mỗi chục, con suy nghĩ về một mầu nhiệm của phép Mân Côi, theo sự thoải mái trong người, con nghĩ lại mầu nhiệm mà con tự đề nghị ra cho mình, chủ yếu là con đọc tên cực thánh Maria và Giêsu, con đọc với một niềm tôn kính lớn lao trong lòng và ngoài mình nữa. Nếu con có những tâm tình khác như đau đớn vì những tội đã phạm, hay quyết định sửa đổi, thì con có thể suy niệm suốt cả tràng hạt, hết sức bao có thể, con nhớ lại tâm tình này hay tâm tình khác mà Thiên Chúa sẽ soi sáng cho con, nhất là khi con đọc hai tên cực thánh Chúa Giêsu và Đức Maria.

        Đến hạt lớn ở chục cuối cùng, con cám ơn Thiên Chúa vì đã ban cho con ơn là đã được lần hạt. Và khi đến ba hạt nhỏ kế tiếp đó, con chào Đức Trinh Nữ thánh thiêng Maria, cầu khẩn Người ở hạt đầu, dâng trí khôn cho Cha hằng có đời đời, để con có thể suy nghĩ đến lòng Ngài mãi mãi thương xót; hạt thứ hai, con cầu khẩn Người dâng trí nhớ con lên Chúa Con, để liên tục tưởng nhớ đến cái chết và cuộc khổ nạn của Ngài, hạt thứ ba, con cầu khẩn Người dâng ý chí con cho Chúa Thánh Thần, để con được bừng cháy bởi tình yêu thánh thiên của Người mãi mãi.

        Đến hạt lớn ở đầu, con cầu khẩn Đấng Thần linh quyền phép khấng ban cho công việc này làm vinh quang Ngài và vì phần ích cho Giáo hội Ngài, con cầu khẩn Mẹ gìn giữ con trong lòng Giáo hội và dẫn đưa mọi kẻ lầm lạc trở về và cầu Chúa cho hết tất cả bạn bè; con kết thúc như khi đã bắt đầu, bằng việc tuyên xưng đức tin, qua kinh tin kính và làm dấu thánh giá.

        Con mang tràng hạt ở thắt lưng hay ở nơi nào khác dễ thấy, như một dấu thánh qua đó con muốn quả quyết là con ước ao làm tôi tớ Thiên Chúa Đấng cứu chuộc ta, và của hiền thê rất thánh thiêng của Ngài, là Trinh Nữ và là Mẹ, và sống như con thật của Giáo hội Công giáo, Tông truyền và Rôma.

SỰ KHÔN NGOAN CỦA THÁNH PHANSICÔ SALÊ.

Tác giả: Francis X.Commolly

Lời giới thiệu:

 Với đề tựa: Sự khôn ngoan của thánh Phanxicô Salê, Francis X. Commolly, giáo sư Anh văn tại Đại học đường Fordham muốn trình bày cái nhìn của ông về vị thánh tiến sĩ. Chúng tôi trích ra từ ấn bản dành cho loại sách bỏ túi, tháng 10 năm 1963.

 Bài này gồm 2 chương:

        38: Lời khuyên các người kết bạn.

        39: Đức liêm chính trong tình chăn gối.

Chúng tôi rút ra từ bản dịch cuốn Sống thánh giữa đời, các trang 165… 274…

Chương 38

LỜI KHUYÊN CÁC NGƯỜI KẾT BẠN

        “Hôn phối là một bí tích cao trọng, tôi có ý chỉ về Chúa Giêsu Kitô và Giáo hội” (Êphêsô 5,32). Nó quý trọng đối với mọi người, nơi mọi người và trong mọi sự, nghĩa là trong mọi phần. Với mọi người, vì các người đồng trinh cũng phải tôn trọng cách khiêm cung. Nơi mọi người, vì nó thánh thiện nơi các người nghèo cũng như người giầu. Trong mọi sự, vì nguồn gốc, mục đích, ích lợi, hình thức cũng như chất thể nó đều thánh. Đây là nơi ương trồng hạt giống đạo Chúa Kitô, nó giũ tung các tín hữu ra đầy mặt đất, để làm đủ số các kẻ được chọn trên trời. Bởi thế nên bảo toàn hôn nhân là vấn đề tối ư quan trọng đối với quốc gia, vì đây là nguồn của mọi dòng suối khác.

        Chớ gì Chúa Giêsu được mời đến dự mọi hôn nhân như đã dự đám cưới thành Cana, chắc hẳn rượu an ủi và chúc lành sẽ không bao giờ còn thiếu nữa. Tại sao thường chỉ có một chút rượu lúc đầu, là vì đáng lẽ mời Chúa Giêsu, người ta lại mời Ađonis, và thần vệ nữ1 đến thay vì Đức Mẹ. Ai muốn có những con cừu non và vằn như của Gia Cóp (sách Sáng thế 30,32) phải đem đến cho chúng những chiếc đũa nhỏ nhiều màu. Ai muốn thành công trong hôn nhân, phải đặt trước mặt mình sự thánh thiện và cao trọng của bí tích ấy vậy. Nhưng thường thay vì sự đó, ta chỉ thấy diễn ra muôn ngàn bừa bãi, phóng túng: nào vui chơi, nào tiệc tùng, nào ăn nói… Có lạ gì nếu hậu quả lại đáng tiếc.

        Tôi khuyên vợ chồng hãy yêu nhau, như Chúa Thánh Thần đã căn dặn nhiều trong Kinh Thánh. Hỡi các đôi vợ chồng, nếu chỉ khuyên các ngươi: “Hãy yêu nhau với tình ái tự nhiên”, thì chưa đủ, vì đôi chim gáy cũng yêu được. Hoặc nói: “Hãy yêu nhau với tình ái nhân loại”, thì cũng chưa đúng, vì các người ngoại giáo vẫn làm. Nhưng tôi nói, tiếp lời thánh Tông đồ cả: “Chồng phải yêu vợ như Chúa Giêsu Kitô yêu Hội thánh. Còn vợ phải yêu chồng như Hội Thánh yêu Đấng Cứu chuộc mình vậy” (Êphêsô 5,25).

        Chính Thiên Chúa đã đem Eva làm vợ cho tổ tiên Adong. Thì hỡi các bạn, chính Ngài cũng dùng tay vô hình mà thắt buộc cái dây thánh hôn phối của bạn lại, và đã ban người này cho người kia. Vậy tại sao các bạn lại không yêu thương nhau với tình yêu thánh siêu phàm?

        Hậu quả đầu tiên của tình yêu ấy là kết hợp bất khả phân ly hai trái tim bạn. Nếu người ta dán hai mảnh gỗ thông lại với nhau, mà keo lại mịn thì hai miếng ấy gắn chặt với nhau đến nỗi phải chẻ ra mới rời nhau được. Thiên Chúa đã lấy máu Ngài mà kết hợp chồng với vợ, nên sự kết hợp ấy chặt chẽ đến nỗi hồn có lìa khỏi xác của họ, chứ họ không lìa nhau. Sự kết hợp nơi đây không nói trước hết về thể xác, nhưng về tâm hồn, về tâm tình và tình yêu.

        Hậu quả thứ hai của tình yêu ấy là sự trung tín bất khả xâm phạm đối với nhau. Ngày xưa con dấu thường được khắc ngay vào nhẫn tay người có chức quyền, như Kinh Thánh cũng cho biết. Vậy đây là ý nghĩa bí nhiệm của nghi lễ hôn phối: Bởi tay Linh mục, Hội thánh làm phép nhẫn, rồi trao cho chồng trước hết, như để chứng tỏ Hội thánh đóng dấu vào trái tim bởi bí tích ấy, ngõ hầu không bao giờ tên hay tình ái của người đàn bà nào khác còn xâm chiếm trái tim ấy bao lâu người vợ Chúa ban cho mình còn sống. Sau đó chồng xỏ nhẫn vào ngón tay vợ để nàng hiểu rằng, không bao giờ trái tim mình còn được yêu người đàn ông nào khác, bao lâu chồng mình còn sống, người đàn ông mà Chúa Giêsu vừa ban cho nàng.

        Hậu quả thứ ba của hôn nhân là sinh sản và dưỡng dục con cái. Hỡi vợ chồng Công giáo, đây là vinh dự lớn lao cho các bạn! Thiên Chúa muốn tăng số các linh hồn có thể đời đời chúc tụng và ngợi khen Người, nên đã cho các bạn cộng tác vào việc lớn lao tạo thành thân xác, trong thân xác đó Ngài sẽ tạo dựng và ban cho một linh hồn hằng sống.

        Người chồng hãy gìn giữ luôn một tình yêu dịu dàng bền bỉ và tha thiết đối với vợ. Người phụ nữ đã rút từ sườn gần bên trái tim của người đầu tiên, chính là để nàng được chồng yêu thương cách thiết tha âu yếm. Các nhược điểm, yếu đuối, tàn tật, bệnh hoạn thể xác hoặc tinh thần của vợ không thể làm bạn khinh miệt họ chút nào, trái lại, gợi bạn đến tình thương cảm dịu dàng và yêu thương. Vì Thiên Chúa đã dựng nên họ như thế, ngõ hầu lụy phục bạn, cho bạn càng được thêm danh giá và tôn trọng và dù có họ ở bên làm bạn đường, bạn vẫn là đầu và ở trên. Còn người vợ, hãy yêu mến âu yếm, song là tình yêu tôn trọng và kính nể đối với người chồng, mà Thiên Chúa đã ban cho bạn. Vì chính Thiên Chúa đã tạo nên một phái nam mạnh mẽ và uy thế, và đã muốn người phụ nữ lệ thuộc người nam, xương do họ, thịt bởi thịt họ mà ra, và người nữ do một xương sườn phía dưới tay người nam mà ra, là để tỏ rằng, người nữ phải ở dưới cánh tay và sự hướng dẫn của chồng. Toàn là Kinh Thánh căn dặn rõ ràng cho bạn sự tùng phục đó, song sự tùng phục đã được nên nhẹ nhàng không những khi sách Thánh dạy bạn tùng phục trong yêu thương mà còn truyền cho chồng phải thi hành quyền họ với tất cả tình thương hiền từ và êm ái.

        Thánh Phêrô viết: “Chồng hãy cư xử nhẹ nhàng với vợ như là người mỏng dòn yếu đuối hơn, và hãy tôn trọng danh giá họ” (1 Pr 3,7).

        Nhưng nếu tôi thúc dục các bạn càng ngày càng yêu nhau khắng khít hơn, các bạn cũng coi chừng kẻo nó đi quá hóa ghen tương. Vì đôi khi thấy trong quả táo mềm chín nhất lại có sâu, thì trong tình yêu nồng thắm và gắn bó nhất của đôi bạn lại nảy ra sự ghen tương. Ghen tương sẽ phá hỏng bản chất của tình yêu đi, vì dần dà nó gây ra cãi cọ, bất thuận và ly hôn. Đã hẳn ở đâu tình yêu nhau được xây trên nền nhân đức chân thật, ở đấy không bao giờ có ghen tương. Vì thế, ghen tương là dấu chính xác về một tình yêu cảm giác, xác thịt, thô kệch, nó chỉ sinh sôi nẩy nở ở chỗ nào nhân đức còn lỏng lẻo, hoặc hay thay đổi và không đáng tín cẩn. Do đó, lấy ghen tương để đề cao tình yêu thì thật là hãnh diện kỳ quặc, dù ghen tương cho đi là dấu một tình yêu lớn mạnh, ít ra nó chưa phải là dấu của tình yêu tuyệt hảo, trong trắng và hoàn bị. Vì một tình yêu hoàn bị đòi phải tin chắc vào đức độ của người yêu, thế mà ghen tương là còn nghi ngờ về đó.

        Nếu bạn là chồng, muốn vợ bạn trung tín, hãy dạy vợ bạn bài học đó bằng gương sáng. Thánh Grêgôriô Nadian nói: “Còn mặt mũi nào để đòi vợ sống trinh bạch đang khi bạn sống phóng đãng? Làm sao bạn có thể đòi họ cái mà bạn không cho họ?” Bạn muốn vợ thanh tịnh, bạn hãy ăn ở thanh tịnh với họ, như lời thánh Phaolô nói: “Mỗi người hãy giữ thân mình trong sự thánh thiện”. Còn nếu trái lại bạn dạy vợ những điều phóng túng, chẳng lạ gì bạn phải xấu hổ vì mất họ. Còn người vợ, danh dự các người gắn liền với đức thanh khiết và đoan trang, hãy lo bảo vệ vinh quang ấy cách ráo riết đừng để chút buông tuồng hư hốt nào làm mờ vẻ dáng đẹp của thanh danh các người.

        Các bạn hãy e sợ bất cứ một vi phạm nhỏ. Đừng cho phép ai nói tán tỉnh, dụ dỗ với mình. Ai đến khen sắc đẹp và duyên dáng bạn, bạn phải nghi ngờ kẻ ấy. Vì kẻ khen một món hàng mà hắn không thể mua được thì thường hắn bị cám dỗ đánh cắp lấy. Mà nếu đang khen bạn, lại thêm lời khinh miệt chồng bạn, kẻ ấy xúc phạm quá mức rồi đó. Vì đã rõ là hắn không chỉ muốn làm bạn hư đi nhưng lại coi bạn như đồ hỏng một nửa rồi, nên cuộc vận động của hắn đã xong được một nửa khi bạn đâm ngán người chồng bạn. Phụ nữ xưa cũng như nay có thói quen đeo những hạt ngọc làm hoa tai, vì thích nghe tiếng chúng chạm nhau lanh canh, như lời văn hào Plonô nói: Song phần tôi khi được thấy Isaác tôi tá trung trực của Thiên Chúa, gởi biếu nàng Rê-béc-ca trinh bạch những chiếc hoa tai để làm bảo chứng tình yêu của người, tôi nghĩ rằng: đồ trang sức bí nhiệm ấy có nghĩa là: điều trước tiên người chồng phải trung tín đối với vợ, và người vợ phải trung tín giữ cho chồng, là lỗ tai, ngõ hầu không có lời nào khác, tiếng nào khác lọt vào, ngoài cung giọng êm ái đáng yêu của những lời thanh tịnh và nết na, là những viên ngọc quý trong Phúc Âm vậy; vì ta nên nhớ luôn: người ta đầu độc linh hồn bởi nói vào lỗ tai, cũng như đầu độc thân thể bởi thức ăn vào miệng.

        Tình yêu và trung tín nếu luôn gắn bó keo sơn thì sẽ phát sinh tình thân mật và tin cậy,, vì thế nên các thánh nam nữ đời xưa thường hay vuốt ve mơn trớn nhau trong hôn nhân, những vuốt ve thật đầy trìu mến, song thanh tịnh, âu yếm song thành tâm. Như Isaác và Rêbécca, là đôi vợ chồng thanh khiết nhất của thời xưa, qua cửa sổ người ta thấy hai người đang âu yếm vuốt ve nhau. Khi thấy thế dù chẳng có gì là bất chánh trong các cử chỉ kia, vua Abimêlếc đã kết luận, họ chỉ có thể là đôi vợ chồng. Thánh cả Luy vừa rất nghiêm nhặt với thân xác mình, vừa rất âu yếm tha thiết với vợ. Ngài hầu như bị trách là quá vuốt ve bạn mình, thực ra Ngài đáng được ca tụng vì biết tạm gác một bên

        Thánh nữ Monica khi cưu mang thánh cả Augustinô trong dạ đã nhiều lần dâng con cho đạo thánh Chúa và để phụng sự vinh quang Thiên Chúa, như chính Ngài sau này ghi chép: “Từ trong lòng mẹ Ngài đã nếm muối của Thiên Chúa” (ban trong nghi lễ rửa tội). Đó là bài học hay cho mọi bà mẹ Công giáo biết dâng hoa quả lòng mình cho Đấng chí tôn, ngay trước khi chúng sinh ra đời. Vì Thiên Chúa, Đấng nhận những lời khấn hứa buộc mình của tấm lòng khiêm nhường dâng lên, sẽ trợ giúp những tấm lòng tốt của các bà mẹ trong những lúc ấy. Bằng chứng là tiên tri Samuel, thánh Antôn Akino, thánh Anrê Fisôlê (Andre de Fisole) và nhiều vị thánh khác. Mẹ thánh Bênađô, một bà mẹ xứng đáng với một người con như Ngài, vừa sinh con ra liền lấy hai tay ôm lấy và dâng lên cho Chúa Giêsu ngay. Rồi từ đó, bà yêu con cái cách cung kính như một vật thánh mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho vậy. Bà đã thành công phi thường trong việc giáo dục con, mà kết quả là cả bảy người con đều làn thánh lớn. Khi trẻ sinh ra và bắt đầu có trí khôn, cha mẹ phải lo ghi vào lòng chúng sự kính sợ Thiên chúa. Bà hoàng hậu Blăng Ca-cắt-ti-la (Blanche de Castille) sốt sắng chăm lo gây nơi tâm hồn con là vua thánh Luy con và cái tâm tình kính sợ Chúa ấy, bà nhắc đi nhắc lại: “Con yêu dấu, mẹ mong thà con chết trước mặt mẹ còn hơn mẹ thấy con phạm một tội trọng”. Câu nói ấy khắc sâu vào tâm khảm người con thánh ấy đến nỗi sau Ngài kể lại rằng, không có ngày nào mà Ngài không nhớ đến câu của mẹ nói và Ngài đem hết cố gắng để tuân giữ lời mẹ dạy. Kiểu nói thông thường người ta nói “nhà” là để chỉ dòng dõi, và dân Do Thái xưa còn gọi dòng giống con cái là “xây nhà”. Theo nghĩa đó, ta thấy chép trong Sách Thánh là Thiên Chúa “xây nhà” cho các bà đỡ, người Ai Cập2. Do đó, ta hiểu đợc rằng : vơ vét cho gia đình được nhiều của cải thế tục không phải là cách xây dựng gia đạo tốt nhất đâu, nhưng biết giáo dục con có lòng kính sợ Thiên Chúa và yêu các nhân đức. Trong việc này, đừng ngại khó nhọc, e lao tâm vì con cái là triều thiên thưởng công cho cha mẹ vậy.

        Như thánh Mônica đã hăng hái và khiêm nhường sửa trị những xu hướng xấu của thánh Augustinô, đến nỗi để theo đuổi con, người phải vượt biển hằng ngàn, phúc thay, phút sau cùng người đã làm cho Augustinô ăn năn trở lại, thành con của nước mắt người đổ ra hơn là con của máu huyết mình đẻ ra.

        Thánh Phaolô dành cho phụ nữ phần việc chăm lo gia đình. Vì thế, nhiều người có lý mà nghĩ rằng: lòng đạo đức của vợ có ảnh hưởng trong gia đình nhiều hơn là lòng đạo đức của chồng, vì chồng thường ít có mặt trong gia đình, nên không thể khuyên bảo và tập tành dễ dàng nhân đức cho người trong nhà.

        Vua Salômon, miêu tả hạnh phúc của gia đình nằm gọn trong bàn tay săn sóc và tài xuyến của người đàn bà đảm đang (sách Cách Ngôn 31,10-31).

        Trong sách Sáng thế (25,21) có ghi: Isaác thấy bạn là Rêbecca son sẻ, cầu xin Chúa cho vợ, hay nói theo kiểu người Do Thái, ông cầu Chúa đối diện với vợ, vì chồng cầu ở một bên nhà thờ, vợ ở bên kia, nhờ vậy lời cầu của người chồng đã được Chúa nhận lời. Kết hợp trong lòng đạo đức, đó là kết hợp trong lớn lao nhất, phong phú nhất giữa hai vợ chồng, và cũng là kết hợp mà hai vợ chồng phải nỗ lực thực hiện. Có những quả như mộc qua, rất đắng nên chỉ ngon khi đã thành mứt. Có những quả khác, vì rất mềm, mau hư như mận, đào, chỉ có thể để lâu nếu đem dầm với đường. Người vợ cũng phải mong ước cho chồng được ngâm hay dầm vào đường của lòng đạo đức vì đàn ông mà không có lòng đạo đức thì là một con vật dã man, nghiêm nghị và thô bạo. Còn người chồng phải mong sao cho vợ đạo đức, vì không đạo đức, người đàn bà sẽ quá mỏng dòn và dễ sa lầy hoặc thất đức.

        Thánh Phaolô đã viết: “Chồng ngoại nhờ vợ có đạo mà được thánh hoá, còn vợ ngoại lại nhờ chồng có đạo mà đượcthánhn hoá” (1 Cr 7,14), vì trong hôn ước keo sơn ấy, người này sẽ lôi kéo người kia theo mình. Còn phúc lộc nào hơn khi cả hai đều là người có đạo, họ sẽ thánh hóa nhau chừng nào trong lòng kính sợ Chúa.

        Lại nữa, hai vợ chồng phải biết nhịn nhục lẫn nhau đừng để bao giờ đôi bên cùng giận dữ nhau một trật, đừng bao giờ để việc cãi lộn và bất hoà xẩy ra giữa hai người. Con ong ruồi không thể làm tổ nơi ầm ĩ tiếng động, Đức Chúa Thánh Thần cũng không ngự trong gia đình om sòm cãi cọ.

        Thánh Grêgôriô Nadiăng làm chứng: thời Ngài các vợ chồng thường mỗi năm mừng lễ kỷ niệm ngày hôn nhân, tôi cũng tán thành cho tập tục ấy nhập vào nước ta, miễn là đừng mừng quá long trọng theo thói đời ăn chơi buông tuồng. Ngày đó, hai vợ chồng xưng tội, rước lễ và tận tình phó thác nơi Chúa đời sống hôn nhân đang diễn tiến của họ, đồng thời dốc lòng lại sẽ càng ngày thánh hóa nó hơn bằng tình yêu và trung tín với nhau, và như thần lực Chúa Giêsu bổ dưỡng, hai người sẽ thêm can đảm lãnh nhận các phận sự của bậc sống.

Chương 39

ĐỨC LIÊM CHÍNH TRONG TÌNH CHĂN GỐI

        Cuộc sống chăn gối của vợ chồng phải tinh tuyền, như thánh tông đồ nói, nghĩa là không vương dâm đãng hay các vết nhơ phàm tục nào khác. Cho nên, hôn nhân đã được thiết định trước tiên trong địa đàng nơi không bao giờ có sự buông tuồng phóng túng của dục tình hay điều gì bất chính.

        Giữa các khoái lạc hôn nhân với khoái lạc trong ăn uống có đôi điểm giống nhau: cả hai cùng là chuyện của thân xác, dù cái trên vì tính cách thô bạo của chúng, nên được gọi là khoái lạc xác thịt.

        Đây tôi sẽ giải nghĩa về các khoái lạc mà tôi không thể nói được bởi những cái mà tôi có thể nói được.

  1. Ăn là để bảo tồn mạng sống. Ăn để nuôi dưỡng và bảo tồn mạng sống là điều tốt thánh thiện và buộc làm, thì sự sống chung của vợ chồng trong hôn nhân để sinh sản con cái, tăng số nhân loại cũng là điều tốt và rất thánh. Đó là mục tiêu chính của hôn nhân.
  2. Ăn uống không để sống mà thôi, song còn bảo vệ mối bang giao giữa đồng loại với nhau, vì thế là điều hợp lý và ngay chính. Cho nên, trong hôn nhân, sự vui thú chính đáng của hai vợ chồng trong hôn nhân cũng được thánh Phaolô gọi là một bổn phận. Bổn phận ấy to tát đến nỗi, Ngài không cho phép một người bỏ qua, ngay cả vì lý do làm việc đạo đức mà không có sự ưng thuận tự do và hữu ý của người kia. Chính vì đó mà tôi đã nói về điều này trong chương bàn về sự rước lễ. Huống hồ người ta lại bỏ qua bổn phận ấy chỉ vì những căn cớ nhân đức giả tạo, hay vì giận dữ, khinh bỉ nhau.
  3. Kẻ ăn uống vì tình nghĩa bang giao thì phải ăn cách vui vẻ thoải mái chứ không vì miễn cưỡng, cố gắng tỏ ra ăn cách ngon lành, thì bổn phận chung sống của hai vợ chồng cũng phải thi hành luôn luôn cách trung thành, chân thật, trong nguyện ước có con cái, dù đôi trường hợp người ta không được cái hy vọng ấy.
  4. Ăn uống, không vì hai lý do đầu hết, song chỉ để đã thèm cũng còn được, tuy không đáng khen lắm. Để thỏa mãn giác quan mà thôi thì không đủ lý do làm cho việc nên đáng khen, song đủ để được miễn chấp.
  5. Ăn uống, mà không để đỡ đói, song vì tham lam quá là điều đáng trách, nhiều hay ít tùy theo sự quá độ ít hay nhiều.
  6. Ăn uống quá độ không chỉ vì ăn nhiều, song còn trong cách thức ăn. Philôtê thân mến, mật hoa ngon ngọt, bổ dưỡng cho ong là chừng nào, ấy thế mà cũng có thể tai hại, làm ong sinh bệnh, như bệnh trệ bụng nếu chúng hút quá nhiều mật trong mùa xuân. Đôi khi còn làm chúng mất mạng nữa như khi cánh và đầu chúng dính đầy mật. Quả thật đời sống chung của vợ chồng tự nó thánh thiện, lương chính và đáng khuyến khích và ích lợi cho xã hội, như thế mà đôi trường hợp lại gây nguy hiểm cho đôi bạn, vì làm cho họ sinh bệnh bởi tội nhẹ, khi đi hơi quá sức, khi khác lại gây bệnh tang tóc cho họ bởi tội trọng, như khi công cuộc mà thiên nhiên lập ra để nhắm sự sinh con cái lại bị ngăn chặn và phá hủy. Trong những trường hợp này, tội luôn là nặng, còn tùy người ta phá hoại trật tự ấy nhiều hay ít mà tội thêm phần quái gở. Vì việc sinh dựng con cái là mục đích đầu tiên của hôn nhân, nên không bao giờ người ta có thể tự ý phá hủy hay ngăn trở cái diễn tiến tự nhiên của nó được, dù có đôi khi vì duyên cớ hay vì ngăn trở tự nhiên nào khác, việc thụ thai không xảy ra, như trường hợp son sẻ hay lúc đang có mang rồi. Trong những trường hợp này, ăn ở với nhau vẫn được coi là chính đáng, thánh thiện miễn là vẫn tôn trọng định luật điều hành công cuộc sinh sản. Không có một căn cớ nào có thể cho phép vi phạm định luật về mục đích chính của hôn nhân. Hành động đê tiện, quái gở của Ô-năng làm trong việc vợ chồng thật là một trọng tội trước mặt Thiên Chúanhư Sách Thánh ghi lại trong sách Sáng thế, đoạn 38. Và dù có đôi người lạc đạo thời nay, những người đáng trách ngàn lần hơn những dạng khuyển nho xưa (mà trong thư gởi tín hữu Êphêsô, thánh Hiêrônimô nói đến) muốn cắt nghĩa rằng, chỉ có cái ý xấu của tên Ô-năng khốn nạn đó làm mất lòng Chúa thôi. Nhưng Thánh Kinh nói khác, và dạy chắc chắn rằng, chính hành động hắn làm là đáng ghét, ghê tởm trước mặt Thiên Chúa2.
  7. Một dấu hiệu tâm hồn tiểu nhân, đê hèn là mơ nghĩ đến ăn uống trước giờ dùng cơm. Tệ hơn nữa, nếu sau đó hắn lại thích nghĩ đến cái vui thú lúc ăn cơm, đem lời nói và ý tưởng mà gợi lại trong tâm trí những cảm giác vui khoái khi ăn miếng nọ miếng kia lúc nãy. Thật như người ta nói, trước bữa thì gởi hồn đê mê trong đĩa chả thịt. Những hạng người này chỉ đáng làm cái thùng rửa bát trong bếp, “Họ tôn cái bụng họ làm chúa”, như lời thánh Phaolô nói (Pl 3,9). Người trọng danh dự chỉ nghĩ đến bữa cơm khi ngồi ăn. Sau bữa họ rửa miệng rửa tay để không còn dấy mùi vị gì. Vợ chồng công giáo nhìn gương đó mà tránh trầm mình trong lạc thú xác thịt mà theo bậc sống họ được dùng. Nhưng khi đã qua, họ hãy tẩy rửa trái tim và tâm tình ngay, để tâm trí hoàn toàn tự do, thảnh thơi mà thi hành các hoạt động khác tinh sạch và cao siêu hơn.

     Lời khuyên nhủ sau đây nhằm giúp thực hành một đạo lý tốt đẹp mà thánh Phaolô dạy tín hữu Côrintô: “Thời giờ vắn vỏi, từ nay ai có vợ kể như không có” (1 Cr 7,29). Theo thánh Grêgôriô, người có vợ mà kể như không có là người cùng chung hưởng thú vui xác thịt với vợ nhưng không vì đó mà lại quên những hướng vọng siêu nhiên. Điều nói đây về chồng thì cũng áp dụng cho vợ. Thánh Tông đồ nói thêm: “Người sử dụng thế gian này hãy như không sử dụng” (1 Cr 31).

     Ta hãy dùng các sự vật trần gian tùy theo địa vị bậc sống mình, song dùng sao mà không để tâm trí mình sa lầy trong đó song vẫn tự do luôn và nhanh chóng phụng sự Thiên Chúa y như không dùng vậy. Theo lời thánh Augustinô: Con người mắc một tật xấu tai họa này, là muốn hưởng thụ cái họ chỉ được phép sử dụng và trái lại chỉ muốn sử dụng cái họ phải hưởng thụ. Ta phải hưởng thụ các sự thiêng liêng, mà chỉ dùng các vật thể xác. Nếu cái dùng mà lại đổi thành cái hưởng, thì linh hồn có lý tính cũng sẽ hóa thành thô kệch đầy thú tính. Tôi cho là đã nói hết các điều cần nói, và mong rằng đã hiểu hết các ý tưởng mà tôi nói thoáng qua.

KINH CẦU CÙNG THÁNH PHANXICÔ SALÊ

Lạy thánh Phanxicô Salê, Ngài đã miệt mài sống đời dấn thân phục vụ Giáo Hội, xin giúp chúng con nên những người liên lỷ xây dựng Nước Chúa. Trong cơn gian nan, xin cho chúng con được tinh thần lạc quan và lòng nhân từ, để đặc biệt cùng với giới trẻ, chúng con biết mang nơi mình tình yêu của Đấng Cứu Thế. Xin dạy chúng con vun trồng đời nội tâm sâu thẳm, bén rễ từ lòng phó thác nơi Thiên Chúa và được đem ra sống cách đơn thành và vui tươi, hầu khi bước trên con đường gương lành của Ngài, chúng con xứng đáng đạt tới quê trời. Amen.

(Trích trong quyển Comunità Salesiana in preghiera, năm 1973)

Chú thích của tramg 208,214,218 và 219 :

 (1). Tội này gọi là “hư dâm”.

(2). Vấn đề điều hòa sinh sản: tất cả đoạn nói về sống chung của vợ chồng, tác giả đã chỉ nêu những quy luật căn bản mà không đả động đến những vần đề phức tạp mà con người, nhất là thời nay, đang vấp phải: vấn đề nhân bản, nhà ở chật chội, sức khỏe suy yếu của người mẹ, đồng lương eo hẹp của người cha, vấn đề giáo dục con cái khi quá đông… Những vấn đề này đã là những lý do chính đáng để vợ chồng có phép dùng sự điều hòa sinh sản, miễn là với những phương tiện hợp pháp. Trong việc này những phát minh của khoa học có thể giúp rất nhiều.

Công đồng chung Vaticanô II đã đề cập tới vấn đề này, người ta trông đợi Hội thánh sẽ cho thêm ánh sáng. Hiện nay chúng ta biết Hội thánh một đàng nhìn nhận vào trật tự Thiên Chúa đã lập là vợ chồng sống chung để sinh và dưỡng dục con cái; song cũng phải dung hòa với một chủ đích khác của hôn nhân là hạnh phúc của hai vợ chồng, mà sự chung sống là một yếu tố cần thiết, ngõ hầu qua tất cả cuộc đời yêu đương, họ nâng đỡ nhau tiến đến Chúa. Xét như thế, quan niệm đòi vợ chồng sống chung với nhau chỉ để sinh con đẻ cái là một quan niệm phi nhân (hay vô nhân đạo); và hơn thế, Hội thánh cũng không bao giờ chủ trương thuyết “sinh nhiều con càng đông càng hay” vì tài năng giáo dục của cha mẹ có hạn, tiền của sức lực và phương tiện giáo dục có hạn, con người không phải là bầy súc vật đẻ ra bao nhiêu cũng được miễn là có sự sống. Con người cần nhiều điều kiện để thành con người xứng đáng. Cũng như Hội thánh luôn chống lại với chủ thuyết khoái lạc dưới mọi hình thức: khoái lạc vì khoái lạc, khoái lạc được núp dưới chiêu bài yêu thương, khoái lạc ích kỷ gạt ra ngoài những hy sinh cực nhọc phiền lụy vì con cái… đang khi khoái lạc chính đáng của hôn nhân chỉ được coi như một yếu tố trợ giúp, một phần thưởng nếu có thể nói được cho người chu toàn bổn phận thiên nhiên trao phó.

Biết như thế, một đôi vợ chồng cố gắng đại độ với Thiên Chúa trong việc sinh con đẻ cái và không đề cao khoái lạc ích kỷ trong đời, họ vẫn có thể gặp khó khăn phức tạp trong các vấn đề chúng tôi đã nêu trên đầu. Để vượt qua những giai đoạn khó khăn gay cấn ấy, không chỉ nên ỷ lại các phương pháp khoa học hợp pháp để điều hòa sinh sản, song cần thiết đôi vợ chồng phải biết chuẩn bị và tự luyện ý chí mạnh mẽ, biết tự chủ mình, thêm vào đó một sự ý thức về sự tôn trọng con người bạn mình mà tình yêu chân chính luôn phải có, đi đôi với sự hy sinh những tư lợi, ích kỷ riêng mình để tìm hạnh phúc cho bạn. Tất cả những đức tính đó được đúc kết trong một tinh thần đạo đức vững chãi và chân chính.

        Vài hàng này không thể cho phép nói hết những sự phức tạp tế nhị của vấn đề, xin các bạn độc giả liên lạc với linh mục để bàn hỏi thêm. Cũng xin giới thiệu thêm cuốn: “Luân lý hôn nhân (Sài gòn), sâu rộng hơn: xem cuốn Letatpis, SJ “Limitation des naissances” (Spes)

Leave a Reply

Your email address will not be published.