Diễm Tình Ca

Chương I

THÔN XÓM ĐÓ

Thôn xóm nhỏ nằm hiu quạnh trên đỉnh ngọn đồi miền thượng du xứ Monferrato với dãy tiền sơn Appennino Ligure thấp thoáng sau những đám mây xanh mờ ảo, đó là Mornese, một làng tầm thường như bao làng mạc khác ở nước Ý. Người dân ở đây phải làm việc vất vả suốt ngày ngoài vườn nho, nhưng họ an phận với những gì đang có. Cánh đồng gần nhà chỉ cách vài bước chân, những chuỗi cười giòn tan của đoàn con đông đúc, bấy nhiêu cũng đủ làm họ hài lòng.

Đất cằn cỗi, nứt nẻ vì thiếu nước, cứng ngắc như xi măng khiến các bác nông phu phải chịu đựng muôn vàn cực nhọc. Có đứng trên những ngọn đồi, hay dãy thung lũng với những con đường hẹp khúc khuỷu cắt ngang để nhìn xuống xóm làng này, bạn mới hiểu thế nào là sự vất vả, là đời sống nghèo nàn, cơ cực.

Trung tâm của Mornese – một tòa nhà đồ sộ đứng sừng sững uy nghi như cai quản xóm làng: đó là lưu xá. Người ta đặt tên này cho tòa nhà ngay khi Cha Bosco kêu gọi mọi người trong xứ góp công, góp của để xây dựng một trường học cho các trẻ nam trong xứ. Vì thế, ngôi nhà đã từng là niềm mơ ước, sự hãnh diện của mọi người.

Nhưng Đấng Quan Phòng lại có kế hoạch riêng của Ngài. Dân cư Mornese đã phải thất vọng, thực giống như một chuyến “lỡ tàu trơ trẽn”. Một chuỗi khó khăn dồn dập xảy đến đã khiến Cha Bosco thay đổi chủ ý. Chẳng còn lưu xá nào hết! Không một trẻ nam nào hy vọng được đến ở trong tòa nhà đó nữa, vì thánh nhân đã quyết định dành nó cho các nữ tu tiên khởi Con Đức Mẹ Phù Hộ, một Tu hội vừa chớm nở và hoạt động giữa thanh thiếu nữ, như ngài đã và đang hoạt động giữa thanh thiếu niên. 

Sự thay đổi bất ngờ đó làm phật lòng dân chúng Mornese. Họ tụm năm tụm ba hướng về lưu xá, lẩm bẩm một cách tức tối, hằn học.

  • Thấy chưa, bao nhiêu khó nhọc vất vả của chúng ta lúc này tiêu tan thành mây khói hết. Thật là công dã tràng.
  • A! Mà không hiểu “mấy con khỉ cái” kia, chúng làm gì ở trên ấy?
  • Ối trời! Còn hỏi chúng làm gì nữa chứ? Cứ việc mở mắt ra mà xem, cùng lắm là ăn không ngồi rồi được vài tháng, rồi chết đói cả lũ.

Câu hỏi đầy mỉa mai và câu trả lời cũng không kém chua cay, độc địa.

Nhưng rồi, “những con khỉ cái” ấy đã không đến nỗi phải kết thúc cuộc đời quá thảm thương như lời thiên hạ tiên đoán. Trái lại, từ nơi họ ở, luôn vang lên những tiếng ca hát vui vẻ, nhất là vào mỗi Chúa nhật.

     “Ánh xuân huy hoàng

Buổi chiều sắp tàn

Mến chào các bạn

Một ngày đang qua” …

Tiếng đồng ca vang dội, hạnh phúc vỡ trào như những làn sóng dâng cao. Niềm hăng hái, yêu đời được thể hiện trên những đôi chân non nhảy nhót, vui chơi. Nỗi sướng vui bộc lộ qua những đôi mắt ngây thơ. Một điều khiến mọi người ngạc nhiên là ở đây, các nữ tu cũng hòa mình với đám trẻ, chơi đùa với chúng một cách lanh lẹ, tự nhiên, tràn đầy sức sống trẻ trung và hăng say bác ái.

Kìa, cuối sân chơi, có chị nữ tu nào đó đang được một nhóm thiếu nữ vây quanh. Chị vừa chạy nhảy hồn nhiên với chúng, và giờ đây, những cô bé lớn hơn trong đám trẻ, quấn quýt bên chị, cô nào cũng muốn chiếm chị cho riêng mình. Cô thì hỏi chị chuyện ngụ ngôn “bác mục tử hiền lành”, cô khác muốn chị kể lại câu chuyện Agnese, nàng quí phái Rôma. Còn chị nữ tu, với cái nhìn sâu xa linh động, với nét mặt cương quyết và nụ cười êm dịu, đang thiết tha làm hài lòng tất cả. Thật không một chị nữ tu nào có tài chinh phục khi kể chuyện và đánh trúng tâm lý đám trẻ bằng chị.

Bây giờ thì chị cất tiếng hát, bài hát gợi lại nơi lòng người một niềm nhớ nhung thiên quốc:

“Thiên đàng đẹp đẽ biết bao!

Cuộc đời trần thế là thung lũng buồn

Con cầu xin Chúa ủi an,

Quê trời con muốn mong sao chóng về”.

Các cô bé xích lại gần chị hơn. Chúng hát lại ba lần câu: “Quê trời con muốn mong sao chóng về” với âm thanh mỗi lúc một thêm hùng hồn, hăng hái đến nỗi vài đứa mạnh dạn, thừa lúc thuận tiện, chồm lấy chiếc ghế chị đang ngồi và khênh rước chị đi quanh sân, một đám rước bất ngờ, không hẹn trước. Thế rồi cả nhóm chạy ùa tới: lại thêm một bài ca nữa. Tiếng cười tăng thêm, những tràng pháo tay nhộn nhịp.

Rồi như bị thôi miên, những chiếc đầu nhỏ bé kia trở thành bất động, im lặng tràn ra chung quanh, chỉ còn tiếng chị đang âu yếm nói.

Đó là lời tạm biệt để chấm dứt một ngày vui qua mau, một thứ “của ăn đàng” cho cả tuần sắp tới, mà chị nữ tu, hay còn gọi là Mẹ Maria Mazzarello khả kính đang phân phát cho “các con nhỏ của Mẹ”. Lời Mẹ tuy vắn vỏi, đơn sơ nhưng thấm nhuần đức khôn ngoan.

Các con hãy luôn vui vẻ trong Chúa và mỗi khi làm điều gì, các con đừng bao giờ quên tự hỏi: “Điều đó có lợi cho tôi về cõi đời sau không?”. Rồi Mẹ ân cần căn dặn các con của Mẹ phải luôn luôn thẳng thắn trong mọi trường hợp, với bất cứ giá nào.

Thái dương êm đềm lui dần sau đồi núi, nhưng Mẹ Maria Mazzarello còn đứng đó, giữa lúc lũ trẻ tinh nghịch đang lũ lượt ra về. Ánh mặt trời vẫn còn chiếu sáng trong lòng mẹ. Đó cũng chính là ánh sáng, là tia lửa nồng cháy tình yêu Thiên Chúa và các linh hồn nung nấu tâm hồn Cha Thánh Bosco.

Dưới kia, ở Valdocco, miền ngoại ô Torino, có lẽ vào giờ này, lũ trẻ cũng đang hoan hô ngài một cách nồng nhiệt, hăng say…

Chương II

CÁNH HOA ĐỒNG NỘI

 

Cũng như Cha Bosco, Mẹ Maria Mazzarello là một bông hoa thôn dã.

Mazzarello mở mắt chào đời ngày 9-5-1837 dưới một mái nhà xinh xắn, có hàng lê lớn vây quanh khu Mazzarelli, một khu xóm nhỏ bé với một vài căn nhà rải rác, với ngôi thánh đường đơn sơ do dân làng xây cất và cung hiến cho Mẹ Maria Phù Hộ, để tỏ lòng biết ơn Mẹ đã cứu họ thoát khỏi tai nạn dịch tả 1836. Không biết vì ngẫu nhiên hay do tiền định, đời sống vừa chớm nở ấy đã gắn bó với ngôi thánh đường mang danh hiệu Mẹ Phù Hộ, và chính ở đó, Mazzarello đã được chịu phép rửa và mang tên thánh là Maria Domenica (chọn hai Thánh quan thầy: Mẹ Maria và Thánh Đaminh).

Trong bầu không khí thanh bình của miền quê, bé Maria như bông huệ giữa lòng thung lũng được cha mẹ âu yếm, giữ gìn. Thân phụ Giuse, người của đức tin cao cả, tính khí bình tĩnh, ưa hoạt động và nghiêm nghị như một tổ phụ đời xưa. Trái lại, thân mẫu Maria Calcagno hăng hái, vui tươi nhưng cũng không kém phần đạo hạnh, đời sống bà cũng đâm rễ sâu xa trong niềm tin vững chắc như những cây cổ thụ dãy Appennino.

Maria thừa hưởng nơi cha đức khôn ngoan và tính yêu thích hoạt động; từ nơi mẹ tâm tình hăng hái, lạc quan. Ở cả hai, cô hấp thụ một đức tin vĩ đại có năng lực đổi mới cả cuộc đời trong Thiên Chúa.

Sau vài năm sống ở Mazzarelli, tổ ấm Mazzarello đã tăng thêm nhân số, nên phải di chuyển về Valponasca: một cơ sở canh nông tọa lạc giữa một vườn nho thoáng đãng, chơ vơ trên một mỏm đồi cách Mornese ba khắc đồng hồ cuốc bộ.

Bốn mùa thay đổi nối tiếp nhau cùng với sự an vui, cần cù của lớp nông dân và nếp sống đạo hạnh nơi gia đình, Maria lớn lên trong khôn ngoan và trong ơn thánh. Tôn giáo đã trở thành mạch sống và lương thực đời cô ngay từ những năm đầu của tuổi thơ non nớt. Cô học giáo lý từ cửa miệng song thân và tay trong tay mẹ, cô hân hoan bước tới nhà thờ. Mẹ của Mazzarello chịu khó đi lễ hằng ngày và cũng đòi hỏi con điều đó mặc dù nó còn thơ dại. 

Lớn lên, Maria theo học lớp giáo lý. Cô nổi bật giữa các thôn nữ với cái nhìn sắc xảo, linh hoạt, với những câu trả lời sâu xa và chính xác về những câu hỏi mà vị linh mục hướng dẫn nêu lên. Trong lớp cũng có cả sự hiện diện của đám trẻ nam, nhưng điều đó không làm cho cô e dè hay mang mặc cảm thua sút. Một lần kia, cô đã không ngần ngại tuyên bố: “Chúng chẳng làm tôi mất tự nhiên chút nào. Hơn nữa, tôi muốn thắng vượt tất cả bằng ấy đứa”.

Thực thế, cô đã chiếm bảng danh dự, đã được phần thưởng xuất sắc nhất trong lớp học có cả nam lẫn nữ đó. “Tất cả vì tự ái. Tôi đã học để khỏi thua sút, khỏi mất mặt với bạn bè” – sau này Mazzarello đã khiêm nhường thú thật như vậy. Quả thế, các thánh không sinh ra với hào quang rực rỡ trên đầu, các ngài cũng đã từng chiến đấu với những con ngựa bất kham của tính khí. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá tin tưởng vào những lời tự thú của thánh nhân. Mazzarello đem hết tâm trí ra học hỏi, không phải chỉ nhắm vào lời khen ngợi, vào bảng danh dự. Trí tuệ cô hướng về biển cả chân lý cao siêu và đắm say trong đó. Chính vì thế mà có lần cô đã hỏi cha mình: “Thiên Chúa làm gì trước khi dựng nên trời đất?”.

Người cha lanh lẹ trả lời đúng như câu thưa trong sách giáo lý: “Thiên Chúa làm gì ư? Người chiêm ngưỡng chính mình, yêu mến chính mình, thờ lạy chính mình”.

Nhưng Maria không mãn nguyện với câu trả lời quá sâu xa và khó hiểu đối với tuổi thơ non nớt của cô. Lại một chuỗi câu hỏi khác được nêu lên và lẽ dĩ nhiên, những câu trả lời cũng không được thỏa đáng. Lòng khao khát hiểu biết Thiên Chúa của Mazzarello tăng thêm với thời gian và cô quyết chí theo học giáo lý thường xuyên.

Con đường lởm chởm đá và những luống nho xanh rì của Valponasca đã từng chứng kiến một Mazzarello hồn nhiên bé bỏng, một Mazzarello thiếu nữ xinh tươi, vừa đi vừa kể lại cho các bạn nghe về những điều đã học hỏi ở nhà thờ hay trong giờ giáo lý.

Maria, cô thôn nữ quê mùa thất học, nhưng niềm khao khát chân lý luôn nung nấu lòng cô. Những tìm tòi, nghiên cứu khác đáng giá chi nếu đem so sánh với niềm băn khoăn tìm kiếm chân lý này.

Chương III

GIẤC MỘNG ĐẸP CỦA THIÊN CHÚA

Mỗi tâm hồn là một ước vọng cao cả của Thiên Chúa, nhưng ít khi ước vọng ấy được thành hình trong thực tế. Chỉ có thánh nhân mới cụ thể hoá được giấc mộng đó bằng cách trở nên chính mình. Trở nên chính mình không có nghĩa là tự do phóng khoáng, nhưng là tự điều chỉnh và hãm dẹp thân xác cũng như tâm hồn, để phát triển đời sống: không chỉ đời sống tự nhiên, mà cả đời sống siêu nhiên nữa.

Thực thế, để tiến bước trên đường thánh thiện, Maria Mazzarello đã phải lê từng bước khó nhọc, và chính sự khó nhọc này mới làm cho cuộc toàn thắng của cô thêm vẻ vang. Vốn tính khí hăng hái, dễ xúc động, gương mặt cô bừng đỏ khi gặp điều trái ý, thân thể cô run rẩy khi nội tâm có cuộc tranh đấu mãnh liệt. Maria cũng ưa thích làm dáng. Cô biết chọn những gì làm nổi bật dáng điệu thanh nhã của mình: nào là lối cắt may hợp thời trang, nào là màu vải đẹp mắt hay đôi giày mới bóng loáng, có thể khêu gợi sự chú ý của các bạn. Vì thế, mà đã có kẻ gán cho cô biệt danh “đỏm dáng”.

Còn tính nóng nảy của cô thì đã có vườn nho kia chứng kiến. Một hôm, dưới ánh mặt trời gay gắt, Maria cố công buộc những nhánh nho lại, buộc mãi, buộc mãi… cũng vẫn không xong, những luống nho hầu như vẫn dài vô tận. Quá mệt mỏi, chán nản, thay vì dùng đôi tay thành thạo để chăm sóc những nhánh nho non, Maria dùng lưỡi liềm bực tức phạc chúng rơi xuống đất. Thế rồi lòng hối hận trào dâng, cô tìm đến Cha Pestarino, cha giải tội và cũng là vị linh hướng của cô để thú tội và nhận những lời huấn từ tha thiết của ngài. Chính nhờ vị linh mục thánh thiện này mà Maria tìm thấy nơi nương tựa vững chắc để chiến thắng chính mình.

Một trong những cuộc tranh đấu khác gay go và lâu dài nhất trong đời cô là việc ngại đi xưng tội thường xuyên. Tuy nhiên, khi đã ý thức được sức mạnh phi thường và hiệu quả tốt đẹp của Bí tích này, cô không ngần ngại đắm mình trong Máu Thánh Chúa Giêsu, nhất quyết chiến thắng bản thân với bất cứ giá nào. Nơi tòa cáo giải, Thiên Chúa đã sắp xếp cho cô một hướng đạo viên thành thạo, một người cha đáng tin cậy của các linh hồn  Cha Pestarino. Ngài đã khám phá ra nơi linh hồn thiếu nữ này giấc mộng tuyệt đẹp của Thiên Chúa và dùng mọi phương thế để giúp cô thực hiện giấc mơ. Cha đòi hỏi Maria hy sinh thật nhiều và có khi cả những hy sinh lớn lao hầu như quá sức chịu đựng của cô, nhưng Maria không nản chí. Với trái tim quảng đại và bao dung, với ý chí sắt đá, cô hết sức phục tùng và để cho cha tự do hướng dẫn. Thế rồi, những bóng mờ của đức tính hăng hái đến trở thành nóng nảy, cương quyết đến trở thành bướng bỉnh, khoe khoang và quá nhạy cảm dần dần bị tiêu tan bởi ánh sáng. Ánh sáng này chính là Chúa Giêsu, và ai tới gần Ngài sẽ nên trong sáng huy hoàng, có xá chi nếu đường đi khúc khuỷu, trên cao kia ánh sáng chiếu soi rạng rỡ vô ngần!

 *******

 Nhìn từ xa, các thánh nhân có vẻ giống hệt nhau, nhưng nếu lại gần, chúng ta sẽ thấy các ngài có những điểm độc đáo riêng biệt, những điểm vượt xa sức phàm trần mà chỉ những ai nghe và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mới có thể hiểu được.

Tuổi trẻ của Maria được đánh dấu bởi một mối tình nồng cháy say sưa là tình yêu đối với Chúa Giêsu Thánh Thể.

Lên mười tuổi, cô được hạnh phúc tiến lên dự tiệc thánh lần đầu tiên. Từ ngày đó, cô không thể sống thiếu thức ăn này.

Dù mưa, bão, tuyết tung hoành dữ dội trên những ngọn đồi Mornese không làm Maria nhụt chí. Tình yêu tha thiết khiến cô coi thường mọi chướng ngại vật để tiến tới Đấng lòng cô yêu mến. Ban đêm, cô tìm đủ mọi cách để sáng hôm sau khỏi dậy trễ; chẳng hạn, cô đã thắt dây buộc bò vào cánh tay mà ngủ. Cô thường một mình hay cùng với em Felicita băng qua những thung lũng để đến ngôi giáo đường hẻo lánh, xa xôi.

Cô sung sướng nếu ngôi thánh đường còn đóng kín và bình minh chưa ló rạng, vì cô sẽ có nhiều giờ hơn để thưa chuyện cùng Thiên Chúa, vì cô đã tìm thấy nơi cầu nguyện một niềm vui thanh khiết, nơi thánh lễ một niềm an ủi sâu xa và nhất là nơi việc rước lễ một sự hòa đồng tuyệt diệu giữa Đấng tối cao với loài thụ tạo thấp hèn.

Can chi nếu nhà thờ giá lạnh, nếu quần áo ướt đẫm và đôi guốc dính chặt xuống nền nhà vì những giọt nước chảy liên tục đã trở thành băng giá. Bởi vì, “Tình yêu mạnh mẽ hơn sự chết”, kinh thánh đã diễn tả như thế. Thực vậy, tình yêu không thất đảm và càng trở nên dũng cảm nếu được nuôi dưỡng và tăng cường bởi hy sinh.

Rồi suốt ngày, tình yêu biến thành ánh sáng, đời sống, niềm vui cho Maria.

Cô làm việc không ngừng, trong gia đình cũng như ngoài đồng áng, làm một cách vui vẻ, hăng say đến nỗi không ai theo kịp, kể cả những chàng trai tráng kiện. Họ cảm thấy ngại ngùng và thường thì thầm với nhau: “Cô ta có cánh tay bằng sắt, ganh đua với cô chỉ tổ hết hơi hết sức!”.

Lòng yêu Chúa, tính ưa hoạt động, đức tự chủ nơi Mazzarello mỗi ngày một gia tăng. Người ta luôn bắt gặp ở cô thái độ hòa nhã, khiêm tốn, bình tĩnh và trầm ngâm suy niệm. Nếu có dịp chiêm ngưỡng gương mặt đăm chiêu của cô khi cô tạm ngưng công việc, quỳ xuống giữa những luống nho cầu nguyện trong giây lát, bạn sẽ nhận thấy được rằng có sự hòa hợp khít khao giữa ánh sáng huy hoàng buổi rạng đông và ánh mặt trời rực rỡ ban ngày. Việc làm và kinh nguyện đối với Mazzarello chỉ là một. Kinh nguyện nuôi dưỡng tình yêu, cũng như tình yêu bồi bổ việc làm. Tất cả tuổi trẻ của Maria vươn lên trong tình yêu, bùng cháy tình yêu.

Chương IV

TIẾN LÊN ĐI GẶP MẶT TRỜI

Tuổi thanh xuân nào khi khám phá ra Thiên Chúa cũng say đắm yêu Ngài. Điều đó thực dễ hiểu, vì nơi Chúa có vẻ đẹp tuyệt vời, tình yêu tuyệt đối và chân lý sáng ngời, là những thứ có thể thỏa mãn nỗi khát vọng sâu xa nhất nơi con người, nhất là tuổi trẻ. Khát vọng càng lớn lao, tình yêu càng nồng nàn, tha thiết.

Vì thế mà bạn thấy cô xuân nữ thẳng tiến trên con đường thiện hảo, chạy mau tới gặp Mặt Trời công chính, không chút do dự, tính toán, sợ sệt. Chẳng một mãnh lực nào có thể chi phối cô, vì hồn cô đã đầy ắp sự tin tưởng, hăng say và niềm ao ước chiếm hữu Thiên Chúa và tự hiến cho Ngài. Chỉ có một điều khiến cô kinh hãi là mất Thiên Chúa. Cô không những ghê tởm tội lỗi, mà còn sợ hãi cả bóng dáng của nó nữa.

Hôm đó, những ngọn đồi khô cạn, vi vút gió đã chứng kiến cảnh một cô gái vừa thở hổn hển vừa chạy không ngừng. Cô từ Mornese xuống làng thánh Stephanô và tìm vào nhà xứ. Hình như cô có chuyện gì cần kíp lắm. Cô hấp tấp nói với bà từ:

  • Bà làm ơn cho cháu gặp cha xứ một lát.

Bà lão tò mò nhìn cô gái từ đầu đến chân, rồi chậm rãi lắc đầu: “Cha xứ không có ở nhà”. Rồi bà nói tiếp như để đuổi khéo khách: “Lúc đi cha không dặn trước, nên tôi cũng chẳng biết bao giờ cha mới về”. Gương mặt đỏ bừng của Maria thoáng vẻ thất vọng.

Làm sao bây giờ? Cô nghỉ ngơi giây lát. Không còn cách nào để có thể gặp cha Pestarino vào lúc này. Những con đường nhấp nhô, thung lũng, núi đồi trong giây phút đó như mời gọi cô trở lại Mornese.

Đường xa quá rồi – con đường đất khô lởm chởm đá như mỉa mai diễu cợt: “Mày đã cố gắng biết bao nhiêu mà đâu có rũ bỏ được mối băn khoăn day dứt. Mà băn khoăn làm chi, lo lắng làm chi, mai thử nhịn chịu lễ một lần có sao đâu?”.

Nhịn rước lễ ư? Không, kẻ đói khát Giêsu này sẽ không bao giờ chịu hy sinh, dù chỉ một ngày, không lãnh nhận Người.

Maria lại cắm đầu chạy trên con đường dẫn tới một xóm làng khác: Codipiaggia. Con đường dài hàng chục cây số không làm cô nao núng, e ngại, cô chỉ ước mong sao tìm lại được cho tâm hồn niềm trong sáng của ánh mặt trời.

Với mái tóc đen hơi rối quyện quanh gương mặt đỏ bừng, Maria vừa thở hổn hển vừa gõ cửa một nhà xứ khác.

  • Cha xứ có nhà không? – cô hỏi bà từ.
  • Có, ngài vừa dùng cơm chiều xong.
  • Xin bà thưa với cha con muốn gặp ngài ngay.
  • Không được đâu! Cha đang có khách, không thể quấy rầy ngài được.

Đôi mắt trong sáng trên gương mặt trẻ trung của Maria biểu lộ một ý chí sắt đá, không dễ bị khuất phục khi có dịp cần phải tranh đấu, một ý chí mạnh mẽ, vượt quá tuổi cô.

  • Con muốn thưa với cha một điều quan trọng. Bà làm ơn vào báo cho ngài đi. Con cần gặp ngài một chút xíu thôi.
  • Thì cô cứ việc nói với tôi, tôi sẽ thưa với ngài và sẽ trả lời cho cô.
  • Không được, chuyện của con bí mật lắm!

Thái độ và nhất là đôi mắt của Maria ánh lên vẻ cương quyết, cương quyết còn hơn câu nói rắn rỏi của cô.

Bà từ đành đầu hàng. Hơi bực mình, bà lê guốc vào nhà trong, sau khi đã quan sát từ đầu đến chân cô thiếu nữ lạ lùng đầy chí khí này.

Hai phút sau, cha xứ xuất hiện trước mặt Maria.

Với vài câu ngắn ngủi, cô đi thẳng vào vấn đề bằng cách bày tỏ với cha những thắc mắc trong lương tâm, rồi nhìn vị linh mục lo lắng hỏi:

  • Thưa cha, con đã phạm tội chưa?
  • Ồ, không, điều đó không có gì đáng là tội con ạ.
  • Vậy sáng mai con có thể lên rước lễ được không, thưa cha?
  • Được chứ.

Cha xứ định nói thêm mấy lời nữa với tâm hồn trinh khiết, sốt sắng này, nhưng cô gái đã liến thoắng cám ơn, chào vị linh mục rồi chạy mất dạng.

Trời bắt đầu tối. Bên những vườn nho, làn gió nhẹ nhàng cất tiếng hát kinh chiều. Con đường dài, ngoằn ngoèo, lồi lõm khiến Maria mệt lả, đầu gối muốn khuỵu xuống, nhưng cô vẫn tiếp tục chạy.

Mệt nhọc có xá chi khi trái tim dâng lên niềm vui dào dạt. Và ngày mai, hơn thế nữa, chính lúc này, ánh mặt trời đã bừng sáng trong tâm hồn cô.

“Tình yêu đã đưa tôi vào thử lửa” – một thi sĩ đã viết như vậy, và câu nói đó thực thích hợp cho tuổi thanh xuân của Maria…

Tình yêu thử thách trong lửa phát ra sức nóng mãnh liệt và ánh sáng chói ngời, mặc dầu Maria chỉ nuôi dưỡng nó trong tâm hồn một cách âm thầm kín đáo, như ý nghĩ khiêm tốn của cô.

“Vâng, tôi muốn trở nên tốt, nhưng tôi không bao giờ muốn tỏ ra bên ngoài điều tôi cảm thấy trong lòng”. Sau này, Maria đã tự thú như vậy. Thực thế, không tìm cách khoe khoang, vì Maria không chú trọng đến vẻ bên ngoài nhưng muốn đạt tới cái “bên trong”, cái bản chất đích thực của chính mình.

Ngay thẳng và đôi mắt chỉ hướng về “lý tưởng duy nhất” của đời người, cô giống như ánh sáng, như tia lửa hăng nồng.

Giống lửa với bản chất nóng, có thể làm cho mọi nhiên liệu bốc cháy, và càng tăng nhiên liệu bao nhiêu nó càng chiếu sáng bấy nhiêu. Cũng như lửa tình yêu nơi Maria làm tiêu tan tính bướng bỉnh, cứng đầu, để biến cô thành cô gái nhu mì, hiền hậu, lửa tình yêu làm phát triển đức tính ưa hãm mình, chịu đựng sẵn có của Maria, để mở đường cho tấm lòng đại độ không bờ bến sau này.

Nếu Chúa Giêsu Thánh Thể là niềm an ủi, là nỗi nhớ nhung từng giây, từng phút trong Maria, thì Chúa Giêsu đau khổ và thánh giá là đối tượng cho những suy tư của cô. Đối với Maria, suy niệm hình ảnh Chúa Giêsu trên đường tiến tới Calvê và học biết đánh giá trị cuộc đời trong ánh sáng của đau thương chỉ là một. Không phải những câu nói văn hoa bóng bảy đã đánh động tâm hồn cô, mà chính cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Giêsu Thánh Giá, hình ảnh của tình yêu tuyệt đối mà tội lỗi đã đọa đầy thành dung nhan đau thương đến tột cùng, đã gây ấn tượng sâu xa trong tâm hồn cô, đưa cô đến niềm khát vọng hy sinh.

“Trong mùa Chay, tôi chỉ cần ăn no vào những ngày Chúa nhật” – sau này Maria đã tâm sự với bạn như vậy.

Vào tuần thánh, cô gạt bỏ mọi bận tâm, lo lắng trần tục, để được hoàn toàn dìm mình trong việc suy niệm sự thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu.

Dĩ nhiên, việc đồng áng nặng nhọc hàng ngày không thể đặt lên vai người khác, vì thế, cô gái đầy nhiệt tình này đã kéo dài giờ làm việc từ một tháng trước tuần thánh, để có đủ số giờ mà cô sẽ dùng để cầu nguyện trong những ngày này.

 *******

 Lòng đạo đức sốt sắng của Maria khiến ma quỷ giận dữ, căm tức. Nó hăm he đe dọa.

Mày sẽ biết tay tao! Tao sẽ dập tắt lửa yêu mến, để xem mày có còn cầu nguyện sốt sắng, và hăng hái hy sinh nữa không?

Nó thực hiên ngay ý định đen tối, quỉ quyệt đó. Tình cảm sốt sắng nơi Maria biến mất, nhường chỗ cho bức màn chán nản bao phủ tâm hồn. Một tâm hồn u tối như bầu trời không trăng sao. Còn đâu niềm vui trinh khiết của hiệp lễ, còn đâu niềm an ủi êm ái khi cầu nguyện, còn đâu những giây phút say sưa chìm đắm trong suy niệm. Trong cô chỉ còn nỗi trống rỗng lớn lao khủng khiếp.

Cô băn khoăn tự hỏi: “Sao mình khổ thế này? Bơ vơ thế này? Phải chăng mình có điều gì xúc phạm đến Thiên Chúa, nên Người mới bỏ mặc mình trong vũng cô đơn?”.

Nỗi ray rứt âm thầm gặm nhấm tâm hồn cô. Maria muốn tìm về bàn thánh, tìm gặp Chúa Giêsu và hòa hợp với Ngài qua Bí tích Thánh Thể nhiệm mầu, nhưng có một sức mạnh vô hình nào ngăn cản cô, một tiếng nói nào như xua đuổi cô khỏi vòng tay yêu thương của Chúa và ném cô vào thung lũng chán nản, bi quan: “Tâm hồn mày đã khô khan, trống rỗng, mày không thể và không đáng rước Chúa vào lòng”.

Maria đau đớn, sợ hãi và thất vọng trong lúc con quỷ tinh khôn nở nụ cười nham hiểm. Kinh nghiệm đã cho nó biết: muốn dày xéo cho kiệt quệ, cho tan nát một tâm hồn, điều trước tiên và cần thiết nhất là lôi kéo tâm hồn đó ra khỏi bàn tiệc thánh, ra khỏi suối nguồn yêu thương, hồng phúc của thánh lễ Misa. Satan tin tưởng ở khả năng “phá hoại” của mình và nó kiên nhẫn chờ đợi Maria ngã quỵ. Nhưng nó đã thất bại, thất bại một cách chua cay. Maria đã khôn ngoan giãi bày tâm sự với Cha Pestarino và khiêm tốn đặt mình dưới sự hướng dẫn thánh thiện, sáng suốt của ngài.

  • Con cần phải phân biệt sự sốt sắng của tình cảm và sự sốt sắng của ý chí. Cái đầu có thì tốt, nhưng không quan trọng, cái thứ hai mới thật là cần thiết. Đừng bao giờ bỏ rước lễ hay các việc đạo đức khác vì những cảm xúc chán nản, lạnh lùng. Trái lại, trong những cơn thử thách đó, con hãy hết sức bám chặt vào Chúa.

Maria lắng nghe những lời khuyên của cha, những lời khuyên như những tia sáng chiếu tận đáy lòng cô. Nỗi sợ hãi, chán nản tiêu tan, cô vui vẻ hồn nhiên như một đứa bé hát cùng thi sĩ thánh vịnh: “Chúa là Đấng chăn dắt đời tôi, trong những cánh đồng phì nhiêu, Người cho tôi được nghỉ ngơi. Bên dòng suối mát, Người tăng sức cho tâm hồn. Dù cho thung lũng hiểm nguy, tôi không sợ hãi chi, vì có Chúa ở cùng tôi”.

Thử thách tăng cường tình yêu, nghị lực và nhất là niềm tin Maria vững tâm vui vẻ hơn bao giờ hết, tiếp tục tiến lên đi gặp mặt trời.

Chương V

CON ĐƯỜNG TRONG SÁNG

Có một lối đi chắc chắn và mau lẹ để tới cùng Thiên Chúa, đó là Trái tim Đức Mẹ. Ai theo con đường này, không những đi mà còn bay bổng lên thế giới thiện hảo sáng lạn của Chúa Kitô. Maria mau chóng am hiểu đường lối đó. Vì thế, ngay từ buổi niên thiếu, cô đã hoàn toàn hiến mình cho Đức Mẹ Đồng Trinh.

Năm 1854, Đức Giáo Hoàng Pio IX đã tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đúng ba năm sau, miền núi Pyrene được chứng kiến phép lạ Bà Trắng hiện ra cùng Bernadetta.

Từ đó, ánh sáng Mẹ Maria chiếu xuống thế giới để soi sáng nhân loại và chinh phục loài người về cho Chúa Giêsu. Một tia sáng ấy đã chiếu tới tận Mornese.

Angela Maccagno, cô gái lớn tuổi hơn cả giữa đoàn thanh nữ sốt sắng đạo hạnh, mà Maria là một thành viên, đã nảy ra ý kiến soạn thảo một luật lê dành riêng cho các linh hồn muốn sống cách trọn hảo dưới sự phù trợ của Đức Mẹ, tuy vẫn sống trong gia đình.

Cha Pestarino chấp nhận và khuyến khích dự định ấy. Bản luật sơ khai được Cha Pestarino và một nhà thần học thánh thiện suy gẫm học hỏi. Nó đã trở thành bản luật công khai cho hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Maria Mazzarello là một trong những thiếu nữ tham gia phong trào hăng say nhất. Mục đích của hội là “Hoạt động cho vinh quang Thiên Chúa và Giáo hội bằng gương sáng, năng lãnh nhận các Bí tích, sùng kính sự thương khó Chúa Giêsu và Mẹ Đồng Trinh”. Lý tưởng đó cuốn hút tâm hồn Maria. Cô đuợc kể vào số những phần tử nhiệt thành hơn cả.

Xóm làng như được dậy men bởi nhóm trẻ thành tâm noi gương lành của Đức Mẹ và sống đời tận hiến cho Người. Các bà mẹ trong gia đình cũng được các con của Mẹ trên trời giáo huấn trong việc thực hành các nhân đức, nhưng nhất là tuổi trẻ, chúng càng nhạy cảm trước sức quyến rũ hướng về điều thiện.

Hơn ai hết, Maria “lôi cuốn các thanh thiếu nữ như nam châm hút sắt vậy”, một bạn đồng trang lứa đã công nhận như thế.

Cô đã thực hiện thế nào, chẳng cần phải nhiều lời để diễn tả. Không phải những bài giảng dài về Thiên Chúa nhưng chỉ một câu nói duyên dáng, đúng lúc, một cái nhìn linh động kèm theo nụ cười, và nhất là sức quyến rũ của gương sáng.

Maria tựa như cánh cửa sổ mở rộng hướng về Thiên Chúa, và từ nơi đó, các bạn cô có thể hưởng thụ ánh sáng và hương thơm.

  • Em có thể làm giúp chị một việc không?
  • Cả hai, nếu có thể.
  • Này chị phải đi xưng tội, đi với chị cho vui.

Cô bé được mời không ưng thuận, vì đã từ lâu, cô chống trả lại ý định đi lãnh nhận Bí tích này. Nhưng Maria không chịu bó tay, cô cố gắng hoạt động cho tới khi khuyên dụ được linh hồn đó.

Đây không phải là chiến thắng đầu tiên hoặc cuối cùng.

Biết bao bạn trẻ đã nhờ cô mà từ bỏ con đường xấu; đã gần gũi cô mà học biết vẻ đẹp của các nhân đức.

Chiếc đèn để trên giá cao soi cho tất cả; không chỉ ngôi nhà mà cả xóm làng cũng được chiếu sáng, miễn là ánh sáng và lửa ấy phải là tình yêu.

Nơi Maria, ngọn lửa tin yêu thầm kín vẫn giãi sáng, dù cô luôn tìm cách giấu kín trong tâm hồn, nhưng lòng sùng kính đơn sơ, cởi mở đó chẳng khác nào một trang sách của Tin mừng.

Trong một buổi họp nhóm, với gương mặt âu sầu và giọng nói run rẩy, cô tự thú: “Hôm nay, tôi đã để qua đi một khắc đồng hồ không nghĩ tới Chúa”.

Các bạn nhìn cô ngạc nhiên: một con người bước đi trong ánh sáng mà không biết mình đang chìm ngập trong đó.

 *******

 Khi Mazzarello lên 20 tuổi, một tai nạn bất ngờ đã xảy ra cho gia đình cô ở Valponasca.

Trong lúc mọi người bận rộn ngoài vườn nho, kẻ trộm đã lẻn vào nhà cô mà chẳng ai hay, khi biết, mọi người hô om xòm “có trộm” thì bọn bất lương đã bỏ đi mất, sau khi đã vơ vét tất cả 700 đồng bạc, một số tiền lớn đối với những người nghèo thời đó.

Thực là nỗi buồn lớn cho gia đình Maria. Cha mẹ cô như tuyệt vọng. Cả Maria, thoạt đầu cũng âu sầu, nhưng rồi chính cô lại yên ủi, khích lệ song thân. Cô biết dùng cách êm ái dịu dàng để dẫn đưa mọi tâm hồn tín nhiệm vào Chúa.

Thỉnh thoảng lòng căm hờn đối với kẻ bất lương lại bùng lên và những câu kết án chua cay lại được thốt ra, thì chính Maria, người xuân nữ chìm đắm trong lửa sáng Phúc âm, không  ngại lên tiếng cản ngăn:

  • Không! Không! Chúng ta không có quyền kết án họ. Tốt hơn chúng ta hãy cầu xin Chúa đánh động tâm hồn họ và khiến họ ăn năn trở lại. Chỉ vì dốt nát, nếu không họ chẳng làm điều đồi bại như thế!

Dù sao gia đình Mazzarello cũng quyết định rời bỏ Valponasca để vào ở hẳn trong xóm cho chắc chắn hơn.

Và Maria, trong ngôi nhà nhỏ trên đường Valgelata, lại có một lý do mới để khám phá ra sự quan phòng của Thiên Chúa trong mọi trường hợp.

Cô tự nhủ: kể cũng hay! Bây giờ mình sống trong xóm gần nhà thờ, nên tha hồ đi viếng Chúa Giêsu bao nhiêu lần tùy ý.

*******

 Năm 1860, bệnh dịch hoành hành trên những ngọn đồi Mornese hiền hoà, gây đau thương cho dân chúng. Ngoài vườn nho, tiếng ca hát im bặt và đường phố trở thành bãi sa mạc hoang vu. Mặc dù mọi cánh cửa đều đóng kín, tử thần vẫn thăm viếng từ nhà nọ sang nhà kia, lựa chọn vô số nạn nhân.

Ai cũng sợ nhận ra dấu hiệu của dịch tả trên gương mặt người khác, nên chạy về ẩn náu trong nhà. Nhưng cũng có người sẵn sàng thách đố dịch tả, có người không chút e dè, vì ở đâu có tình bác ái bao la, ở đó không có chỗ cho sợ hãi.

Người đó chính là Maria.

Cả gia đình người cậu của Maria đều mắc chứng bệnh nguy hiểm đó. Mợ của cô và đứa con cả lâm vào tình trạng trầm trọng nhất.

Ngôi nhà lộn xộn, lâu ngày không người chăm sóc xem ra như một bãi chiến trường ảm đạm: Tiếng rên rỉ của bệnh nhân, tiếng khóc của con nít, tiếng than van của những người vừa ốm dậy vang lên ảo não.

Maria tới ra tay hộ giúp và lập tức biến khung cảnh rối loạn ấy thành gọn gàng, ngăn nắp. Sự hiện diện âm thầm, vui vẻ và năng động, thấm nhuần kinh nguyện của cô tựa như ánh bình minh dâng lên tô thắm cảnh núi rừng của đêm khuya rùng rợn.

Những kẻ được làm ơn, sau bao tháng ngày trôi qua, vẫn còn ghi nhớ tấm lòng hy sinh vô điều kiện ấy.

Nhưng dịch bệnh đâu có chịu buông tha miếng mồi ngon đã nằm gọn lỏn trong tay hắn. Maria không chút ngạc nhiên vì đã tiên đoán sự thật phũ phàng ấy khi chấp nhận lời mời của Cha Pestarino đi giúp gia đình người họ hàng:

  • Thưa cha, con sẽ đi, tuy con biết con sẽ bị lây bệnh.

Tình yêu không phải là cái bếp lò nóng hổi để bạn đến bên sưởi ấm cuộc đời, nhưng là một ngọn lửa cháy dữ dội, có sức lôi cuốn bạn vào công cuộc nhiệm mầu của ơn cứu chuộc. Nếu cần, cả bạn cũng có thể tham dự vào kỳ công này tùy theo khả năng sẵn sàng tự hiến và hy sinh cả mạng sống cho anh em đồng loại.

Maria am hiểu tường tận điều đó. Cô đã lao mình tận hiến tuổi thanh xuân cho những ai cần đến và lúc này, bị cơn sốt dày vò, cô vẫn chỉ lo lắng cho người khác.

Một người láng giềng kia nổi tiếng vì thành tích bất hảo đã can đảm tới bên giường bệnh thăm hỏi Maria. Maria dịu dàng nói những lời chân thành, phá tan mọi thành kiến và soi sáng kẻ lạc đường trở về chính lộ:

  • Cám ơn anh đã chẳng ngại tới thăm tôi. Xin Chúa trả công cho anh gấp bội. Tình yêu đòi trả lại tình yêu. Anh hãy nghĩ tới lòng Chúa yêu anh vô bờ bến. Chắc anh đã biết, ở đời ai cũng phải chết và có thể chết lúc người ta không ngờ tới. Anh nghĩ sao nếu tử thần cũng tới thăm anh lúc này?

Người ấy ra đi và đã biến đổi cuộc đời.

Các thành viên trong hội đoàn, những người lối xóm thay phiên nhau tới bên giường bệnh như tới một nguồn mạch ánh sáng. Thực vậy, ánh sáng giãi ra từ một tâm hồn khao khát đi về Thiên quốc và chỉ còn đợi ngày gặp gỡ cùng Thiên Chúa.

Chính bác sĩ chữa bệnh cho Maria cũng phải kinh ngạc khi nghe cô thổ lộ: “Xin bác sĩ đừng nói với tôi về thuốc men nữa. Tôi không ao ước chi ngoài Thiên đàng”.

Nhưng Thiên đàng đã đóng cửa trước lòng ao ước hăng nồng ấy. Maria đã lành bệnh.

Lần đầu tiên đi tới nhà thờ sau chuỗi ngày liệt giường, cô khẩn nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa còn muốn cho con sống vài năm nữa, xin Chúa cho con sống âm thầm, không để ai biết đến, ngoại trừ một mình Chúa”.

Và trời cao đã reo mừng đón nhận lời cầu xin đáng mong đợi này. Vì lời cầu xin ấy gói ghém tất cả tấm lòng khiêm cung cần thiết để kêu gọi Thiên Chúa và thúc đẩy Người hoàn thành những điều vĩ đại trong quãng đời còn lại của Mazzarello.

Chương VI

BƯỚC SANG MỘT NẺO ĐƯỜNG

Thời kỳ dưỡng bệnh kéo dài, “Main”, cái tên thân thương trìu mến mà chúng bạn tặng cho Maria, đã mất hẳn sức khỏe khi xưa, một sức khỏe phi thường đã từng khiến các cậu con trai phải thèm thuồng, ganh tị; nguồn sinh lực dồi dào ấy sau cơn đau nặng đã suy yếu tiêu tan chẳng khác nào cây cổ thụ đã ngã đổ sau cơn giông tố.

Đời sống nhọc nhằn ngoài đồng áng không còn thích hợp với cô nữa. Phải làm gì bây giờ? Maria chỉ biết cầu nguyện. Kinh nguyện đã soi sáng, dẫn dắt cô cũng như đã từng kéo được ánh sáng Thiên Chúa trên những bước đường mông lung của đời người.

Một hoài bão chớm nở trong tâm hồn cô: “Hay là mình đi học may. Khi thành thạo rồi, mình có thể mở lớp cắt may cho các thiếu nữ, đồng thời dạy giáo lý và dẫn dắt linh hồn chúng về cùng Thiên Chúa”.

Niềm mơ ước lớn dần theo thời gian và trở thành lý tưởng duy nhất của đời người thanh nữ.

Trời cao hình như cũng quan tâm đến lý tưởng đẹp tuyệt vời ấy, nên đã ban cho cô một phút giây tuyệt đẹp, một giây phút ngắn ngủi, nhưng cũng đủ trở thành bất diệt đối với Maria, đủ in sâu vào tâm khảm cô đến muôn đời. Hôm ấy, Maria thong thả bước đi trên con đường dốc ngoằn ngoèo dẫn tới Borgo – Alto. Cảnh vật nơi đây gần gũi, quen thuộc với cô như bộ mặt của một người thân. Nhưng kìa! Có gì lạ thế kia? Maria dụi mắt lia lịa, tưởng như mình đang mơ. Trước mắt cô sừng sững một ngôi nhà đồ sộ, chưa từng thấy. Ở đó, có đám trẻ nào xa lạ đang nô đùa vui vẻ, bên các nữ tu hiền dịu. Tự nhiên, Maria cảm thấy vô cùng xúc động. Cô lại càng xúc động hơn nữa khi nghe như có tiếng ai vọng lại:

  • Ta trao phó chúng cho con.

Lúc đó, cô sống như trong mơ, như đã vượt ra khỏi không gian và thời gian, và cũng chính lúc đó, tâm hồn cô bị xâm chiếm bởi ý tưởng: dâng hiến đời mình cho các trẻ em.

Ngày tháng trôi qua, niềm mơ ước vẫn không phai mờ, viễn ảnh một tòa nhà đồ sộ, đầy trẻ em, vẫn còn là một ấn tượng sâu xa trong lòng xuân nữ Maria.

Người độc nhất có thể ban cho cô những lời chỉ dẫn sáng suốt về vấn đề này là cha giải tội. Maria nhận thức được điều đó, và không ngần ngại kể cho ngài nghe sự việc đã xảy ra.

Nhưng không ngờ, Cha Pestarino không đợi nghe kể hết câu chuyện, đã quở trách cô thậm tệ, và cho cô biết tất cả chỉ là ảo tưởng, chỉ là sản phẩm của mơ màng, rồi cha còn cấm cô: “Không được hé môi cho ai hay, hoặc nghĩ tới câu chuyện bịa đặt đó nữa”.

Cô thiếu nữ vâng lời, cố tìm cách quên đi viễn cảnh kia, nhưng cô không thể quên đoàn trẻ nhỏ và thao thức với ý nghĩ: làm thế nào để mưu ích cho chúng.

Thật vậy, bất cứ hoài bão nào do Thiên Chúa đặt vào tâm hồn ta, thì chấp cả thế giới cũng không tiêu diệt nổi. Ngài chính là chủ nhân đời sống, và dẫn đưa mọi dự định đến chỗ hoàn thành.

Sau này, Cha Pestarino, vị linh mục thánh thiện đã am hiểu được ý định của Thiên Chúa, và tòa “lưu xá” mà Maria đã sững sờ và xúc động tột độ khi thấy lần đầu tiên, đã trở thành nơi cư ngụ của những chiến sĩ tiền phong Con Đức Mẹ Phù Hộ, mà Đấng Quan Phòng đã dẫn đưa tới.

Maria có người bạn tên là Petronilla Mazzarello. Tình bạn chân thành, thắm thiết giữa đôi tâm hồn son trẻ ấy phát sinh từ những tâm tình hòa hợp, từ lý tưởng mà cả hai cùng ôm ấp, và nhất là từ ý muốn giúp đỡ lẫn nhau để trở nên hoàn thiện.

Thiên hạ nhiều người không hiểu được tình bạn cao thượng đó. Thấy đôi bạn hay gặp gỡ nhau, chuyện trò thân mật, có người ở Mornese đã phải nói: “Không hiểu hai đứa kia chúng thì thầm với nhau gì thế?”.

Họ đâu biết đôi bạn trẻ đang thầm thĩ cùng nhau những bí mật của tình yêu Thiên Chúa và các linh hồn: thực tại trong sáng đó không thể đem ra trình bày phí phạm trước con mắt tò mò của thiên hạ.

Trưa hôm đó, một buổi trưa hè năm 1861, giữa đám cây xanh rì, trên con đường vắng vẻ về phía tả ngôi thánh đường nhà xứ, Maria tâm sự với bạn:

  • Lại đây, Petronilla, mình có chuyện này cần nói với bạn.
  • Bạn cứ nói đi, mình sẵn sàng nghe đây.
  • Petronilla có muốn chúng mình cùng làm việc với nhau không? Chúng mình sẽ tới nhà bác thợ may ở ngoài phố xin học nghề, rồi sẽ dùng nghề đó làm phương tiện để giúp ích cho bạn trẻ.

Petronilla nhìn bạn ngập ngừng:

  • Phải tới tận nhà bác thợ may học nghề cơ à?

Maria tìm cách thuyết phục bạn bằng những lý do chính đáng. Bệnh tình đã cướp mất sức khỏe của cô, nhưng không cướp nổi được ý chí cương quyết, tính ưa hoạt động, cái nhìn lạc quan hướng về tương lai đầy hứa hẹn. Cô nói với bạn:

  • Được, chúng mình sẽ tới nhà bác thợ may học nghề. Nhà bác ta có bán cả vải nữa, như vậy ngoài việc học cắt may quần áo, chúng ta còn có thể tập nhìn mặt vải để phân biệt thứ nào tốt, thứ nào xấu. Khi có thể điều khiển được tiệm may, chúng ta sẽ từ giã bác thợ để đi mở một lớp cắt may cho các thiếu nữ và lợi dụng lớp học đó để dạy cho chúng biết yêu mến Thiên Chúa, biết tránh xa những gì nguy hiểm cho tâm hồn. Chúng ta sẽ sinh sống bằng việc làm của chính chúng ta và đời sống chúng ta sẽ sinh ích cho nhiều linh hồn. Mình đề nghị như vậy có được không?

Petronilla ngập ngừng không trả lời, vì sợ gia đình không đồng ý cho mình đi xa nhà như thế. Maria khuyến khích bạn:

  • Petronilla cứ về thưa chuyện với bác trai, thế nào bác cũng cho phép.

Cây dẻ già đứng im như lắng nghe câu chuyện giữa hai người bạn gái, đến khi thấy nỗi băn khoăn của Petronilla vỡ trào thành niềm vui sướng, liền reo lên trong gió như tán thành ý kiến xây dựng của hai bạn trẻ, và tiễn chân họ vào nhà thờ. Ở đó đôi tâm hồn son trẻ nài xin Thiên Chúa chúc lành trên nẻo đường mới.

Vài ngày sau, với sự thỏa thuận của Cha Pestarino, của song thân Maria và của thân phụ Petronilla, giấc mơ của những tâm hồn cao thượng bắt đầu hình thành. Đôi bạn khởi sự học nghề tại nhà bác thợ may Valentino Campi.

Chương VII

TỔ ẤM ĐẦY ÁNH SÁNG

Giấc mộng mở tiệm cắt may của Maria và Petronilla chẳng mấy chốc đã thành sự thật.

Dù có dấu hiệu can thiệp của Thiên Chúa, nhưng để đạt được thành quả này, họ đã phải vượt qua nhiều trở ngại: trước hết là những hiểu lầm của họ hàng, rồi nỗi khó khăn trong lúc đi tìm một địa điểm thích hợp, và phải di chuyển hết chỗ này sang chỗ khác, sau cùng là những lời bình phẩm không mấy hay ho của thiên hạ. Thật vậy, họ gặp những hoàn cảnh thiếu may mắn, chẳng khác nào cảnh ngộ éo le mà Cha Bosco đã từng gặp. Dù sao, đôi bạn cũng cảm thấy vui mừng, mãn nguyện khi thấy các thiếu nữ kéo nhau tới xin học mỗi ngày một đông.

Maria hay “chị Maria”, tiếng gọi vừa thân mật vừa kính trọng người ta dành cho cô hầu như để phân biệt cô với các cô gái khác, cô là hoa khôi giữa những bông hoa đẹp. Cô lại lôi kéo được cảm tình của dân làng bằng tài may khéo léo.

Quả vậy, Maria đã thành thạo nghề may. Lúc này, cô có thể tự lập và điều khiển những bàn tay vụng về của đám trẻ khi chúng cắt, chúng may, chúng vá. Điều khiển đôi tay chưa đủ, cô còn dìu dắt cả con tim chúng nữa.

“Mỗi đường kim mũi chỉ là một hành vi yêu mến Chúa”. Cô thường khuyên nhủ đám trẻ với giọng nói phát ra từ tâm hồn sốt mến.

Mỗi lần Maria nói về Thiên Chúa, thì Thiên quốc như hiện diện trong phòng may bé nhỏ, và đoàn trẻ thơ hô hấp cách vô tư trong bầu khí thiêng liêng, như thể hít vào buồng phổi những làn khí thơm lành.

Đôi khi, có vài bà mẹ muốn con mình ăn mặc hở hang, thiếu nhã nhặn, Maria cương quyết không chịu làm theo những đòi hỏi ấy. Cô trao đổi với các em: “Về vấn đề làm dáng cách thiếu nhã nhặn, kín đáo, em không nên nghe má, em nên nhớ rằng: tự kiêu, tự đại và lòng đạo đức không thể đi đôi với nhau được”.

Những lời khuyên nhủ tương tự chứng tỏ đời sống thiêng liêng của Maria đã trưởng thành. Do đó, chúng ta cũng hiểu được tại sao Chúa Quan Phòng đã chọn cho cô một môi trường hoạt động tông đồ rộng lớn hơn. Người đưa đẩy tới nhà Maria hai cánh chim non không tổ ấm. Chúng mồ côi mẹ, còn bố thì làm nghề bán hàng rong, phiêu bạt nay đây mai đó. Maria lo liệu cho chúng được một gian phòng nhỏ hẹp và hai chiếc giường con.

Với hai trẻ mồ côi này, lớp cắt may đã trở thành lưu xá và năm 1863, số trẻ tăng lên năm em nữa. Chúng tìm thấy nơi Petronilla, và nhất là nơi Maria một tấm lòng mẫu tử.

Nếp sống đầm ấm nơi căn nhà nhỏ diễn ra giữa công việc và kinh nguyện, thêm vào đó là những giờ phút giải trí thoải mái, với những tiếng hát, tiếng cười giòn giã.

Tính tình nóng nảy của Maria được điều hòa bằng tình bác ái dịu dàng. Vì thế mà cô gây được nhiều thiện cảm khiến mọi người yêu mến, kính trọng.

Am hiểu sâu xa, sống động những điều về Thiên Chúa, Maria dạy dỗ các học sinh của mình như thể truyền thông ánh sáng từ một nguồn chói lọi.

“Đừng để lòng chúng ta  lưu luyến bất cứ vật gì, ngay cả một tấm hình, nhưng chỉ lưu luyến một mình Thiên Chúa, vì chỉ mình Người mới có thể làm cho chúng ta hoàn toàn thỏa mãn”.

Đó là tiếng kêu khát vọng cõi vô cùng mà những thi sĩ, triết gia thường gắng công diễn tả. Kiểu nói đơn sơ kia như vang lại câu nói bất hủ của Thánh Augustino: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, nên tâm hồn chúng con cứ hoài khắc khoải, cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa”.

Thời kỳ đó, Mornese cũng như phần lớn dải đất nước Ý, nhất là miền Piemonte, bị ảnh hưởng không ít những quan niệm sai lầm của bè phái Giăng-sê. Bè rối này viện cớ kính trọng Thiên Chúa, đã làm giá lạnh bao tâm hồn và khuyến khích họ lánh xa Người.

Maria, con người bản tính hăng nồng, khinh thường dư luận, nếu dư luận đó không trong sáng và phản chiếu ánh mặt trời chân lý. Cô thường khuyên bảo các học sinh: “Không phải vì kính trọng Thánh Thể mà lên rước lễ ít lần; trái lại, chính vì kính trọng phép mầu nhiệm này mà cần phải đi rước Chúa thường xuyên. Các em đừng bỏ rước lễ, mặc cho thiên hạ chê cười, chế nhạo sau lưng và cho các em là điên dại”.

Maria đã khéo làm say mê các thanh thiếu nữ bằng vẻ đẹp đích thực, không dệt bằng áo quần hay những vật chất khác, nhưng bằng hào quang của tâm hồn, trong việc thực hành các nhân đức.

“Chúng ta hãy tìm cách trở nên đẹp đẽ trước nhan Thiên Chúa” – Cô thường nhắn nhủ và vạch vẽ cho họ con đường phải theo.

Trước hết, cô muốn cho các con trẻ thành thật như làn  nước trong veo. Biết bao đứa trẻ đã phải bật khóc khi đôi mắt sâu sắc của Maria nhìn chúng như lục lọi tìm kiếm những gì là man trá đang ẩn núp trong tâm hồn chúng! Chúng cảm thấy xấu hổ, ghê tởm sự giả trá, qua những lời nói đanh thép, nghiêm nghị mà Maria chỉ dùng trong những trường hợp tương tự.

Khi lời quở trách, mặc dầu rất nghiêm nghị qua đi, thì mọi sự đều trở về bình an, như bầu trời sáng lạn sau cơn giông tố. Bọn trẻ hiểu rằng chúng đã không mất tín nhiệm, hoặc cảm tình của người chị cả; trái lại, chúng hiểu thêm rằng chỉ vì tình yêu thành thực mà Maria đã sửa chữa chúng. Vì thế, chúng sẵn sàng làm những gì cô mong muốn, dù có phải hy sinh cả cuộc đời.

Để mừng lễ trước mùa Chay, dân làng Mornese, theo tục lệ, cũng có tài lôi ra những trò vui lố bịch. Năm đó, họ tổ chức một buổi khiêu vũ công cộng, với những lời mời nồng nhiệt, với những lời quảng cáo ầm ĩ. Có cô gái nào chống nổi sức quyến rũ ấy!

Maria ra tay can thiệp: cuộc khiêu vũ do Satan cổ võ sẽ thất bại cách thảm hại (khiêu vũ không phải là cách thức hữu hiệu để ma quỷ đưa các linh hồn tới tội ác sao?).

Suy nghĩ mãi, Maria mới tìm ra phương pháp đề phòng: “Chúng muốn nhảy múa với nhau ư? Thì cứ việc nhảy múa! Nhưng con gái với con gái, vui đùa dưới đôi mắt cẩn thủ của tôi đây!”

Thế là ngày lễ tới, những người tổ chức “nhảy đầm” công khai đành đứng “tẽn tò” một góc đường phố chờ đợi, trong khi các cô gái lũ lượt kéo đến phòng may của Maria.

Khỏi phải nói họ tức giận đến mức độ nào. Buồn cười trơ trẽn hơn nữa là hai gã trong bọn tiến vào, xâm nhập chỗ các cô gái đang vui đùa. Maria ra hiệu: tiếng nhạc ngừng bặt. Bọn trẻ đứng giãn sang hai bên tường. Đôi du đãng thẹn thùng vô cùng trong yên lặng. Để khỏi quá bẽ mặt, chúng gắng gượng quay múa vài vòng, nuốt thầm cơn tức giận, rồi tự khắc rút lui, trước những con mắt tự đắc và những nụ cười chế nhạo.

Tuy nhiên, đây cũng là lần khiêu vũ độc nhất trong nhà Maria. Theo ý niệm khôn ngoan về nền giáo dục Công giáo, Maria Mazzarello và Cha Bosco đều cho rằng: ca nhạc, kịch tuồng và những trò chơi vui mới làm khuây khỏa cả thể xác lẫn tâm hồn, chứ không phải khiêu vũ. Khiêu vũ giữa con gái với nhau cũng không tránh được nguy hiểm.

Thời gian trôi qua, tư cách sáng ngời của Maria càng ngày càng gây được ảnh hưởng tốt đẹp. Chúa nhật nào cô cũng tụ tập các cô gái trong làng, và cả các cô sống ở những căn nhà rải rác đó đây quanh vùng. Cô khởi sự một sân chơi vui vẻ (kiểu “khánh lễ viện” của Cha Bosco).

Buổi sáng, sau thánh lễ, mọi người đều ca hát, trò chuyện vui vẻ ngoài sân cỏ.

Buổi trưa, đoàn thiếu nữ đi dạo trên đồi, đọc chuỗi Mân côi, chơi đùa nhộn nhịp. Đây những cành cây bị uốn cong dùng làm võng đu; chỗ kia những bài ca nhộn nhịp, những kiểu chơi mới lạ do chính óc tưởng tượng của Maria phát minh ra.

Rồi, khi nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên mời gọi giáo dân đi nghe giảng giáo lý, mọi người đều “ba chân bốn cẳng” chạy xuống chân đồi, băng qua những vườn nho chín thơm trĩu trái. Và lời của Chúa đi sâu vào các tâm hồn, tựa hạt giống rơi xuống mảnh đất màu mỡ, sẵn sàng khai hoa kết quả.

*******

Chương VIII

CUỘC HỘI NGỘ VĨ ĐẠI

Tâm hồn được kén chọn để thực hiện lý tưởng cao siêu, có thể như bầu trời bao la, trong sáng, nhưng đôi khi bầu trời trong sáng ấy cũng bị xáo trộn bởi những cơn bão táp, đó là những thử thách không tài nào tránh nổi.

Giờ đây, cơn giông tố dữ dội cũng đến với Maria, do miệng luỡi xấu xa của kẻ xấu bụng ngấm ngầm gieo ác cảm. Rất tiếc, những con người gây nên thảm cảnh này lại là những phần tử thuộc hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (dĩ nhiên, họ không vào hạng những phần tử ưu tú nhất), những kẻ ấy gây dư luận đen tối với những giọng điệu:

“Chà! Hai đứa đó coi vẻ dạy đời lắm! Maria thì còn phải nói, thật là một kẻ xáo trộn lề luật! Ai đời con gái con đứa mà dám bỏ nhà cha mẹ ra đi, để dựng cho mình một quán trọ! Rồi xem, ở Mornese cô ta sẽ chiếm quyền thượng đẳng, chẳng mấy chốc, chính Cha Pestarino cũng phải cúi đầu tuân lệnh cô nàng. Công việc Maria làm chứng tỏ cô đã lợi dụng lòng nhân hậu của cha xứ”.

Maria âm thầm đau khổ, nhưng khi có ai dám nói những điều đó cách vô lễ trước mặt cô, cô liền bình tĩnh trả lời:

“Các chị biết rằng luật lệ cho phép cha tuyên úy lo liệu nơi ăn, chốn ở, nghề nghiệp cho các hội viên cô độc, hay gặp những khó khăn thử thách trong gia đình. Đời sống chúng em không có gì nghịch với quy luật hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm”.

Nhưng những người đó vẫn không chịu khuất phục. Dẫu sao,  đó cũng là chuyện thường tình: vì ở đâu có nhân vị nào nổi bật lên về sức mạnh của lý tưởng cao thượng; ở đâu có tâm hồn thánh nhân chiếu sáng lòng quảng đại vui tươi, thì ở đó có kẻ đê tiện đau khổ và ghen tương; ở đó có kẻ trồng gai góc và châm nọc độc cho tới khi đắp thành một núi nhỏ Calvê. Nhưng chính Đấng Quan Phòng lại lợi dụng nỗi đau thương này để đưa tâm hồn người trung tín vào mầu nhiệm của tình thương.

Tình hình đó căng thẳng đến nỗi Cha Pestarino phải ra tay can thiệp. Ngài cho gọi Maria:

“Con ạ! Tốt hơn con hãy trở về nhà giúp đỡ cha mẹ một thời gian và đừng có lai vãng ngoài xóm làng nữa, trừ khi con đi dự thánh lễ. Cha biết đây là một thử thách lớn lao Chúa gửi đến cho con. Con cứ yên tâm, mọi sự rồi sẽ trở nên êm đẹp như xưa”.

Maria cúi đầu vâng phục. Cô chỉ ngước đôi mắt đen ngấn lệ nhìn vị linh mục dò hỏi một câu độc nhất:

  • Thưa cha, thế còn những đứa trẻ?
  • Chúng vẫn ở lại phòng may – Cha Pestarino trả lời – có Petronilla, chúng sẽ chẳng phải cô đơn.

Maria không còn gì để thắc mắc nữa.

  • Vâng – cô thưa – con sẽ đi ngay ngày hôm nay.

Câu “vâng” ấy hợp với tiếng “fiat” của Chúa Giêsu trong vườn Giệt-si-ma-ni đã trở nên một sức mãnh liệt, có khả năng cứu rỗi toàn thế giới.

Maria đã hoàn tất nỗi thống khổ ấy trong khoảng một tháng trường.

Thế rồi, thanh bình bỗng nhiên trở lại. Lửa ghen tương nguôi dần, những lời phê bình chỉ trích mỗi ngày một im vắng, và Cha Pestarino lại gọi Maria trở về phòng may.

Cô vui mừng hớn hở trở về đoàn tụ với tổ ấm thương yêu. Hạnh phúc hơn nữa là cô được các học sinh của cô đón rước chẳng khác gì mọt cuộc khải hoàn vinh hiển.

Sau cơn thử thách, ánh sáng mặt trời Thiên Chúa lại chiếu soi chói lọi trong bầu trời tâm hồn Maria. Cô đã sẵn sàng cho cuộc hội ngộ vĩ đại sắp tới.

 *******

 Không phải chỉ có những bài ca được phối hợp bởi những nốt nhạc đường cung, do bàn tay tài tình của người nghệ sĩ, mà có cả những khúc nhạc phát ra từ cung lòng hòa hợp do một cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa những tâm hồn đồng điệu với sự xếp đặt của Thần Linh Thiên Chúa. Thực vậy, Chúa Thánh Thần nối kết mối tương đồng giữa các thánh nhân, khiến các ngài cùng nhau cộng tác trong trọng trách cao cả làm vinh danh Thiên Chúa. Cuộc hội ngộ giữa Cha Bosco và Maria Mazzarello cũng thuộc về một trong những loại kỳ công này.

Từ hồi còn thơ ấu, cậu bé nhà quê xứ Becchi đã tỏ ra hăng hái, can trường, say mê Thiên Chúa và các linh hồn. Giờ đây, Bosco trở thành vị linh mục được hâm mộ nhất, đã trở thành người cha của thanh thiếu niên đói khát, không nơi nương tựa. Maria Mazzarello cũng cùng chung chí hướng ấy. Cô đã trải qua bao thử thách, mà vẫn bước đi vững chắc trên bước đường Chúa Quan Phòng giáo huấn: sống cho Thiên Chúa, xả thân mưu ích cho thanh thiếu nữ, gìn giữ chúng khỏi tội ác bằng chinh phục trong yêu thương, trong chân lý.

Maria hình như được sinh ra để sống theo vết chân Cha Bosco, theo ánh sáng phương pháp giáo dục Dự phòng do ngài thành lập, dựa trên lý trí, tôn giáo và tình thương mến.

Ngày kia, Cha Bosco cùng với lũ trẻ của ngài vui mừng hớn hở tiến vào Mornese trong dịp đi dạo được tổ chức hàng năm, với những mục tiêu luôn đổi mới. Dân làng nghe tin, tuốn ra đón chào vị thánh nổi danh và quây quần chung quanh ngài. Ai cũng muốn tới bên Cha Bosco, để nghe cho rõ những lời khuyên nhủ quý giá. Họ chen lẫn nhau để được chỗ tốt. Cả Maria cũng lẫn lộn giữa đám đông. Cô cố tiến lên, tiến lên mãi, bỏ mặc các bạn sau lưng. Thấy cô đứng dãy trên cùng, giữa đám đàn ông, con trai, đang chăm chú nghe như không muốn bỏ sót một lời nào của Cha Bosco, có người đã phải ngạc nhiên thốt lên:

  • Cái chị này, chiều nay kỳ lạ thật!

Cô đơn sơ, hăng hái trả lời: “Cha Bosco là một vị thánh, và em cảm thấy như vậy”.

Chính trong dịp thăm viếng này, Cha Bosco đã hứa với dân chúng Mornese xây cất lưu xá lừng danh trên khoảng đồi Borgo Alto. Mọi người đều tỏ ra hoan hỷ. Và cũng do những ngày ở Mornese, thánh nhân mới có dịp biết Maria và Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Sau khi từ giã Mornese, Cha Bosco vẫn không quên sự hiện diện của các thôn nữ này. Cha Pestarino thường báo cho ngài mọi tin tức. Công việc của Maria bắt đầu hấp dẫn nhiều tâm hồn quảng đại khác, nhiều cô gái lúc này cũng bỏ nhà cha mẹ đến sống với đôi bạn theo một luật lệ đặc biệt, hướng cuộc đời mình vào khuôn mẫu hoàn hảo là Chúa Kitô, và làm việc tông đồ giữa các thanh thiếu nữ. Họ không còn ở nhà thuê nữa, nhưng ở nhà Vô Nhiễm, do Cha Pestarino xây cất.

Công việc nhiều vô kể, mà đồ ăn thức uống thì ít ỏi, nhưng lòng người ở đó vẫn vui vẻ, say sưa yêu mến Thiên Chúa và các linh hồn.

Nếu lửa còn cháy, thì không khó khăn nào có thể ngăn cản nổi. Lửa yêu mến lan rộng ra theo bản chất của nó, và sẽ truyền thông sang vô số tâm hồn. Cha Bosco tự nghĩ như vậy nên khi được Đức Mẹ cho biết trong giấc mơ: Mẹ ao ước ngài làm cho trẻ nữ những gì đang làm cho trẻ nam, thánh nhân liền nghĩ ngay tới Mornese.

 *******

 Một hôm, Cha Pestarino được mời khẩn cấp về Torino, Cha Bosco báo tin cho Cha Pestarino hay Đức Giáo Hoàng đã chấp nhận dự định của ngài trong việc thành lập một hội dòng nữ để giáo dục con em.

Cha xứ nhìn vị tông đồ nhiệt thành có vẻ nghĩ ngợi:

  • Cha tính sẽ tìm đâu ra các nữ tu tương lai?
  • Cha Pestarino ơi! Chẳng có các Con Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Mornese đó sao?
  • Nhưng họ chưa từng tỏ ra ý định trở thành tu sĩ.

Cha Bosco yên lặng như trầm ngâm trong kinh nguyện. Còn một vấn nạn nữa cần phải nêu lên, nên Cha Pestarino tiếp tục: thế còn chỗ ở, ngài định lập cư cho họ nơi nào?

  • Ở lưu xá – thánh nhân bình tĩnh trả lời.
  • Ở lưu xá à – Cha Pestarino lớn tiếng kinh ngạc – lưu xá dành cho các thanh thiếu niên chứ? Nếu thế thì cha tính sao với dân làng? Người Mornese sẽ bàn tán ra sao? Họ đã hy sinh biết bao nhiêu mà bây giờ…?
  • Ý Chúa muốn rõ ràng điều đó, nên chúng ta sẽ làm theo như vậy – Cha Bosco trả lời.

Vị linh mục thánh thiện tín nhiệm Cha Bosco, nên không lý luận gì thêm và trở về xóm cũ.

Để thực hiện những ý định của mình, Thiên Chúa Quan Phòng thường lật đổ những dự định nhân loại. Trong Chúa, trong thánh ý của Chúa, không có chi là không hòa hợp cách lạ lùng, cả khi chúng ta chỉ nhận thấy điều rắc rối, sự đổ vỡ, mối gay go.

Những khó khăn không nhỏ đã khiến Cha Bosco không giữ được lời hứa: dùng lưu xá cho việc giáo dục các thiếu niên trong xứ Mornese. Hội đồng giám mục đã bãi bỏ dự định trên của ngài và Cha Bosco phải tuân phục các bề trên như vâng lời Thiên Chúa vậy.

Sự thất bại bên ngoài của kế hoạch từ thiện này đã là khởi điểm để sau này dẫn đưa các Con Đức Mẹ Vô Nhiễm vào trong những bức tường của tòa nhà kiên cố này.

Viễn ảnh ngày nào của Maria giờ đây đã trở thành hiện  thực.

*******

 Chương IX

ĐÀI KỶ NIỆM SỐNG ĐỘNG

Thành lập Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ, Cha Bosco có ý nâng lên cao đài kỷ niệm sống động ghi ơn Đức Nữ Trinh Maria. Niềm ao ước của thánh nhân giờ đây đã bắt đầu được thực hiện.

Những viên đá sống động đầu tiên của đài vinh quang ấy đã tỏ ra một bản chất cứng rắn khôn lường.

Dân làng, khi được tin lưu xá không còn dùng cho thiếu niên nữa, đã phản ứng dữ dội.

Cha Pestarino tiên đoán điều đó, và tội nghiệp cha, chút xíu nữa thì cha cũng rơi vào tay phường hung bạo.

Những tình cảm bất mãn tràn lan như nước vỡ bờ. Dân chúng phê bình, chỉ trích, chống đối đoàn Con Đức Mẹ Vô Nhiễm không chút thương tâm.

Nhưng đã có Maria. Sức mạnh tâm hồn cô cũng đủ gây can đảm và nâng đỡ tất cả các chị em.

Cô khuyên nhủ: “Chúng ta đã dâng mình cho Thiên Chúa và muốn thuộc trọn về Người, vì thế, chúng ta không nên để ý tới điều thế gian nói hay nghĩ về chúng ta. Mặc người ta nói gì thì nói, còn chúng ta, hãy cứ làm điều phải làm để trở nên thánh thiện”.

Lời đó nói lên phần nào quan điểm về sự trọn lành của Maria: dùng mọi trái ý để hướng lên Thiên Chúa, để tiến tới cùng Thiên Chúa trong mọi cách thế giản dị, đơn sơ. Và chính cô cũng là hiện thân của sự đơn sơ, giản dị, chẳng khác chi vàng ròng quí giá.

  • Thưa cha, con phải làm sao để biết cô gái nào có ơn kêu gọi sống đời tu thực sự? Cha Pestarino đã bàn hỏi cùng Cha Bosco.

Ngài trả lời:

  • Những ai biết vâng lời cả trong những điều nhỏ mọn, không mất lòng khi bị sửa lỗi và tỏ ra có tinh thần hy sinh hãm mình.

Với đường hướng này, vị linh mục thánh thiện đã sửa soạn con cái Đức Mẹ Vô Nhiễm cho ngày tận hiến của họ, dưới danh hiệu Con Đức Mẹ Phù Hộ.

 *******

 Mồng 5 tháng 8 năm 1872: ngày mặc áo dòng lần đầu tiên. Tu hội chớm nở giữa nắng hè chói lọi trên khắp núi đồi. “Đức Mẹ xuống tuyết” như muốn làm tươi sáng hơn cái ngày hạnh phúc ấy.

Trước sự hiện diện của Cha Bosco và của Đức Cha Sciandra, giám mục tỉnh Acqui, mười một chị Con Đức Mẹ Vô Nhiễm đã tận hiến đời mình cho Thiên Chúa, dựa trên nền tảng của Hiến luật do Cha Bosco soạn thảo.

Bên cạnh các chị khấn dòng, còn có các chị mặc áo dòng, nhưng chưa khấn, đó là các tập sinh. Có vài khuôn mặt vẫn còn thoáng nét ngây thơ của tuổi xuân vừa chớm nở, nhưng trên dung nhan mọi người, đều tỏ vẻ chín chắn, trưởng thành và ý thức sâu xa được trọng trách tận hiến của họ, với niềm vui vẻ, trẻ trung nhất.

Từ ngày ấy, tòa lưu xá được chứng kiến những nữ tu hân hoan thi nhau tiến trên con đường nhân đức, được vang lên bởi những lời kinh nguyện thiết tha và được thấm nhuần sự lặng tĩnh và niềm hạnh phúc của những người thành tâm yêu mến Chúa. Sự vui tươi, niềm anh dũng, quả cảm hầu như đã ngự trị nơi đây.

  • “Hạnh phúc biết bao!” – Maria Mazzarello thường nói cùng các bạn – “Thật là diễm phúc cho chúng ta, những cô gái quê Mornese, được trở thành các bạn trăm năm của Chúa Giêsu, con cái Cha Bosco và Mẹ Maria Phù Hộ”.

Nhưng hạnh phúc, cũng như mọi điều cao quí khác trên trần gian đều phát sinh từ đau khổ. Thực vậy, ngoài xóm làng, nỗi bất mãn ví như cơn sấm động tiếp tục vang rền.

Lúc thì dân chúng phê bình “các cô mụ” tân thời, ra điệu ta đây, vì từ khi được Don Bosco mời gọi nói tiếng Ý, không còn ai nghe thấy các cô nói một câu tiếng địa phương nào (bởi vì thời đó, người ta dùng tiếng địa phương; tiếng Ý chỉ được khuyến khích sau thời thống nhất nước Ý năm 1870).

Họ thi nhau đặt cho các chị nữ tu mới những tên tục, chế nhạo các chị, và đi đến chỗ thóa mạ các chị nữa. Nhiều khi họ không ngần ngại lợi dụng cả lối thay đổi màu sắc, khăn áo lúc ban đầu của các chị để bàn tán:

  • Các ông, các bà đã thấy các cô mụ non ở lưu xá chưa? Hôm qua khăn nâu, hôm nay đã lại khăn đen.
  • Gớm! Khi nào chúng mới hết cơn dở hơi? Biết thân biết phận thì cứ trở về nhà với cha mẹ cho xong!

Chính thân nhân các chị cũng thốt lên những lời cay đắng, cũng lăng mạ các chị khi bắt gặp các chị ngoài đường phố.

Sự im lặng là câu trả lời độc nhất của Maria Mazzarello và các bạn. Maria thường nói với bạn: “Đón nhận những lời nguyền rủa vẫn tốt hơn là nguyền rủa lại”.

Lời nói đó thực thấm nhuần tinh thần Phúc âm thuần khiết.

 Mặc dầu chỉ muốn cho các chị em gọi mình là chị Phụ tá, Maria Mazzarello, bề trên trẻ tuổi của Tu hội, đã tỏ ra xứng đáng là một gương mẫu lý tưởng cho những người dưới quyền mình: một lý tưởng sống động, một tâm hồn mẫu tử.

  • Có bác ăn mày chầu chực ngoài ngưỡng cửa tu viện ư? Nghe này, đừng có đuổi bác ta đi tội nghiệp!
  • Nhưng cho ông ta cái gì mới được chứ, thưa chị? Trong nhà, ngoài bếp chẳng còn lấy một thứ gì!
  • Còn chứ! Phần cháo của chị, em cứ việc lấy mà cho ông ta, chị chưa dùng bữa mà.

Và không đợi chị nữ tu phản kháng hay lưỡng lự, Maria Mazzarello giục giã:

  • Đi mau lên, và coi chừng đừng có nói cho ai hay. Họ sẽ tưởng rằng chị ăn ở dưới bếp hay ở nơi nào đó rồi.

Các chị nữ tu thường cùng nhau đi giặt quần áo ở Roverno, một dòng suối giá lạnh trong mùa đông rét mướt. Chị Maria Mazzarello luôn là người quả cảm kiên trì chịu đựng những khó chịu do thời tiết gây nên, và sẵn sàng đón nhận những mệt nhọc hy sinh. Khi ở ngoài suối trở về, không ai có thể bắt chị đi thay ngay bộ y phục ướt đẫm hay dơ bẩn trước khi chị lo lắng đâu vào đấy mọi điều cần thiết cho các chị em khác.

Lửa bác ái hăng nồng đó được nuôi dưỡng bằng tinh thần hy sinh tuyệt đối, nên có sức quyến rũ và cải tạo các tâm hồn non trẻ.

Tình yêu giải phóng mọi trở ngại và mọi đòi hỏi ích kỷ được mang tên hãm mình. Và ở Mornese, hãm mình đã trở thành một đòi hỏi, một thói quen, một niềm vui sướng.

Một trong muôn nghìn giai thoại do chị Enrichetta Sorbone thuật lại sau đây đủ chứng tỏ điều đó.

“Thực là một cơn cám dỗ nặng nề khi tôi ngửi thấy mùi thơm bánh đúc bột ngô hay mùi hạt dẻ luộc lúc ra khỏi nhà nguyện sau thánh lễ ban mai! Và khi bước chân vào phòng ăn, tôi chỉ muốn thỏa mãn ngay cơn đói, chứ đừng hòng nói đến chuyện hy sinh. Dù sao lúc đi vào phòng ăn, tôi đã quyết định giữ chay hoàn toàn, thì lúc đi ra phải giữ được như vậy. Nhưng chị Phụ tá có đôi mắt tinh anh lắm. Một sáng kia, khi tôi ra khỏi phòng ăn, chị chặn tôi lại hỏi:

  • Richetta, dẻ luộc có ngon không?
  • Ngon và đẹp nữa cơ chị ạ!
  • Em đã ăn chưa?
  • Để thưởng cho lũ học sinh tinh nghịch của chúng ta.
  • Nhưng ít ra em đã nếm thử rồi chứ?
  • Thưa không.
  • Nếu thế thì em là đứa tinh nghịch nhất, nên chị phạt trở về phòng cơm và . . . ăn cho thật ngon lành!

Không đợi mời đến hai lần, tôi trở lại phòng cơm và tự nhủ: “Chị muốn dạy chúng em hãm mình, nhưng trái tim mềm dịu của chị lại không chịu đựng nổi khi thấy chúng em phải cực khổ”.

Mong muốn hy sinh những khoái cảm của miệng lưỡi, nhịn ăn cả nắm hạt dẻ khô, điều đó thực đã nói lên một thực tại sâu xa, một giá trị đạo đức không thể chối cãi được. Nhưng ai đã là người khuyến khích các nữ tu trẻ tuổi này tiến tới sự quảng đại bao la nếu không phải là tấm gương sống động hiện diện trước mắt họ.

Cho dù có một sức khỏe mong manh, chị Maria Mazzarello luôn luôn đứng ra đảm nhiệm mọi việc nặng nhọc, vất vả nhất. Phòng ngủ của chị không những đơn sơ, mà còn nghèo nàn nữa. Trong thời kỳ chị bị bệnh nhức đầu đau đớn khôn tả, thế mà chiếc gối đầu của chị là miếng gỗ cứng đơ, với vài miếng giẻ bọc quanh. Có cái giường ngủ, chị cũng thường nhường cho các chị em đau ốm. Còn chị ngồi ngủ trên ghế, suốt đêm canh chừng bệnh nhân là chuyện thường.

“Không ai đoán được thức ăn nào hợp sở thích Maria Mazzarello”. Có chị nữ tu đã cho biết: “Nhiều khi chị khôn khéo làm cho thức ăn kém ngon miệng, bằng cách trộn thêm nước hay ít tro tàn”.

 Một chị khác thêm vào: “Không biết những hy sinh hãm mình tương tự sẽ dẫn đưa các nữ tu tới thái cực nào, nếu không có Bề trên kìm hãm”.

Với gương hy sinh chói lọi, kèm theo sự nâng đỡ khuyến khích, và phương pháp ngăn ngừa của chị Maria, các nữ tu thi nhau bước theo chân người hướng đạo. Nhưng cũng vì thương yêu các chị em, và đồng thời quý trọng sức khỏe của họ, nên Maria nhấn mạnh vào việc hy sinh ý riêng hơn là việc hãm mình thể xác.

 Chị thường nói:

  • Chúng ta hãy từ bỏ ý riêng và giữ đúng Hiến luật dòng.
  • Phải hy sinh, nhưng hy sinh trong vui vẻ, đơn sơ.
  • Vui vẻ lên chị em ơi, hôm nay là ngày gặt hái! – Một câu nói quen thuộc của chị khi gặp khó khăn bất thường. Nói đến “gặt hái”, chị có ý chỉ việc hy sinh, quảng đại, vui vẻ, khiến Thiên Chúa hài lòng chấp nhận.

Như thế chị đã gieo vào tâm hồn các nữ tu và ngay cả các học sinh một tinh thần Phúc âm thực sự.

“Hãy xức dầu thơm trên đầu, và tỏ ra hớn hở, vui mừng khi con ăn chay hãm mình”.

Trong tinh thần ấy, chỉ có sự đòi hỏi của lòng quảng đại lớn lao mới thỏa mãn nổi sự khát khao của các linh hồn tươi trẻ. Vì đúng như Claudel đã nói: “Tuổi thanh xuân không được dựng nên cho những khoái lạc nhưng cho những cử chỉ anh hùng”.

Chương X

KHI CÓ LỬA TRONG NHÀ

Lửa đây là lửa tình yêu, có sức tăng cường sinh lực cho tâm hồn. Bạn đừng sợ! Nếu lửa ấy thiêu đốt bạn, bạn sẽ sống hăng nồng, và sức mạnh tội ác sẽ không làm chi nổi bạn. Thực vậy, cuộc đời chỉ có ý nghĩa hoàn toàn khi nó chìm ngập trong lửa tình yêu cao cả.

Ở Mornese, các nữ tu am tường lửa ấy lắm: đó là lửa tình yêu Thiên Chúa. Có thể nói: Chị Maria Mazzarello là lò nóng cháy, còn các bạn là những ngọn lửa phát ra từ nơi đó.

Thực vậy, chỉ cần tiếp xúc với chị, nghe chị nói hay chỉ nhìn chị, cũng đủ biết tâm hồn chị đang cháy sáng.

Ngay cả trong giờ chơi, chị cũng nói về Thiên Chúa như nói tới một người thân thiết, không chút ngượng ngùng, không hề sửa soạn trước.

Mỗi lời nói phát ra từ tâm hồn chị có thể ví như tàn lửa bắn tung ra ngoài, báo hiệu là lửa đang cháy rực bên trong.

Một ngày kia, chị thổ lộ: “Người ta có thể cướp hết mọi sự của tôi, nhưng không thể cướp được tấm lòng tôi yêu mến Chúa”.

Khi không kìm hãm nổi những câu nói tương tự, gương mặt chị bừng đỏ, chứng tỏ tâm hồn chị đắm say tình yêu Thiên Chúa.

Những lời nói thành thật, đơn sơ, không có chi là giả tạo, chẳng khác nào những ngành cây vươn lên cao trong vườn nho, mà ngày nào thiếu nữ Maria đã từng lam lũ cần cù chăm bón.

Có lần chị tâm sự cùng chị em rằng chị thường nói chuyện với Chúa Giêsu bằng tiếng địa phương quen dùng, và ao ước các chị em cũng đối xử mật thiết với Chúa như vậy; “Lấy những lời hay ho bóng bảy tìm thấy trong sách, hay mượn những cảm tình siêu việt, không phải của mình mà thân thưa cùng Chúa thì lợi ích gì? Linh hồn phải tự nhiên hướng về Thiên Chúa, và tự bày tỏ cách thanh khiết, đơn sơ. Có thế ngọn lửa tình yêu mới đích thực”.

Ngọn lửa bừng cháy trong đám cháy thế nào, thì tâm hồn Maria Mazzarello cũng chan hòa trong Thiên Chúa như  thế khi chị cầu nguyện.

  • Với bao nhiêu trách nhiệm nặng nề mà chị phải gánh vác, chắc khi ở trong nhà thờ, những tư tưởng lo lắng thường tới quấy rầy chị lắm nhỉ ?
  • Ồ, không! Chị Phụ tá trả lời – khi ở trong nhà thờ, chị không còn nghĩ tới chuyện gì nữa. Có Chúa Giêsu là đủ rồi.

Câu trả lời ấy làm chúng ta nhớ lại những giờ phút chờ đợi lâu dài của thôn nữ Maria trước cửa nhà thờ xứ còn đóng kín, khi trời còn tối đen và giá lạnh. Và, từ ngày đó, lòng sùng kính say sưa Nhà Tạm không có gì thay đổi, nỗi nhớ nhung Chúa Giêsu Thánh Thể chẳng hề nhạt phai, Maria vẫn luôn hướng đôi mắt thơ ngây, trung thành tìm kiếm ngọn đèn chầu mỗi buổi chiều tàn, như bên cửa sổ căn nhà ở Valponasca trước đây, khi không thể tới nhà thờ; chỉ khác có điều này: ngọn lửa yêu mến đã trở nên vĩ đại và tràn lan ra khắp các linh hồn đang sống chung quanh.

Với một hình thức rất hồn nhiên và cởi mở, chị Maria Mazzarello lợi dụng mọi trường hợp để nói về Thiên Chúa, để lôi kéo sự chú ý của người nghe về sự quan phòng, lòng nhân hậu vô cùng của Thiên Chúa.

Vì chị hô hấp trong bầu không khí siêu nhiên khi cầu nguyện cũng như khi làm việc, nên chị rất hay nói về Thiên Chúa. Chính vì sống cho Chúa và với Chúa, nên cả những lúc gặp khó khăn đau khổ, chị vẫn tỏ ra an bình.

Thánh Phaolô nói: “Ai kết hợp với Thiên Chúa cũng hòa hợp với tinh thần Thiên Chúa” và trong ánh sáng Thiên Chúa, mỗi biến cố đều mặc khải thánh ý Người. Và linh hồn hân hoan thực hiện thánh ý ấy, với tất cả tình mến yêu. Cũng thế, vì Maria sống trong bầu không khí này mà các linh hồn ở chung quanh chị cũng bị lôi cuốn bởi cùng một tình yêu.

Nữ tu kia thuật lại: “Mỗi buổi chiều, tôi thường tới bên chị Maria Mazzarello để kể cho chị nghe cách thức tôi cư xử trong ngày, để đón nhận những lời soi sáng khích lệ. Chị nói với tôi về tình yêu Thiên Chúa sốt sắng đến nỗi tôi cũng cảm thấy bị lôi cuốn yêu mến Người tha thiết hơn”.

Một chị nữa xác nhận: “Nói chuyện với chị Maria Mazzarello xong là như có ngay thiên đàng trong tâm hồn vậy”.

Ngoài ra, Maria Mazzarello còn biết tìm ra nhiều phương pháp thích hợp để hướng các tâm hồn lên cùng Thiên Chúa.

Chẳng hạn, lần kia, gặp ai đi lên xuống cầu thang, chị cũng ngừng lại hỏi, với nụ cười khả ái hơn bao giờ hết:

  • Em làm ơn cho chị biết mấy giờ rồi?

Người được hỏi định chạy đi xem đồng hồ, hay đã sẵn sàng với câu trả lời cho chị về giờ giấc một cách chính xác, thì chị đã nói ngay:

  • Thôi, để chị dạy cách phải trả lời câu hỏi này: “Đã tới giờ yêu mến Chúa. Em nhắc lại câu đó đi nào!”. Và khi người đó đã nhắc lại câu ấy, chị liền kết luận bằng một câu khác có hiệu quả hơn: “Chúng ta hãy yêu mến Người với tất cả tâm hồn”.

“Tình yêu – một vĩ nhân đã nói – là sức mạnh độc nhất khiến đời sống vô biên thành hình trong vũ trụ”.

Những linh hồn đơn sơ, quảng đại không những đã trực cảm đời sống ấy mà còn đạt được chính kinh nghiệm về đời sống ấy nữa.

Một cử chỉ có vẻ tầm thường nhỏ bé tới đâu cũng gói ghém cõi vô cùng, cũng được thần thánh hóa, nếu để cho tình yêu Thiên Chúa thấm nhập.

Khi thăm viếng các chị em đang thi hành bổn phận, Mẹ Maria Mazzarello nhanh nhẹn mỉm cười hỏi: “Em làm việc cho ai?”. Người được hỏi thường trả lời rằng cho một người hay một chị nữ tu nào đó. Nhưng Mẹ Mazzarello tìm cách đi sâu vào lòng người, với đôi mắt đầy nhân hậu, Mẹ nói: “Không, em phải trả lời: em làm việc này cho Thiên Chúa; chúng ta ở trong dòng làm gì, nếu không làm việc vì yêu mến Chúa?”.

Tất cả mọi sự đều được mặc bằng lửa yêu thương ấy. Lửa yêu thương bừng cháy không những trong công viêc hy sinh mà còn ngay cả trong niềm vui sướng.

Mỗi bước chạy nhảy – chị thường nói – phải là một hành động yêu mến Chúa.

Cứ như thế, ngay cả trong giờ chơi, cõi vô cùng cũng hiện diện! Với tâm hồn hăng say của chị Maria Mazzarello, thì cái gì ở Mornese cũng hóa thành sức mạnh của tình yêu.

Không phải vô lý khi một bàn tay đã có can đảm viết lên trên những bức tường trang nghiêm, kiên cố kia: “Đây là nhà của tình yêu Thiên Chúa”.

*******

Chương XI

 KHI NGỌN LỬA

TÌNH YÊU BÀNH TRƯỚNG

Lạ lùng quá! Tại sao hôm nay lại có đám mây buồn bất thường hiện ra trên khuôn mặt hơi xanh xao của một thử sinh? Những mầm non đầy hứa hẹn này luôn tỏ ra vui như tết kia mà!

  • Tại sao em có vẻ lo lắng âu sầu thế? – Chị nữ tu dò hỏi.

Có lẽ chị sẵn sàng đón nghe câu trả lời như nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ làng mạc quê hương… Nhưng chị đã phải ngạc nhiên khi nghe nói:

  • Sáng nay em không lên rước lễ, nên cảm thấy ngày giờ kéo dài lê thê. Thế mới biết sự cần thiết của lửa tình yêu…

Chị thử sinh trả lời, kèm thêm tiếng thở dài não ruột, như để tăng thêm tầm quan trọng của thực tại đó. Vẫn chưa đủ. Chị thử sinh còn thốt lên câu ca thán thắm thiết, tựa như những lời nói của thánh nữ Têrêsa và các con cái tiên khởi của người:

  • “Lạy Chúa xin tha thứ cho con! Ở trong nhà này, con không thể sống mà không rước Chúa”.

Ở trong nhà, “các con nhỏ” – tên mà chị Maria Mazzarello, thường âu yếm gọi những học sinh nội trú – cũng luôn đượm nồng ngọn lửa yêu thương.

Mỗi ngày con số học sinh nội trú một tăng thêm và chị Enrichetta Sorbone lãnh trách nhiệm trông coi, chăm sóc chúng. Chị là một nữ tu trẻ tuổi, khiêm nhường và đầy tình bác ái.

Sớm mồ côi mẹ, chị phải chăm sóc lũ em 6 đứa, vừa trai lẫn gái. Và một ngày kia, khi vừa chẵn 17 tuổi, Thiên Chúa đã gọi chị “Hãy đến cùng Ta!”.

Chị lo sợ cho đàn em nhỏ dại còn cần đến bàn tay dịu hiền của chị, nhưng chị cũng đi bàn hỏi cùng Cha Bosco, và Thiên Chúa qua lời của thánh nhân, đã gọi Enrichetta Sorbone tới Mornese. Ít lâu sau, 5 đứa em gái, đứa nhỏ nhất Angelica mới lên 4 tuổi, cũng theo gót chị. Vì chính chị Maria Mazzarello đã quả quyết: “Chúng ta sẵn sàng nhịn ăn, nhịn mặc nếu cần, nhưng sẽ chẳng bao giờ để chúng phải thiếu thốn. Còn đứa em trai, chúng ta sẽ xin Cha Bosco nhận nó vào khánh lễ viện ở Torino”.

Người mẹ hiền quá cố của chị Enrichetta, trong giờ sau hết, đã chẳng ngại dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa, để xin ơn thiên triệu cho tất cả các con mình.

Những hạt giống ấy đã được gieo xuống đất, còn chị Maria Mazzarello thì tìm hết cách để làm nó nẩy mầm, và vun tưới cho tới ngày khai hoa kết quả, ngày mà cả năm chị em đều trở thành Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Làm sao mà các học sinh không sống hăng nồng được, khi mà họ luôn được sống dưới đôi mắt âu yếm của chị Enrichetta, trong bầu không khí nhiệt thành của các nữ tu trẻ tuổi, bên cạnh một người mẹ là chính bếp lửa hồng?

Trong nhà của tình yêu Thiên Chúa, các tấm lòng trong sạch này không những được giữ gìn, mà còn được luyện lọc cho trong sáng, thiện toàn.

Chúng đã khám phá ra rằng: các nữ tu vẫn hồn nhiên bước đi, chạy nhảy với những hòn sỏi nhỏ ẩn giấu trong giầy, để làm hy sinh. Tại sao chúng lại không bắt chước các chị ấy? Nói là làm ngay: các cô tỏ vẻ tháo vát và bắt chước rồi, nhưng không nói ra thôi, vì đó là bí mật giữa các cô và Thiên thần bản mệnh. Ở Mornese, ai cũng có tình thân mật với Thiên thần bản mệnh.

Chị Phụ tá thường nói về Thiên thần bản mệnh luôn, và chị Enrichetta cũng hay nói tới Ngài với lòng sùng kính. Chính Thiên thần đã thầm thĩ vào tai linh hồn những cảm hứng đẹp tươi tựa ca nhạc và văn thơ Thiên quốc.

Đúng Thiên thần bản mệnh đã soi sáng cho em nhỏ lên chín tuổi kia, tên là Luisa Verdi những điều đơn sơ tuyệt diệu.

Một buổi chiều đông giá lạnh, (cái lạnh ở Mornese không đùa giỡn với ai đâu!) chị coi phòng ngủ nhận thấy một cử chỉ hấp tấp của ai kia, lúc chị đang vặn nhỏ ngọn đèn dầu.

Chị quay lại, tiến về phía trước giường nhỏ cuối phòng, trong bóng tối, có đôi mắt sáng trong đang nhìn chị tỏ vẻ như bất mãn, như thầm thách đố: Thử xem chị có khám phá ra chuyện gì không?

Chị dòng cất tiếng hỏi:

  • Em không buồn ngủ à?
  • Có chứ… một tí nữa là em ngủ liền.

Nhưng nhìn chiếc khăn len còn gấp gọn gàng để dưới cuối giường, chị nữ tu từ từ trải nó lên mình em bé, rồi cúi xuống thầm thĩ:

  • Tại sao thế, Luisa?

Cô bé ngập ngừng:

  • Làm sao em có thể đắp chiếc chăn mềm mại ấm cúng này, trong khi em tưởng nghĩ tới Chúa Giêsu Hài Đồng chắc chắn đã chẳng có chiếc chăn đó trong hang đá Belem!

Người tường thuật đã không kể lại câu trả lời của chị nữ tu, nhưng hẳn những cảm xúc êm dịu đã trào dâng trong tâm hồn chị. Những cảm xúc ấy cũng giống như niềm êm dịu mà Cha Bosco cảm thấy, khi cậu nhỏ Đaminh Savio đã đưa ra một trong những sáng kiến tiêu biểu cho tâm hồn một thánh nhân.

 *******

 Vẫn cô bé Luisa… trong những ngày hè gay gắt nắng, bé không ngại tránh chỗ râm mát, mà còn tìm cách mặc thêm áo dưới chiếc áo đồng phục mầu đen.

Điều đó chẳng phải là điên khùng, đáng chế nhạo ư? nhưng cái điên của Luisa là cái điên của các thánh. Sáng kiến, điên dại hay tình yêu chân thật… một trong hai điều đó đúng hay tất cả đều đúng? Chúng ta chỉ biết nếu có ai hỏi bé:

  • Tại sao lúc này em lại phải đóng bộ kiểu đó?

Bé liền trả lời:

  • Bởi vì Chúa Giêsu Hài Đồng, khi qua sa mạc trốn sang Ai Cập, trên cánh tay của Đức Mẹ phải nóng nực nhiều lắm!

Những điều này thực khó hiểu cho chúng ta, những con người dễ dàng tính toán ích kỷ với lý luận nhân loại thường tình. Nhưng dưới ánh sáng của lửa tình yêu đang bừng cháy trong tâm hồn chị Maria Mazzarello, và trong tất cả những người đang sống chung quanh chị, những điều đó có thể được giải thích cách rõ ràng.

Các em nhỏ sốt sắng biết mấy khi tiến lên bàn thờ chịu lễ lần đầu. Các em trông như những thiên thần sốt mến, trong niềm ao ước thiết tha kết hợp cùng Chúa Giêsu.

Nhưng tại sao lại có em cứ động đậy luôn trong khi thánh lễ đang cử hành. Em bé đó là Giacinta Borgna.

Trước hết, chân em bắt đầu cựa quậy, rồi toàn thân rung động. Sau cùng ngón tay trỏ cứ tiếp tục xoa rờ trên trán.

Khi Thánh lễ chấm dứt, có người nhận ra trên trán đó chút máu chảy ra từ một vết thương nhỏ nên hỏi:

  • Em làm sao thế ?
  • À! Em đã đuổi đi một tư tưởng không thuộc về Chúa Giêsu đấy! Em đã dùng sức mạnh mà đuổi nó đi.

Rồi nghiêm nghị, thật nghiêm nghị, em tiếp:

  • Vì chiều hôm qua, Mẹ Mazzarello đã bảo rằng: “Ngay cả hình bóng của một tư tưởng xấu, cũng không được để nó làm lu mờ sự trong sáng của các con. Nếu thấy nó đến, các con hãy tống cổ nó đi ngay”.

Thực là môt bài tân thơ êm đẹp! Ở Mornese, tất cả mọi sự đều hồn nhiên tươi trẻ. Không có chi gợi lại cái bầu không khí đạo đức âu sầu, “vẹo đầu, vẹo cổ” của lối sùng kính giả tạo, cuồng tín.

“Các con hãy sùng kính trong tâm hồn, tránh xa mọi điệu bộ đạo đức bề ngoài; các con hãy ghê tởm thói khoe khoang, nhất là khi chịu các Bí tích”.

Khuyên nhủ các học sinh điều này, chị Maria Mazzarello đã nghiễm nhiên gieo vào tâm hồn chúng, vào đời sống chúng tinh thần đích thực của Phúc âm vậy.

Mặt trời công chính chiếu soi như thế trên Mornese và tất cả đều hô hấp vui tươi trong ánh sáng trong lành.


Chương XII

NGƯỜI MẸ

Tháng ngày trôi qua mau chóng. Tháng 02 năm 1873, Cha Bosco gửi tới cộng đoàn nhỏ bé ở Mornese hai nữ tu dòng thánh Anna, để hướng đưa cộng đoàn trên lộ trình của đời sống tu trì.

Người đầu tiên tỏ ra biết ơn thiện ý ấy chính là Maria Mazzarello, chị vui mừng đón tiếp họ, và tự coi mình như một môn đồ khiêm tốn, ra sức tập nhân đức và thi đua cùng họ tiến bước trên đường yêu mến Chúa.

Khôn ngoan, thánh thiện, hai chị dòng thánh Anna thực xứng làm kiểu mẫu cho đời sống tu trì. Do công nghiệp họ mà đời sống Mornese tiến triển hoàn toàn trong kỷ luật.

Sau một thời gian ngắn, hoàn thành sứ mệnh, hai chị từ giã Mornese và đem theo một kỷ niệm khó quên: tình yêu Thiên Chúa của chị Maria Mazzarello, và đức khiêm cung sâu xa, niềm tươi trẻ là bí nhiệm của tình yêu ấy.

Thực đúng như vậy, đức khiêm nhường sánh với tình yêu cũng như không gian so với sức nóng. Chỉ ai khiêm nhường, mới hoàn toàn thành thật, sự thành thật ở tại chỗ từ bỏ chính mình, để tạo không gian cho tình yêu.

Điều này các chị em đều cảm thấy nơi chị Maria Mazzarello, và tự nhiên hướng về chị, cũng như tự nhiên người ta hướng về ánh sáng mặt trời.

Một thử thách lớn lao khác cho đức khiêm nhường của Maria Mazzarello: sự hiện diện của một bà tên là Blengini. Bà được Cha Bosco sai tới để giúp đỡ các chị, nhưng bà lại có dụng ý muốn cải cách tất cả nếp sống của cộng đoàn nhỏ bé ấy.

Bà đã được giáo dục một cách rất đạo hạnh trong một tu viện ở Torino. Thoạt đầu, sự giúp đỡ của bà coi bộ quí giá lắm. Nhưng về sau, thái độ lập dị và những yêu sách thái quá của bà đã trở nên dịp cho Maria Mazzarello và các chị nữ tu phải chịu đựng biết bao hiểu lầm đáng tiếc.

Chị Phụ tá lần này cũng tự đặt mình nơi rốt hết. Chị đứng canh chừng bầy chiên nhỏ dại kẻo phải xáo trộn hay lạc đường, nhưng chị cũng vui vẻ đón nhận thánh ý Chúa, sẵn sàng lãnh nhận mọi hy sinh: “Thế là từ nay chúng ta đã có một  Bề trên”.

Bà Blengini đi hết dự định này sang dự định khác, từ đổi mới nọ tới đổi mới kia: từ kiểu áo, phong tục trong nhà, cho tới các công việc đạo đức… Trong khi đó, ngoài xóm làng, những lời bình phẩm nhạo báng, khinh chê lại một lần nữa đổ trên đầu các nữ tu vô tội.

Trái lại, trong ngôi nhà nhỏ, tuyệt nhiên chỉ có yên lặng hiến dâng, sức mạnh tinh thần và lòng trung thành với Cha Bosco. Chính Ngài, một ngày đẹp trời kia, đã gọi bà về Torino, và rất lịch thiêp, Ngài tỏ cho bà hay là sự hiện diện của bà ở Mornese không cần thiết nữa. Bà chống đối và thốt ra những lời luyến tiếc: “Trời ơi! Hội dòng này sẽ ra sao, nếu không có một người tài ba sáng suốt hướng dẫn”.

Hội dòng ấy sẽ ra sao? Đấng nghĩ tới bông huệ ngoài đồng và lũ chim trên trời, cũng nghĩ tới hội dòng nhỏ bé này, tuy nó chỉ là cây non nớt dưới ánh mặt trời Thiên Chúa, nhưng ngày mai đây, cây sẽ lớn lên vĩ đại, và các cành cây sẽ bành trướng trên khắp địa cầu.

Đấng Quan Phòng đã mong muốn rằng chị Phụ tá Maria  Mazzarello phải được chọn làm Bề Trên chính thức.

Nếu đức khiêm nhu khiến chị cho rằng mình không xứng đáng với chức vụ ấy, thì cũng chính vì nhân đức ấy, mà chị đã trở nên xứng đáng và thu hút các linh hồn lại quanh mình, trong một tiếng kêu đồng tâm, nhiệt liệt hân hoan:

  • Mẹ! Mẹ sẽ là mẹ chúng con luôn mãi, Mẹ nhé!

 

Chương XIII

THANH BẦN, VUI VẺ CÙNG CHUNG SỐNG DƯỚI MỘT MÁI NHÀ

 

Thanh bần và vui vẻ ví như hai người bạn thân thiết, không thể rời nhau. Dĩ nhiên, chúng ta phải hiểu theo nghĩa Phúc âm: sự thanh bần đã làm cho Phanxico ca hát, và vì yêu thích nó mà chàng sẵn sàng rũ bỏ của cải trần gian.

Ở Mornese, thanh bần trở thành một cái gì quen thuộc, và hơn thế nữa, được mọi người vui mừng tiếp đón, như tiếp đón một tri âm tri kỷ.

Các nữ tu trẻ tuổi, trầm tĩnh, làm việc hăng hái suốt ngày, thế mà nhiều khi thiếu thốn cả những nhu cầu cần thiết. Không phải chỉ những manh áo cũ rách, hay những vật dụng thiếu sót, mà ngay cả cơm bánh nhiều khi cũng khan hiếm.

  • Thưa Mẹ, đã mười giờ rồi mà vẫn chưa có thức ăn gì trong nhà.

Trong những trường hợp gay go như vậy, chị nấu bếp đành phải báo động và chính những lần đó trái tim Mẹ Maria Mazzarello đã phải vô cùng đau khổ. Các con cái của Mẹ còn trẻ tuổi quá, lại càng khiến Mẹ cảm thương chua xót hơn.

Thông thường, Đấng Quan Phòng bao giờ cũng can thiệp vào giờ phút cuối cùng. Và trên bàn ăn, thế nào cũng có muôi cháo và miếng bánh mì, vì Mẹ đã cầu xin và mời gọi mọi người cầu nguyện.

Nhưng chiều kia, chị bếp tỏ vẻ lo lắng hơn thường lệ:

  • Thưa Mẹ, chiều nay thực chẳng còn gì để dùng bữa nữa.

Mẹ phải buộc lòng gọi các nữ tu trẻ tuổi của mình lại, nhìn họ với đôi mắt ngấn lệ, cảm thông, đầy tình mẫu tử:

  • Mẹ có điều đau lòng phải nói với các con.
  • Thưa Mẹ, Mẹ cứ nói đi! – Những giọng nói trong trẻo vang lên.
  • Trong nhà chúng ta, ngay cả một miếng bánh mì cũng không còn nữa!

Lạ lùng thay! chẳng ai buồn cả! Không một đôi mắt nào tỏ vẻ âu sầu:

  • Ồ, Mẹ ơi! Nếu thế thì chúng ta sẽ bắt chước thánh Teresa, người mong muốn đi tới bàn ăn để thấy trên bàn ăn không có gì.

Bầu không khí vẫn an bình như một ngày đại lễ, cử hành trong trầm lặng. Mẹ không cầm mình nổi. Mẹ khóc, nhưng khóc vì niềm an ủi dâng lên.

Một buổi chiều khác, trường hợp khó khăn ấy cũng lại xảy ra, nhưng Mẹ đã giải quyết một cách tài tình.

Đó là một buổi chiều êm dịu tháng Mười. Mặt trời vẫn còn lưỡng lự sau những ngọn đồi, đượm ánh hồng tươi trên các chùm nụ nho đang phất phơ theo chiều gió. Phải tổ chức một buổi nướng hạt dẻ trên đồi phía núi Tobio mới được!

Thế là Mẹ Maria Mazzarello tụ họp tất cả đoàn con cái lại. Với bao bị trong tay, họ tuốn ra ngoài như  đàn chim vỡ tổ, dưới ánh nắng còn vương lại của buổi chiều tàn. Họ vừa tiến lên, vừa ca hát. Những hạt dẻ đen óng mượt thi nhau được ném vào bao, và các bao đựng cứ mỗi bước tiến lên lại phồng thêm một ít. Còn việc nhặt củi nữa, phải làm ngay mới được. Mẹ lên tiếng:

  • Nào, chúng ta hãy bắt đầu khởi sự. Mẹ muốn được vinh hạnh nướng những hạt dẻ kia.

Tiếng cười nói trong trẻo vang lên. Bóng những đôi bàn chân chạy nhảy vui như ngày hội.

Một đám lửa to tí tách giữa hai hòn đá lớn, và những hạt dẻ cứ thi nhau nổ giòn giã, chín thơm, trộn lẫn niềm vui và tình yêu mẫu tử.

Có chị tập sinh phải thốt lên câu này:

  • Mấy ai đã được hưởng một bữa cơm ngon lành như vậy!

Và vui tươi, trong trắng chiếu sáng trên gương mặt tròn trĩnh trẻ trung của chị.

Chị không biết rằng những lời nói ấy, bầu không khí rộn ràng phát ra từ tâm hồn Mẹ, chẳng khác chi cơn mưa nhè nhẹ làm người ta cảm thấy dễ chịu, sau một ngày nắng hè oi ả.

Ngay cả chiều nay, dưới bầu trời Mornese, Mẹ và các con cũng cùng cười vui với bộ mặt tươi đẹp của sự nghèo khó, vì từ tận cõi lòng các tâm hồn, tình yêu Thiên Chúa đã chiếu sáng và làm cho sống động dung nhan ấy.

“Hôm nay là ngày gặt hái”. Thực vậy, như Mẹ Maria Mazzarello thường nói, dòng suối Roverno đang đón chờ các chị em đi giặt giũ. Nhưng nếu là ngày thu lượm vất vả và đồng thời ngày dâng hiến vui tươi của tâm hồn, thì cũng phải nghĩ tới bữa cơm trưa chứ, vì những cái miệng của đoàn tuổi trẻ kia đòi hỏi gắt gao cái nhu cầu khẩn thiết của chúng.

 Mẹ đưa mắt nhìn nhà kho và nhận ra ngay rằng nó hoàn toàn trống rỗng.

Làm sao bây giờ? Đây một ý tưởng hay: Mẹ gọi hai thử sinh ở Mornese lại, bảo các chị chạy về thăm nhà một tí:

  • Các con hãy vồn vã âu yếm chào hỏi mọi người, rồi xin họ ít bột để nấu bánh đúc ngoài suối, vì chúng ta hết bột rồi!

Hai người trẻ tuổi chạy đi nhanh như vượn. Mỗi người chạy về nhà mình, rồi cùng gặp nhau trên đường dẫn tới Roverno, vui mừng với túi bột trĩu nặng, gói cẩn thận đeo bên vai.

Nhưng rủi thay, chính lúc họ đang tìm cách dồn hai gói bột lại với nhau, thì giấy bọc rách toạc ra, và tất cả của trời cho ấy đổ tung tóe xuống đất. Dĩ nhiên, đất ấy chẳng phải cái bàn nhẵn thín, hay cái thúng sẵn sàng hứng nhận.

Hai kẻ không may vội vã thu lượm kho tàng quý giá kia đã bị trộn lẫn với bụi cát và đá sỏi cách thảm thương, vừa cắm cổ chạy về phía dòng suối, vừa khóc hết nước mắt vì tủi hổ, vì lúng túng.

Mẹ nhìn vào đôi mắt ướt lệ trong giây lát, rồi vừa nghiêm trang vừa đùa giỡn:

  • Có thế mà cũng phải khóc ư? Bột có, chúng ta hãy ngợi khen Chúa! Không có đồ gia vị, thì đây, Đấng Quan Phòng đã lo liệu cho còn gì hơn nữa!…

Vừa nói Mẹ vừa đỡ lấy gói bột từ bàn tay vẫn còn ngập ngừng của hai thử sinh:

  • Đưa đây cho Mẹ. Nước sôi sẽ gột rửa tất cả, rồi các con xem!

Thế rồi, trong bữa tiệc bánh đúc ngon ngoài đồng nội, vài hòn đá sạn có vướng giữa hai hàm răng thì càng làm cho bữa tiệc xanh thêm vui vẻ.

Khó nghèo cũng được mượn để đùa vui, nên có người trong bữa ăn đã đưa ra nhận xét.

  • Âm nhạc cũng không thiếu trên bàn ăn của chúng ta.

Một buổi chiều khác, các nữ tu mở thùng bột ra, thấy nó trống rỗng một cách thảm hại. Nhưng may thay, dưới đáy thùng còn sót lại một lớp bột mỏng. Họ vơ vét chỗ còn lại, cho vào nước, đun lên thành một thứ hồ loang loãng, rồi cùng thưởng thức món “cao lương mỹ vị” mới mẻ này một cách vui vẻ, như thể được hưởng một món ăn mới lạ, phiêu lưu mạo hiểm đầy thú vị.

Nhiều năm sau, một trong các chị đã kể lại:

  • Sau “bữa ăn” ấy, chúng tôi sung sướng đi ngủ, chẳng khác gì như đã ăn gà quay vậy.

Cho dù các chị em có hân hoan đến đâu về đức thanh bần đi nữa, thì cũng không thể tiếp tục cuộc sống quá cơ cực thiếu thốn như vậy được, vì đã có người quan tâm đến việc giữ gìn sức khỏe cho các chị.

Người ấy là Cha Bosco, chính Đức Hồng Y tương lai Cagliero đã báo cáo cùng thánh nhân sau khi xem xét tình hình:

  • Ở Mornese thường ăn sáng bằng bánh mì khô và nước lã. Thức ăn quá ít ỏi cho các chị trẻ tuổi, hơn nữa, một số trong các chị lại thuộc những gia đình khá giả.
  • Cần phải dùng cà phê sữa nữa – Cha Bosco quyết định.

Có ai tin rằng khi điều quyết định đó được loan báo cho các nữ tu, thì sự kiện xảy ra thật giống như trong một buổi liên hoan vui vẻ, ở đó, các nữ hoàng ngẫu nhiên nghe người ta bảo mình cởi hết đồ trang sức mà ném ra ngoài cửa sổ.

Các chị phản đối, ngập ngừng, e sợ làm tổn thương tinh thần hy sinh công giáo và đức nghèo khó tu trì, bằng cách bộc lộ tâm tình mình ra cùng Mẹ Mazzarello, với những cung giọng luyến tiếc cảnh thanh bần.

Nhưng sự khôn ngoan, chừng mực của Mẹ Mazzarello đã thắng vượt sự chống đối của các chị: Cha Bosco muốn như vậy, thì chúng ta cứ làm theo như vậy. Tại sao thế? Tại vì không phải Cha Bosco muốn, nhưng là chính Chúa muốn. Chúng ta hãy can đảm lên và hoan hô cà phê sữa! Hoan hô đức vâng lời! Chị em ơi! Đức vâng lời muốn chúng ta kìm hãm ý riêng, hy sinh trí phán đoán, nên chúng ta hãy cho lòng tự ái ăn bánh đen đủi mỗi khi cần đến.

Các tâm hồn lại tìm ra nguồn an vui, giao hòa với cà phê sữa, trong sức mạnh ánh sáng mà thánh ý Thiên Chúa, đức vâng lời và trái tim người mẹ đã dìm sâu họ trong đó.

Vài ngày sau, một con bò cái được gởi tới Mornese.

Ai lại không biết chính Đấng Quan Phòng đã gửi nó tới đây? Thực vậy, con bò cái ấy vừa đáng giá đúng số tiền mà một thử sinh đã đem tới khi vừa gia nhập hội dòng.

Vì thế, cần phải “làm lễ” đón mừng nó.

Các chị đội cho nó vòng hoa, và long trọng rước nó vào chuồng. Giữa những tiếng cười giòn giã của mọi người, con vật giương đôi mắt kinh ngạc, ướt át hiền lành ngước nhìn chung quanh nó.

Nơi đây, niềm vui nắm chặt tay đức thanh bần, hy sinh, vâng lời, để cùng nhau múa vòng quanh trong nhà của tình yêu Thiên Chúa.

  ******

 

Chương XIV

MỘT TẤM LÒNG

“Linh hồn nào càng gần gũi Chúa thì càng gần gũi loài người; linh hồn nào càng mến Chúa thì càng yêu thương những kẻ sống quanh mình” (Merton).

Đó chính là bí quyết của Mẹ Maria Mazzarello, của một đức ái luôn hiện diện chăm chú quảng đại, bài trừ mọi ích kỷ, để tình yêu vô điều kiện chiến thắng.

Sức khỏe của Mẹ đã sa sút nhiều. Khổ nỗi là Mẹ coi như kẻ thù số một, như căn bệnh dịch tả bất cứ một đặc ân nào trong đời sống cộng đoàn. Hôm đó, một chị nữ tu tới phiên làm bếp, vì tình thương, lòng kính mến đã cho người khéo léo đặt trước một trái táo đỏ tươi. Nhưng Mẹ không thể chấp nhận của ăn riêng biệt kia, cũng không trả lại nhà bếp, vì như thế không tỏ ra tế nhị với chị nữ tu đã có nhã ý ấy. Vậy thì…, trái táo (một vật quá xa xỉ cho những “người nghèo” Mornese!) được chia ra làm sáu và phân phát cho những chị em đồng bàn.

Người có trách nhiệm đem trái táo đó trở vào trong bếp, với câu nhận xét này:

  • Mẹ thì lúc nào cũng lo nghĩ tới người khác, trừ việc chăm sóc chính mình.

Dĩ nhiên, đây không phải là lần đầu hay lần cuối cùng mà những ý định thêm thắt vào bữa ăn nghèo nàn của Mẹ, đều kết thúc tương tự.

Không hiểu bằng cách nào mà một đôi giày da mới tinh đã chiếu cố tới Mornese. Thực ngoài sức tưởng tượng! Của quý như thế này ai đã trông thấy nơi đây? Một nữ tu thảo kính liền tỏ ra ý định muốn Mẹ Mazzarello dùng đỡ đôi giày đó. Mẹ nhìn chị mỉm cười tinh ranh, diễu cợt:

  • Con làm ơn gọi hộ Mẹ chị Assunta tới đây ngay có chuyện cần. Mẹ nói như thể quên hẳn vấn đề đôi giày mới đẹp kia.

Assunta Gaino, một nữ tu khiêm nhu, có nhiệm vụ trông coi vườn tược và gia súc, hối hả chạy tới cùng Mẹ, không mảy may đoán ra lý do của việc gọi bất thình lình ấy.

  • Mẹ gọi con tới để biếu con đôi giày này.

Vừa nói Mẹ vừa trao đôi giày cho chị. Chị Assunta ngẩn người ra nhìn Mẹ Bề trên, rồi lại nhìn tặng phẩm và đôi mắt chị lúc này đã rưng rưng ngấn lệ. Đôi giày đế gỗ dưới chân mà chị vẫn dùng ngoài vườn đang cười nham nhở với những mụn vá mới, cũ chằng chịt.

Mẹ nói tiếp: “Con chưa bao giờ có một đôi giày tương tự phải không?”, và vì không muốn làm chị nữ tu phải lúng túng. Mẹ bảo chị đi tiếp tục công việc bổn phận với nụ cười đầy tình thân ái.

*******

 Mẹ Mazzarello đặc biệt chăm sóc các nữ tu đau yếu. Ngày kia, chị Giuseppina thổ lộ cùng Mẹ cơn đói dữ dội thường dằn vặt chị mỗi đêm.

  • Khi tỉnh giấc con cứ việc xuống nhà bếp.

Chị nữ tu tỏ ra thắc mắc:

  • Như vậy con sợ sẽ không lên chịu lễ được, vì làm sao con biết rằng quá nửa đêm hay chưa.

Thời đó, việc giữ chay rước lễ bắt đầu từ nửa đêm cho đến sáng.

  • Con cứ yên trí, Mẹ sẽ liệu.

Ngay đêm đó, chị nữ tu trông thấy một bóng đen đang lặng lẽ tiến về phía giường mình.

Đôi bàn tay của ai nhẹ nhàng trao cho chị bát sữa đầy. Thì ra đó là chị y tá. Chị thì thầm:

  • Mẹ Mazzarello gởi tới cho chị đó!

Vô cùng cảm động, chị nữ tu cám ơn người mang sữa tới. Mỗi đêm, chị được hưởng sự lưu ý tế nhị này cho tới khi hoàn toàn lành mạnh.

Mẹ còn sẵn sàng nhường không những phòng ngủ mà cả chiếc giường nữa cho các chị em đau ốm!

Năm 1880, khi dự định đóng cửa nhà ở Mornese, thì chính Mẹ tự hứng cái khổ của cảnh chia ly, trở về quê cũ đón các chị em bệnh tật.

Để giúp một nữ tu trẻ tuổi khỏi khó chịu nhiều vì đường xá gập ghềnh, mẹ đã ngồi ôm giữ lấy chị suốt ngày và tận tình săn sóc chị.

Đôi khi người ta tưởng rằng các thánh vì tưởng nghĩ tới
Thiên Chúa luôn nên lãng quên nhân loại.

Không có gì sai lầm bằng!

Không ai thành thực yêu thương nhân loại bằng thánh nhân và cũng không có tình yêu nào phong phú chính đáng bằng tình yêu của một vị thánh.

Các nữ tu sống với Mẹ Mazzarello đều công nhận điều này: Mẹ đàm đạo cùng chúng tôi như thể một người mẹ nói chuyện với con cái mình vậy.

Thực thế, những lời huấn dụ của Mẹ phát ra một cách sống động, hồn nhiên từ tấm lòng mẫu tử dịu dàng:

  • Các chị em thấy không, chúng ta còn may mắn hơn cả các nữ hoàng. Chúng ta ở cùng với Chúa, ngày cũng như đêm. Người ở đây chỉ vì chúng ta và ban phát bao ơn lành không những cho chúng ta mà còn cho cả thân nhân chúng ta nữa. Chúng ta hãy vui mừng, luôn luôn vui mừng. Nếu khi nào không vui nổi, chúng ta hãy tới nhà thờ, ở đó chúng ta sẽ tìm thấy lại niềm vui.

Nhưng những lời nói êm đềm ấy lại trở nên mạnh mẽ phi thường khi Mẹ dụng tâm bài trừ tội lỗi và kêu xin việc đền tạ, van lơn cho các tội  nhân mau mau cải tà qui chính.

Tất cả mọi sự đều xuất phát từ tận tâm hồn, từ trái tim rộng mở bởi tình yêu, nung nấu bởi lửa thần linh Thiên Chúa, đó là bí nhiệm của kinh nguyện cũng như việc làm, của lời nói cũng như nụ cười trong đời Mẹ Mazzarello.

Mẹ đã viết cho chị Angela de Ambrogio những lời này: “Chúng ta hãy làm hết mọi điều có thể với tất cả tâm hồn! Khi cầu nguyện, con hãy cầu nguyện với hết cả tâm hồn; dùng bữa với hết cả tâm hồn, luôn luôn và với hết cả tâm hồn”.

Như một người mẹ, với trực giác sâu xa, biết linh cảm mối đau khổ dù ẩn khuất trong lòng người để ủi an, nhận ra điều khó khăn để giải quyết và thấy điều cần thiết để giúp đỡ.

Em bé kia đang tập đàn dương cầm với nhịp điệu rời rạc, vì bàn tay nhỏ xíu nhức nhối sưng lên do giá lạnh. Mẹ đi qua, ngừng lại bên em quan sát. Sau giây lát, Mẹ đã trở lại với lọ thuốc và xoa đi xoa lại cách rất tế nhị, dịu dàng trên những vết thương.

Sau này, chính em nhỏ đó đã minh chứng:

  • Trong đời tôi, không bao giờ tôi còn biết đến đôi bàn tay nào âu yếm như đôi bàn tay ấy.

Không phải chỉ một mình em được hưởng tình thương đó.

Một em khác, vì tính tình nhút nhát e lệ, nên không dám nói gì với chị hộ trực. Khi đi ngủ, em cứ để vớ lẫn giày chui vào chăn nằm, vì những vết thương do giá lạnh gây nên, đã dính chặt chân em vào vớ và giầy.

Nhưng không có gì thoát khỏi đôi mắt của Mẹ.

Không nói một lời, vì chỉ có việc làm là đáng kể, Mẹ đi xuống bếp lấy chậu nước nóng với bông gòn, quì bên cạnh giường, băng bó những vết thương kia.

Đôi bàn chân giá lạnh ấy được sưởi ấm bằng cả hơi nóng của lòng âu yếm, hơi thở của tình thương.

*******

 Khi Mẹ Mazzarello viết thư, những hàng chữ của Mẹ nhuốm vẻ đơn sơ như khi nói chuyện vậy.

Qua bao năm trường, những hàng chữ ấy vẫn còn hấp dẫn, vì chúng thấm đượm tình bác ái huynh đệ, và nói lên sở thích lớn lao của mẹ đối với nhân đức được coi là “linh hồn của sự toàn thiện đó”.

Năm 1880, Mẹ viết cho các chị truyền giáo ở phương xa:

“Tội nghiệp, các con ở xa Mẹ quá! Dù sao tâm hồn chúng ta vẫn gần nhau. Mẹ dám chắc rằng: các con luôn ở trong trái tim Mẹ, hơn nữa, các con còn là những người đầu tiên mà Mẹ nhớ tới trong kinh nguyện… Các con hãy yêu thương nhau, thông cảm mọi lỗi lầm của nhau, sửa chữa lẫn nhau, nhưng luôn luôn bằng tình bác ái dịu dàng. Các con cũng giữ gìn sức khỏe của mình, vì sự sống của chúng ta không còn là của riêng chúng ta nữa”.

Với mỗi một người, Mẹ còn có một lời nói riêng biệt, thích hợp với tính tình của người đọc. Cả giọng điệu vui đùa cũng có mặt trong các thơ Mẹ gửi:

“Còn chị Giovanna, chị đã thành thánh chưa? Đã làm phép lạ nào chưa?”

“Chị Angiolina nói vậy chứ! Cứ để phần nho cho Mẹ đi, Mẹ sẽ tới  thưởng thức đấy!”

Thường sau khi đã loan tin đủ mọi chi tiết về đời sống của Tu hội, Mẹ có thói quen kết thúc lá thư bằng một vài lời khuyên ngắn ngủi, đượm lòng nhân hậu siêu nhiên:

“Hãy can  đảm lên, các chị em thân mến! Chúng ta hãy làm việc thiện khi còn có thời giờ; đừng bao giờ thất đảm trước bất cứ một khó khăn nào. Chúng ta hãy tự nhủ: Chúa Giêsu phải là tất cả sức mạnh của chúng ta. Với Chúa Giêsu, mọi gánh nặng đều trở nên nhẹ nhàng, mọi khó nhọc đều trở nên êm dịu và những mũi gai nhọn đều trở nên ngọt ngào”.

Cũng giọng nói âu yếm này, chúng ta tìm thấy trong các lá thư khác:

Các con thân mến, nếu các con biết Mẹ nhớ các con tới chừng nào! Không có một lúc nào mà tâm trí Mẹ lại không hướng về các con và biết bao nhiêu lần, Mẹ cảm thấy đau khổ nặng trĩu tâm hồn, vì không còn thấy các con ở bên Mẹ. Nhưng biết làm sao! Sẽ có ngày chúng ta được cùng hợp hoan cả thể xác lẫn tâm hồn”.

Chỗ khác Mẹ viết:

“Mẹ không bao giờ muốn ngừng viết cho các con!”.

“Hầu như thời gian và khoảng cách đã tăng thêm tình âu yếm thành thật, thánh thiện của Mẹ đối với mỗi người trong các con”.

Với một nữ tu:

“Con đừng nghĩ rằng Mẹ đã quên con. Không, Mẹ không quên đâu. Con vẫn còn luôn luôn hiện diện trong tâm hồn Mẹ và Mẹ vẫn thương yêu con như khi con còn ở Mornese với Mẹ”.

Thực đúng như lời thánh Phaolô đã nói: “Chúa Thánh Linh đã đổ tràn đức ái trong tâm hồn chúng ta” và đức ái đó đã tỏ bày ra trong suốt, qua những lời lẽ hồn nhiên, đầy tình thân ái, đó là tình nhân loại ấm áp thay vì lịm tắt, lại bừng cháy nồng nàn trong tình yêu thiêng liêng thần thánh. Các phụ huynh của học sinh và cả các nữ tu cũng được phúc nếm thử tình thương ấy.

Ngày 01-05-1880, một thiếu nữ được cha mẹ đưa tới tu trong tu viện. Bà mẹ khóc sướt mướt, ủ rũ, âu sầu vì sắp phải xa lìa con.

Mẹ Mazzarello cảm động trước những giọt nước mắt hiền mẫu ấy, đến nỗi phải khuyên bảo nữ thỉnh sinh hãy trở về gia đình một thời gian, để lòng người mẹ khuây khỏa đôi chút, vì theo nhận xét sâu xa của Mẹ, thì cứ tình trạng này, bà ta sẽ không đủ sức để sống xa con.

Cô thử sinh buồn rầu quay gót trở về, và cùng với cha mẹ nghỉ chân ở một quán trọ bên đường.

Nơi đây, nước mắt người mẹ cũng vẫn chưa ngừng chảy. Ông chủ quán thấy vậy mới hỏi han sự tình, và khi biết nguyên nhân, ông ta bắt đầu khen lấy khen để Mẹ Bề Trên và các chị dòng, đến nỗi khi nghe xong, người đàn bà cảm thấy mãn nguyện quay lại bảo chồng:

  • Ông đi tới Mẹ Bề Trên và xin phép Mẹ, nếu Mẹ cho tôi ngủ ở tu viện một đêm, tôi sẽ cho phép Maria vào tu trong đó.
  • Một đêm thôi à! – Mẹ Mazzarello trả lời khi người đàn ông tới đưa tin. Không những một đêm, mà cả một tuần, bao nhiêu ngày cũng được.

Và Mẹ đã giang tay tiếp đón người mẹ đau khổ kia, đưa bà đi xem nhà, xem vườn nho và cả nhà kho nữa.

Tóm lại, hai vợ chồng đều bị thu hút bởi lòng nhân hậu của mẹ, và ít năm sau, hai ông bà lại đưa tới tu viện hai người con gái nữa.

Còn có người cha của học sinh nội trú kia từ phương xa tới thăm con, bị mưa bão ướt như chuột, mẹ liền ra tay săn sóc ông, chẳng khác gì một người con thảo đối với cha mình vậy. Ta hãy nghe lời ông tâm sự với con:

“Các nữ tu này tốt quá! Còn Mẹ Bề Trên thì thực là một đấng thánh”.

Và còn biết bao nhiêu giai thoại như thế này, không thể kể ra đây hết được.

Thực sự, những cử chỉ đó không có chi là phi thường, nhưng chính vì thế mà bạn hiểu rằng: đức ái không hệ tại ở cái mình cho, nhưng ở cách mình thực hiện. Hơn cả tặng phẩm, đức ái ăn khớp với món quà của chính bản thân mình. Chỉ một nụ cười tươi đôi khi cũng đủ để chiếu soi bóng tối nơi một linh hồn. Linh cảm mọi nỗi thống khổ để tận tình hy sinh, giúp đỡ, đó là tình thương minh chứng có sự hiện diện của Thiên Chúa trong một tâm hồn, và là con đường vững chắc nhất để đem Tin Mừng đến cho các cõi lòng.

 

Chương XV

HÃY CHO TÔI CÁC LINH HỒN

Làm nhân chứng, đó là hành động tông đồ chính xác nhất.

Không phải những lời nói suông có sức lôi kéo các tâm hồn về cùng Thiên Chúa, nhưng chính là ánh sáng của Ngài dọi chiếu ra từ đời sống, từ tâm hồn của người nói khiến cho chính lời nói đó có sức đốt cháy mọi cõi lòng.

Vì thế, ở đâu có một tâm hồn minh chứng cho Chúa Giêsu và đời sống Phúc âm, ở đó có những tâm hồn đang ngồi trong bóng tối được đưa ra ánh sáng huy hoàng của ơn thánh.

Hôm đó, một thiếu nữ thanh lịch, có học thức, thuộc dòng dõi quí phái, tuy suy đồi, đã tới Mornese. Tên cô là Emilia Mosca, cháu của một kiến trúc sư danh tiếng, được vua Carlo Alberto trọng hậu, nâng lên hàng công tước.

Cô đã từng học ngoại ngữ ở đại học Torino và mới hai mươi  cái xuân xanh. Cô chưa từng nếm mùi đau khổ cuộc đời, và chính vì thế mà cô nhìn đời với vẻ tự tin, hy vọng xây dựng một tương lai sáng lạn.

Cha Bosco giới thiệu cô tới Mornese đã nói cùng cô những lời này:

  • Không biết con có thích tới đó không? Nhưng coi chừng đấy… ở đó khó mà giữ mình được…

Rồi nhìn cô với đôi mắt như soi mói, Ngài tiếp:

  • Con chưa bao giờ cảm thấy thích đi tu sao?

Emilia Mosca phản ứng ngay:

  • Thưa cha, con chưa hề có ý định trở thành bà dòng. Con chỉ lên đó dạy học kiếm ít tiền giúp cha con thôi.

Thực thế, sự hiện diện của cô ở Mornese chẳng khác gì một nốt nhạc mới lạ.

Sự khác biệt kia, vẻ thanh lịch hơi khoe khoang ấy, khiến người ta có cảm nghĩ rằng cái nốt nhạc này sẽ chẳng bao giờ đồng nhất được với bản hòa ca.

Nhưng đã có Mẹ Mazzarello. Sự hiện diện của Mẹ có ảnh hưởng lớn lao, mà chẳng cần gây tiếng động hay xô xát, vì sự có mặt đó chính là tiếng vang, và là phản ảnh của sự hiện diện Thiên Chúa.

Mẹ Mazzarello đã chẳng được học hành, nhưng trí thông minh của Mẹ vượt hẳn mức độ trung bình.

Qua sự nhận xét thú vị về cuộc đời của Mẹ, người ta cho biết rằng Mẹ có thừa khả năng theo học cách mỹ mãn cả ngành khoa học lẫn văn chương và thấu hiểu cách sâu xa tâm trạng lòng người.

Vừa quen biết Emilia Mosca, Mẹ đã nhận ra ngay nơi cô gái đài các này một bản tính hăng nồng và cương quyết.

Mẹ bắt đầu đối xử với cô bằng tình mẫu tử dịu dàng, rồi dần dà đòi hỏi cô từ bỏ một vài đồ trang sức, một vài cách trang điểm…

Lời nói của Mẹ có sức lay chuyển đến nỗi cô tiểu thư thỏa thuận đầu hàng. Trái tim cô trở nên như một dây ăng-ten sẵn sàng bắt lấy làn sóng chân lý.

Và Mẹ không ngừng thông truyền chân lý ấy.

Sự phù hoa của danh giá, cái mau qua của giầu sang, điều cần thiết để xây dựng đời sống trên nền móng tin, cậy, mến trở thành những đề tài của các cuộc nói chuyện ngắn ngủi và trong sáng giữa hai người.

Và tâm hồn hăng nồng của Emilia Mosca tự khám phá ra những điều đó trong Thiên Chúa, trong tình yêu, trong lý tưởng.

Những lời Mẹ nói có hiệu nghiệm, vì chính Mẹ là nhân chứng sống động của những điều mình nói.

Sau một tháng trời, cô cháu trẻ tuổi của công tước Bellegarde St. Leri đã khẩn khoản thưa với Mẹ Mazzarello: “Xin Mẹ nhận con như một thử sinh trong dòng”. Rồi đây, Emilia Mosca đã trở thành một trong những cây cột trụ chống đỡ Tu hội vừa chớm nở, một gương mẫu khiêm cung nhưng cao cả.

*******

 Bên cạnh cuộc chiến thắng trong sáng, dịu dàng giống như bản hòa ca này, còn có những cuộc chiến thắng khác có vẻ lâm ly gây cấn.

Ngày 22 tháng 01 năm 1872, một cô gái nhan sắc lạ thường: Corinna Arrigotti tới Mornese.

Cô được người cậu họ giới thiệu tới đây, để làm giáo sư dạy nhạc.

Mồ côi mẹ và không hề được cha để tâm giáo dục, cô đã lớn lên với bản tính hung hăng, bướng bỉnh, chưa từng được bàn tay âu yếm nhưng cương quyết nào dẫn dắt đào luyện.

Mẹ Mazzarello nhận xét, tìm hiểu tính tình người con gái, và tìm cách lôi cuốn tâm hồn cô với tài khéo léo, với giọng nói tình cảm ấm áp trong sáng sẵn có và nhất là đời sống gương mẫu.

Corinna, dưới cái vỏ ngang bướng, ngụy biện bên ngoài, có một trái tim cao cả, hăng nồng. Và trái tim đó đã mở ra và lắng nghe.

Mẹ Mazzarello biết điều đó lắm.

  • Con có muốn đến nhà thờ với chúng ta hôm nay không? – Mẹ hỏi sau khi đã đưa cô đến chỗ chấp nhận sự cần thiết không thể chối cãi của kinh nguyện.
  • Sao lại không? Mẹ cứ yên trí, con sẽ tới.

Thế là nỗi e ngại kia đã được thắng vượt và cộng đoàn nhỏ bé chẳng còn phải ngạc nhiên, thắc mắc vì thấy cô giáo dậy nhạc cố tình xa lánh mọi nghi lễ.

Nhưng còn việc xưng tội, chịu lễ thì Corinna không hề muốn nghe nói tới.

  • Mẹ không thể tưởng tượng được đời sống ngang tàng quá khứ của con. Với Mẹ, con còn dám nói tất cả, chứ với cha giải tội thì không đời nào.

Mẹ chỉ còn biết đau khổ, và bao bọc tâm hồn ấy bằng một cuộc tấn công bằng kinh nguyện.

Đây là một cuộc tấn công qui mô đáng sợ, nên bức tường kháng cự kiên cố mấy cũng phải đổ vỡ.

Chiều hôm đó, sau một câu khuyến khích thật cảm động, một trong những câu nói phát ra từ lửa Thần Linh Thiên Chúa và có sức đốt cháy, tâm hồn của Corinna đã để cho Thiên Chúa thu hút. Trong Ngài, cái cầu bắc qua quá khứ đã sụp đổ, và với tất cả tấm lòng hăng hái của tuổi trẻ, cô tự ném mình sang bến bờ khác: không phải bến bờ của bất cứ vẻ hào hứng mau qua nào, nhưng là bến bờ của trách nhiệm, của tuyệt đối, của sự sống đời đời.

Ngày 05-08-1872, Corinna được chấp nhận mặc áo dòng.

Chị Corinna từ đó có thể được kể vào số các chị nữ tu trẻ trung, sốt sắng hơn cả.

Những nốt nhạc êm đềm giờ đây hòa hợp với đời sống, đã khiến chị trở nên một bài ca sống động, chúc tụng Thiên Chúa và vinh quang của Người.

Nhưng bài ca đó không thể thiếu những nốt đau thương, thê thảm.

Trước hết, thân sinh chị muốn cho chị trở về nhà nghỉ hè ít lâu. Mẹ Mazzarello đành ưng thuận, sau khi đã âu yếm dặn dò, và ban cho chị niềm an ủi được chính em ruột của Mẹ, nữ tu Felicita Mazzarello đưa đi.

Nhưng sau một thời gian, những đòi hỏi yêu sách của người cha đi tới chỗ quá đáng.

  • Tao thà thấy mày chết còn hơn là thấy mày trở thành bà dòng. Mày phải trở về với tao, sống như ngày xưa, tao muốn thế!

Corinna cương quyết từ chối, và nhất định không rời bỏ Mornese, chị thà chết còn hơn rời bỏ chiếc áo dòng.

Nhưng người cha hung bạo hăm dọa:

  • Nếu mày không về, tao sẽ tới lôi cổ mày về.

Thái độ, cái nhìn và giọng nói của ông ta báo trước một cái gì kinh khủng. Vì thế, Corinna phải cất bước ra đi.

Mẹ Mazzarello khóc cho đứa con bị cơn giông tố phũ phàng cướp mất.

Corinna ra đi, mang theo những lời an ủi đầy đức tin và tình mến như của ăn đàng, để gặp gỡ cuộc thử thách lớn lao đang chờ đợi. Cảnh chia ly thật là não nùng:

  • Mẹ ơi, đừng bỏ con, hãy cầu nguyện cho con, tất cả hãy cầu nguyện cho con.

Thực vậy, ở Mornese, cảnh biệt ly ấy còn đau thương hơn cả cái chết.

Nhưng mọi người đều bám víu lấy kinh nguyện, với niềm tin có thể ném cho Corinna một cái neo vững chắc hơn.

Trong khi đó, nơi quê nhà, tình hình mỗi ngày một trở nên bi đát hơn, Corinna chỉ ra khỏi nhà để đến nhà thờ.

Vẻ đẹp trên khuôn mặt của cô khi xưa giờ đây lại được ánh sáng vĩ đại thiêng liêng từ tâm hồn giãi chiếu nên càng thu hút được cảm tình của những người trông thấy chị yên lặng, trầm tĩnh đi qua.

Có gì âu sầu nơi đôi mắt chị, nó giống như một ngọn lửa chứa đựng tình yêu, và nỗi nhớ thương nơi mà tâm hồn được tái sinh trong Thiên Chúa.

Những lời bàn tán của dân làng đồng tình chống đối thái độ bất công của người cha chỉ làm tăng thêm lòng phẫn nộ sẵn có.

Khi nào nguồn lợi, sự kiêu hãnh, hay bất cứ một tình dục nào cai trị con người, thì con người đó không còn là con người nữa.

Thực vậy, thân phụ của Corinna đã trở thành một lý hình tàn nhẫn. Ông nhốt cô con gái trong nhà, chỉ cho ăn bánh khô và uống nước lã. Thêm vào đó là những làn roi dữ dội và những câu lăng mạ nguyền rủa bỉ ổi.

Chị chỉ còn biết nhắc lại câu nói của thánh Phaolô: “Tôi hoàn thành trong tôi cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, vì Thân Thể  mầu nhiệm của Người là Giáo hội”.

Sau cùng, người cậu họ đã gởi Corinna tới Mornese mới hay biết sự tình. Ông xông tới nhà anh rể, vặn hỏi lý do của cách đối xử bất nhân kia. Và ông khám phá ra rằng cái nguyên nhân sâu xa kia chẳng qua chỉ vì vụ lợi.

  • Nếu chỉ vì thế, thì tôi xin sẵn sàng bồi thường anh số tiền mà anh nghĩ rằng con anh sẽ làm thiệt hại anh, vì không còn kiếm tiền cho anh tiêu xài nữa.

Người cha thỏa thuận, nới bớt dây cương, và sau cùng chịu khuất phục.

Corinna lại có thể trở về Mornese. Trên gương mặt xanh xao của chị còn ghi dấu cuộc tử đạo đã phải chịu, và trên đôi mắt nhọc mệt còn chiếu sáng ngọn lửa mến yêu đang thiêu đốt tâm hồn chị.

Dù sao, chị chẳng còn chiến đấu lâu hơn nữa trên trần gian.

Mẹ Mazzarello hiểu thế, nên mẹ ra sức âu yếm, săn sóc Corinna như một người mẹ tha thiết với con mình.

Sau một thời gian ngắn, chị nằm liệt giường chiếu:

  • Hãy bảo với cha con rằng, con đã quên hết mọi sự – vị tử đạo tí hon nhắc đi nhắc lại lời này và mỉm một nụ cười trong sáng, tràn ngập ánh sáng thiên đàng.

Bên cạnh chị, Mẹ Mazzarello thì thầm những lời kinh sốt sắng. Chẳng khác gì Mẹ cầm lấy tay chị, giúp chị đi nốt con đường đưa tới quê trời.

Và Mẹ đã đưa đứa con nhỏ ấy vào hưởng niềm vui Thiên quốc. Mẹ là người đã cộng tác với Chúa để biến cô giáo dạy nhạc thành một bài ca hoàn toàn sống động, sẵn sàng hòa với bản hợp ca vô tận.


Chương XVI

CUỘC PHIÊU LƯU THẦN THÁNH

Câu chuyện của Emma Ferrero giống như một thiên tiểu thuyết ly kỳ.

Mới 15 cái xuân xanh, cô đã được đưa ra khỏi trường, một trong những trường quý phái nhất thành Torino.

Cũng như Corinna, Emma sớm mồ côi mẹ.

Người cha như kinh ngạc vì không hiểu tại sao trong phút giây nào đó mình lại có can đảm ném con gái vào một trong những nơi phù phiếm, xa hoa nhất. Tuy nhiên, ông rất hãnh diện thấy con gái đi từ vinh quang này sang chiến thắng khác. Ông mãn nguyện vì những lời khen ngợi vang lên khắp nơi, vì vẻ diễm lệ yêu kiều của con.

Nhưng đó chỉ là vẻ hào nhoáng chóng qua.

Bất ngờ, ông bị phá sản. Trong chốc lát, gia đình ông rơi bên bờ vực thẳm khó nghèo.

Có học thức chưa đủ, cần phải lo liệu ngay cho Emma và các em nhỏ một nghề để sinh sống. Người đàn ông bất hạnh ấy phải chạy đến với Cha Bosco, xin ngài nhận chúng vào Mornese.

Các bạn thử tưởng tượng xem, vị nữ hoàng lẳng lơ, kiêu hãnh ngày xưa bây giờ lại ở trong tổ ấm Monese, nơi mà niềm vui là tình yêu Thiên Chúa, và trò giải trí là công ăn việc làm trong tình bác ái huynh đệ! Người con gái ấy không thể thông cảm được nếp sống đó, chứ đừng nói đến chuyện vui hưởng những thứ quá mới lạ này đối với cô.

Trái tim cô còn vấn vương đời dĩ vãng. Niềm ước ao tuyệt vọng khiến cô ra hư đốn, cáu kỉnh, chống đối bất kỳ ai và vào lúc nào.

Nếu được tự do một mình trong phòng, cô liền nhốt mình trong đó hàng giờ, để lôi ra khỏi rương trăm ngàn thứ trang sức, để khóc thương những giây phút hạnh phúc nhất thời.

Nếu mời cô đi với chúng bạn, cô không làm gì hơn là gây lộn, than trách, cau có như một bầu trời giông tố.

Thực là vô phương đối phó!

Các chị nữ tu có trách nhiệm trông coi học sinh đành thất vọng, không biết phải xoay xở ra sao, để dẫn đưa cô vào chính lộ.

Phương pháp đơn giản nhất là “tống cổ” cô ra khỏi nhà trường. Duy có một người dám cả gan tuyên bố cô sẽ trở nên tốt, đó chính là Mẹ Mazzarello.

Phương pháp của Mẹ vẫn là phương pháp cổ điển: cầu nguyện, tình thương và nhóm lên trong trái tim tăm tối những lời trong sáng.

Nhưng hôm đó, có điều bất ngờ đã xảy ra. Một lá thư kỳ lạ, đáng nghi, đề tên Emma. Lá thư chứa đựng toàn những lời ngọt ngào, âu yếm, nhớ thương. Kẻ viết tự xưng là bà giáo cũ, và kèm thêm một tấm hình.

Chị coi học sinh đưa tin cho Mẹ hay, vừa lúc Mẹ đang đi vào  nhà bếp:

  • Có nên đưa lá thư này cho em đó không, để Mẹ thử xem!

Thánh nhân đọc kỹ càng hơn, ngập ngừng giây lát, rồi với cử chỉ cương quyết, ném phong thư vào lửa. Nhưng kìa, một sự kiên đã xảy ra: tấm hình bắt lửa nở ra như một đóa hoa, và từ bên trong, hiện ra một tờ giấy nhỏ, viết bằng chất hóa học.

Nhanh như chớp, Mẹ chụp lấy tờ giấy bí mật kia. Thì ra, đó là một lời mời tẩu thoát với tất cả chương trình tỉ mỉ, gay cấn, nhuốm màu tiểu thuyết ly kỳ. Không, người đó không phải là bà giáo cũ.

Phải làm sao bây giờ?

Có người đã nghĩ rằng: nên tránh xa ngay con chiên hư đốn kia trước khi xảy ra những điều tai quái hơn.

Nhưng Mẹ Mazzarello vẫn hít thở bầu không khí lạc quan của tinh thần Phúc âm và Salêdiêng.

Còn có một cách khác: cầu nguyện. Tất cả mọi người trong nhà đều phải cầu nguyện, để nài xin một hồng ân từ trời cao theo như ý chỉ của Mẹ, của người khao khát cứu lấy linh hồn ấy.

Và trời cao, một lần nữa lại thỏa mãn niềm khao khát ấy.

Giáng Sinh về đem đến bao cung nhạc du dương, bao cảnh thơ mộng nơi hang đá Mornese. Các tâm hồn mặc lấy y phục huy hoàng của ơn thánh, của vui tươi để sống lại mầu nhiệm tình yêu cao cả nhất.

Trong lưu xá, ai lại không hô hấp cái bầu không khí say sưa ấy! Mẹ Mazzarello lợi dụng cơ hội thuận tiện để mời Emma đi xưng tội.

Giờ của Thiên Chúa đã điểm. Làn sóng ơn nghĩa đã tràn ngập vào tâm hồn ấy, và làm cho nó trở nên một thụ tạo mới.

Tất cả những gì là hăng hái, đam mê nơi Emma đâu có bị tận diệt, mà chỉ đổi chiều hướng. Mỗi ngày, niềm ao ước Thiên Chúa một lớn lên trong tâm hồn cô.

Mẹ Mazzarello luôn cống hiến thêm tình yêu, và tình yêu bao la ấy hấp dẫn, xâm chiếm, chiến thắng từ tận tâm hồn, và tồn tại mãi mãi. Một ngày kia, cô bạo dạn lên tiếng:

  • Thưa Mẹ – đây là lần đầu tiên cô gọi Mẹ với cái tên dịu dàng ấy – Mẹ có nhận con giữa các con cái của Mẹ không? Con hy vọng sẽ cố gắng hết sức, để xứng đáng với ân huệ này.

Vị thánh cảm động nhìn đứa con mà Thiên Chúa đã thể hiện biết bao điều kỳ lạ, rồi với cái nhìn thấu suốt cõi lòng, Mẹ trả lời:

  • Được lắm, miễn là con thực lòng trung thành với những điều quyết định.

Thế là, một niềm vui mạnh mẽ như sóng vỡ bờ xâm chiếm tâm hồn Emma, một niềm vui của nhiệt thành, sức sống và tình yêu, một niềm vui khác lạ với niềm vui giả trá mà một thời cô đã ra công tìm kiếm.

Và để không còn gì vương lại về niềm vui giả trá ấy, Emma liền chạy vào phòng, nhờ người khênh ra ngoài sân cái rương đóng kín những kỷ niệm, những đồ trang sức; rồi trước mặt mọi người, cô châm lửa.

Sau khi ngọn lửa đã thiêu hủy tất cả, như reo lên những tia sáng chiến thắng của tình yêu, Emma quay về phía Mẹ:

  • Giờ đây con có thể nói rằng: con hoàn toàn thuộc về Mẹ.

Trong tâm hồn cả Mẹ và con vang lên một bản đồng ca:

“Lưới giăng đã đứt rồi

Thế là ta thoát nạn.

Ta được cứu độ là nhờ danh thánh Chúa,

Đấng đã dựng nên cả đất trời”. (Tv.123)

Với lễ khấn dòng, Emma trở thành bạn trăm năm của Chúa Giêsu. Trong trái tim chị nữ tu lúc này, chỉ còn một điều tâm niệm: không từ chối Chúa điều gì và thiêu đốt đời mình bằng tình mến yêu không bờ bến.

Đã có thời chị phụng sự sắc đẹp của mình, nhất là đôi mắt và hai bàn tay ư? Vậy thì, giờ đây chị sẽ hiến dâng đặc biệt những thứ đó cho Thiên Chúa và sẽ thiết tha đi tìm điều mà đối với Chúa là nhân đức, là vẻ đẹp của tâm hồn.

Không có hy sinh nào mà chị cho là quá khó nhọc, không từ bỏ nào là quá đau thương.

Thực là một cuộc đời cháy sáng.

Chẳng bao lâu, đời sống ấy sẽ tàn lụi. Nhưng nào có can chi? Khi ốm đau và cái chết lại gần những tuổi thanh xuân, như tuổi thanh xuân của Emma, thì chúng ví tựa cánh cửa đầy ánh sáng mở tung ra đón nhận hạnh phúc đời đời.

Và tuổi thanh xuân của chị đã trôi qua mau chóng, để vĩnh viễn thuộc về Thiên Chúa.

*******

 Ngày 03-11-1874, một cô gái khác đời nữa lại tới Mornese, tên là Maria Belletti.

Cô lôi kéo ngay sự chú ý của những người khác bằng lối ăn mặc đỏm dáng và nhìn cái thế giới nhỏ bé Mornese với đôi mắt kiêu hãnh, căm hờn, đầy khinh bỉ.

Lịch sử của đời cô: một câu chuyện rất thương tâm.

Mới nhỏ xíu, cô đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Anh em họ hàng nuôi nấng cô, nhưng không một ai biết chiếm lấy trái tim cô, hoặc ném vào trong đó những tia sáng có giá trị thực sự cho đời sống.

Một di sản bất ngờ lãnh nhận được đã kéo cô ra khỏi cuộc sống nhờ vả và lôi cuốn cô vào những cuộc vui trần thế xa hoa.

Niềm náo nức của một hạnh phúc mau qua mời gọi, hấp dẫn, quyến rũ cô. Tâm hồn tươi trẻ, người thiếu nữ này chỉ còn một niềm ao ước duy nhất: nhào lộn trong cuộc sống phiêu lưu hư ảo. Họ hàng thân thuộc bắt đầu lo sợ. Cô gái say mê, bướng bỉnh, bất khuất, tự tin kia sẽ đi tới đâu?

Và Đấng Quan Phòng, vì sự lo âu ấy, đã dẫn đưa cô tới Mornese. Câu chuyện nối tiếp thực dễ tưởng tượng.

May phước, Maria chưa có đủ thời giờ làm hư hỏng con tim, mặc dù nó đã hóa ra tăm tối.

Đừng nói với cô về kinh nguyện, về việc thực hành các nhân đức, về sự lãnh nhận các phép Bí tích. Tất cả những cái đó chỉ gợi thêm nơi cô nỗi chán chường, cơn bực tức; ví như con người ưa thích tự do vùng vẫy, mà lại phải gắng gượng ngồi nghe bản thuyết trình nặng nề luân lý.

Cô khư khư bám chặt lấy những thói quen, và những thành kiến trần thế mau qua. Hễ mở miệng ra là cô chỉ biết kiêu hãnh, khoe khoang. Thực là vô phương cứu chữa. Không ai kéo cô ra khỏi tình trạng u tối ấy sao?

“Khi có lửa trong nhà – thánh Phanxicô Salesio viết – người ta ném mọi thứ ra ngoài cửa sổ”.

  • Chúng ta hãy đốt thử ngọn lửa ấy xem sao – Cha tuyên úy Costamagna nói với Mẹ Mazzarello.

Mẹ không ngần ngại một giây. Tất cả sức lực của Mẹ đều được vận dụng để gợi lên một tia sáng trong tâm hồn đó.

Nhưng đen tối lạnh lẽo, băng giá, âm u chần chừ mãi trong trái tim Maria. Cần phải kiên nhẫn làm việc ngày đêm với đức tin vĩ đại, niềm cậy trông vững chắc và đức mến hăng nồng.

Thế rồi, đêm phi thường đã đến. Mọi người đều nghe thấy tiếng Maria nức nở nghẹn ngào.

Với chị nữ tu vặn hỏi, cô trả lời rằng: cô đã mơ thấy con quỷ, một quái vật khủng khiếp đang dọa nạt, kể lể tội tình cô ra và đòi thắt cổ cô.

Và những tội lỗi ấy lúc này đang đè nặng, dày vò cô, khiến cô không thể chịu đựng được nên khẩn khoản:

  • Gọi linh mục tới đây mau! Ngay lập tức!

Họ đã làm hài lòng cô.

Một mình với Đấng thay mặt Chúa, Maria xưng tội thật lâu, và trở lại mới mẻ, đầy sức sống.

Nhưng nước mắt cô vẫn không ngừng chảy, kèm theo những tiếng nức nở suốt đêm trường. Mẹ ở gần bên cô, chỉ có lời nói dịu dàng đầy lẽ sống của Mẹ mới có sức làm êm dịu một trái tim hầu như tan vỡ vì ý thức được tội lỗi của mình.

Nhưng tình yêu Thiên Chúa là kết tinh của lòng xót thương vô bờ bến. Người đã nói: “Tội lỗi ngươi có thẫm tựa vải điều, Ta cũng sẽ làm cho nó trắng như tuyết” (Isaia)

Mẹ nhẹ nhàng khuyên bảo, Maria uống lấy những lời nhắn nhủ ấy, và cô bình tĩnh sống theo chân lý vừa tìm gặp.

Thế rồi, cuộc đời mới mẻ bắt đầu tựa như con đường trong sáng mà Mẹ dạy cô bước đi từ từ, mỗi ngày một tí.

Lúc thì Mẹ đòi hỏi cô phải từ bỏ thói khoe khoang này, lúc khác tính hư nết xấu kia. Mẹ tỏ cho cô hay cần phải thực thi đức khiêm nhường, và nếu không có hy sinh, thì không có chi là vững chắc, là cao cả.

Maria để Mẹ hướng dẫn. Cô trở thành hình ảnh sống động của vui tươi: chạy nhảy còn hơn các cô gái khác. Chỉ có một nỗi sợ hãi xâm chiếm lòng cô là sợ mình có ơn kêu gọi tu dòng.

Chính cô cũng đã lên tiếng tuyên bố, cô có tất cả thiện chí để trở nên một cô gái nề nếp và đứng đắn, nhưng không bao giờ cô muốn trở nên một nữ tu.

Để khỏi bị “cám dỗ”, cô thường tránh sang nẻo khác khi gặp một nữ tu nào đó, mặc dù từ đàng xa, cô đã mỉm cười với chị bằng đôi mắt sống động, thẹn thùng.

Thái độ ấy hẳn đã ẩn dấu ơn kêu gọi, qua cái vẻ cố tình lãnh đạm bề ngoài, tâm hồn cô đã bị xâm chiếm.

Thực thế, một ngày kia, cô đi hỏi ý kiến cha giải tội:

  • Thôi, con đừng có nghĩ đến chuyện đó làm gì – Vị linh mục trả lời – Con quá khoe khoang kiêu hãnh, chắc gì họ đã nhận con.
  • Càng tốt! Đó chính là điều con mong muốn – Cô bé đáo để tự nhủ.

Nhưng trong khi đó, lời mời gọi kia lại trở nên sống động, khẩn cấp hơn, làm cho cô nghẹt thở.

Làm sao bây giờ! Cần phải nhân nhượng, nhắc lại lời cầu xin hai, ba lần nữa cùng vị linh mục. Và rồi tất cả ba lần bị từ chối cũng không làm khuây khỏa, mà trái lại, niềm thôi thúc bí nhiệm bên trong càng ngày càng lớn lên.

Maria không thấu hiểu chính mình, nhưng Mẹ Mazzarello đã linh cảm hết rồi, và Mẹ yên lặng cầu nguyện, chứng kiến cái giờ gay cấn này của ơn thánh.

Sau cùng, trước lời thỉnh nguyện cuối cùng của Maria, cha giải tội đã để chị nhìn thấy một tia hy vọng:

  • Con hãy làm tuần chín ngày kính thánh Giuse, rồi đi trình diện cùng Mẹ Bề Trên, để nghe xem mẹ sẽ nói sao – Ngài khuyên.

Ba ngày trong tuần chín ngày sốt sắng chưa qua đi, nhưng Maria đã không thể chờ đợi lâu được nữa.

Giữa lúc các Bề Trên đang hội họp, cô chạy tới, nép mình bên chân Mẹ thân thưa:

  • Thưa Mẹ, con không xứng đáng, nhưng con nài xin Mẹ hãy nhận con vào đoàn con cái của Mẹ. Hãy làm mẹ của con nữa. Rồi Mẹ xem, con sẽ đền bù tất cả quãng đời quá khứ. Và trước kia con đã xúc phạm đến Chúa bao nhiêu, thì ngày nay con sẽ tìm hết cách làm vinh danh Người bấy nhiêu.

Rồi không đợi Mẹ trả lời, Maria nhanh nhẹn cắt ngay bộ tóc nâu đẹp đang mềm mại chảy xuống bờ vai.

Thực là một giây phút vô cùng cảm động.

Ai cũng nghĩ tới Maria Maddalena.

Sự hăng nồng, vẻ nên thơ, cái đẹp thần thánh của cử chỉ nàng trong bữa tiệc của nhà Simon, đã sống lại nơi đây trong thái độ của một cô gái bị tình yêu chinh phục.

Hơn ai hết, Mẹ đã thấu hiểu ý nghĩa sâu xa của cử chỉ ấy và giờ đây Mẹ lên tiếng:

  • Vâng, Mẹ muốn làm mẹ thực sự của con.

Chính tình yêu Thiên Chúa và các linh hồn đã sửa soạn những điều kỳ lạ này cho tình mẫu tử dịu dàng của Mẹ.

*******

Chương XVII

NHƯ MỘT GIA ĐÌNH

Mẹ Maria Mazzarello luôn đi theo vết chân của Cha Bosco. Có thể nói, Mẹ là hình bóng của thánh nhân.

Mẹ đã không được phúc sống gần ngài hay gặp gỡ ngài thường xuyên, nhưng trong ánh sáng của Chúa Thánh Linh, Mẹ đã bước đi đúng con đường mà Cha Bosco đã đi, đã thấu hiểu tâm hồn Ngài, và đã đoán ra phương pháp giáo dục của Ngài đến độ có thể đưa ra thực hành cách trung thành, mỹ mãn trong đời sống tông đồ.

Mỗi nhà của Cha Bosco đều giống như một gia đình. Mornese cũng là một gia đình thực sự, nơi mà Bề Trên lẫn học sinh đều hít thở bầu không khí của tình bác ái tương trợ trong niềm vui đơn sơ, hồn nhiên khiến Thiên Chúa cũng phải say mê mỉm cười trên đoàn con yêu dấu. Để hiểu rõ hơn tinh thần gia đình này, chúng ta chỉ cần nhớ lại khung cảnh duyên dáng dễ thương thường diễn ra mỗi ngày thứ hai khi có cuộc giặt giũ ngoài suối.

Những dòng nước trong veo Roverno rủ rê mời gọi. Đoàn người nhộn nhịp gồm các nữ tu, thử sinh, nhiều khi cả học sinh, đều tiến bước lên đường dưới sự hướng dẫn của mẹ Mazzarello. Và Mẹ có thói quen khởi sự cuộc du hành bằng một trong những câu rất khôn ngoan:

  • Chúng ta hãy làm việc cho vinh quang của Chúa và cho phần rỗi các linh hồn. Một mình Thiên Chúa sẽ trả công cho ta.

Trong khi đó, con lừa ngoan ngoãn để người ta chất lên lưng nó những đồ để giặt, và Cinin, ông đánh xe, sẵn sàng cầm lấy cương. Nhưng nếu vắng mặt ông, thì bạn cứ yên trí, chính Mẹ Bề Trên sẽ dắt nó ra tận ngoài suối. Rồi Mẹ sẽ là người trước tiên tra tay vào giặt giũ và là người sau cùng hoàn tất các công việc.

Các học sinh thi nhau chọn tảng đá nào gần Mẹ nhất để vừa giặt cho hăng hái hơn, vừa để được cười vui ca hát vì có Mẹ ở bên khuyến khích.

Nhưng đôi khi cũng có những điều mới lạ: một lúc nào đó, Mẹ ngừng tay giặt để sửa soạn cơm trưa cho cả nhóm.

Cái tin này được tung ra mau lẹ như chớp. Trước sự hô hào của Mẹ, bọn trẻ đua nhau người xin đốt lửa, kẻ đòi gọt khoai, người khác tình nguyện nhào bột. Khung cảnh đượm màu vui tươi lành mạnh của một ngày lễ hội.

Mẹ Mazzarello đã làm mọi người quên hết mệt nhọc. Nào có hề chi nếu phải khom lưng hàng giờ trên tảng đá lớn và bị bùn nước bắn tứ tung, hay những lúc sức khỏe mong manh đòi hỏi những thực phẩm đầy đủ chất bổ hơn?

Đức ái bên trong trang điểm nụ cười tươi của Mẹ giống như ly rượu mừng, có sức đánh tan mọi bóng mờ của mệt nhọc, ưu phiền.

Những nhà bên suối gần đấy sẵn sàng cho mượn cái nồi hay xoong để nấu bột ngô hay bột khoai tùy theo trường hợp. Ai ai cũng bận bịu với công việc. Những câu ca tiếng hát vang lên với tất cả tấm lòng cởi mở. Đây chính là lúc mà mọi người học thuộc dễ dàng những bài ca véo von cảm động kính Mẹ Maria.

Thế rồi, khi chiều tàn sau đồi núi và những dải sương mù bắt đầu phủ bên suối, mọi người sung sướng trở về trong làn âm thanh êm dịu.

Từ xa, lũ trẻ xóm làng trông thấy ông Cinin tiến trước với con lừa chất đầy quần áo khô ráo đã được gấp xếp gọn gàng, liền chạy ra đón Mẹ Mazzarello, và hộ tống cách tưng bừng “đám rước” nhỏ trở về.

Mornese đang vắng lặng, bỗng nhiên nhộn nhịp hẳn lên. Niềm vui như đi lang thang tận ngoài suối mới trở về vì thấy toàn thể gia đình lưu xá gồm cả Mẹ Bề Trên đã đi dạo để… giặt giũ!

*******

 Nhưng cũng có những buổi đi dạo thực sự do Mẹ tổ chức. Như Cha Bosco, Mẹ rất hiểu kết quả giáo dục của sự tự do tiếp xúc với thiên nhiên và của thể thao lành mạnh bằng cách cuốc bộ lâu giờ ngoài đồng cỏ hay leo núi.

Đích điểm của cuộc “picnic” ấy thường là một thánh điện nào đó. Như thế thân xác được mạnh mẽ mà cả tinh thần cũng được hưởng một niềm vui trong sạch, một đích điểm đầy ánh sáng.

Đền thờ Đức Mẹ Lên Trời gần Lerma hay đền thờ Đức Mẹ Canh Phòng ở Gavi đã chứng kiến biết bao lần cảnh một đoàn nữ tu trẻ tuổi lẫn học sinh vừa leo lên vừa ca hát. “Con sẽ về thăm viếng Mẹ một ngày” là bài ca ưa thích nhất giữa những bài ca thường hay hát về Đức Mẹ.

Cái vui của những con đường mòn hoang dã, gập ghềnh trên sườn núi và đôi khi êm dịu giữa những lùm cây xanh nhởn nhơ trong ánh nắng là tài sản riêng của họ.

Phải, chỉ có những tâm hồn đơn sơ, trong sạch mới có thể thưởng thức hết cái vẻ đẹp thiên nhiên ấy. Những câu vui đùa hòa với những tiếng cười giòn tan như pháo!

Ở một khúc quanh tuyệt mỹ, một tháp chuông nhà thờ xuất hiện. Tiếng Mẹ Mazzarello vang lên:

  • Các con hãy ngước mắt nhìn lên kia mà xem: có ngôi thánh đường! Trong đó có Chúa Giêsu. Chúng ta hãy kính chào Chúa và mời Chúa tới trong chúng ta với tất cả tâm hồn!

Thế là mũi tên cháy sáng của hiệp lễ thiêng liêng phát ra từ mỗi tâm hồn để bay tới thấu vào trái tim Thiên Chúa cách êm dịu.

Rồi nếu tới làng nào mà phải đi qua trước cửa nhà thờ, thì thế nào Mẹ cũng ghé vào như bị cục nam châm thu hút vậy.

Thực vậy, chẳng phải Chúa Giêsu, nhất là Chúa Giêsu Thánh Thể đã là cục nam châm mầu nhiệm của Mẹ Mazzarello sao?

Một cuộc viếng Chúa ngắn ngủi nhưng đầy đức tin nhiệt thành. Mọi người đều cầu nguyện cùng với Mẹ. Và nếu ngọn đèn chầu đang tàn lụi hay đã tắt hẳn, Mẹ liền vui sướng đốt cháy nó lên, như thể nói cùng Chúa Giêsu: đây trái tim con với ngọn lửa sống động và luôn cháy sáng này, hòa với tâm hồn chị em và các học sinh, xin Chúa hãy gìn giữ chúng luôn bừng cháy trong tuổi xuân bất diệt của tình yêu Thiên Chúa.

Chính trong một cuộc đi dạo tương tự này, một tai nạn đã xảy ra đáng được ghi chép lại.

Hôm đó là ngày 25-07-1877. Cuộc khởi hành hướng về núi Tobio, một đỉnh núi cao hơn 1100m của dãy Appennino Ligure. Từ nơi đó, nhãn giới có thể mở ra trên khoảng chân trời rộng lớn đầy thơ mộng, địa điểm ấy thực là hấp dẫn. Niềm hứng khởi như chắp cánh vào đôi chân và reo ca vui nơi các tâm hồn.

Nhưng bỗng chốc, chỗ có con đường mòn lắt léo giữa những hố sâu đã xảy ra điều bất ngờ. Một tiếng kêu thét lên như xé tan bầu không khí. Mọi người sợ hãi quay lại. Họ chỉ còn kịp nhìn thấy một chị tập sinh, vì đặt chân không đúng chỗ, đang lăn xuống lòng thung lũng.

Thực là những giây phút kinh hoàng. Kẻ khóc, người kêu cứu, người chạy đó đây dù chẳng biết phải xoay xở đàng nào.

Nhưng đã có một người đang ra tay cứu trợ. Người đó đã chẳng kêu la vì sợ hãi hoặc để cho xáo động xâm chiếm tâm hồn. Lúc mà chưa ai biết phải làm gì, Mẹ đã mau mắn, bình tĩnh băng mình xuống lòng vực thẳm.

Chung quanh hoàn toàn im lặng chỉ còn nghe xì xào mấy lời cầu nguyện. Tất cả đều bất động, nhìn theo, cầu xin, chờ đợi. Những giây phút nặng nề dài đằng đẵng qua đi như một cơn tử đạo.

Và đây, chủ chiên và con chiên đang tiến lên. Phải khó nhọc và vất vả lắm mới gỡ mình ra khỏi những bụi gai đang chặn lối đi và đâm tứ phía. Nhất là Mẹ, người mở đường, phải trả giá khá đắt.

Chẳng mấy chốc đã lên tới gần vệ đường. Một cái nhún mình nhảy lên là được cứu thoát. Ai cũng nhìn ngắm cả mẹ lẫn con như đang nhìn kẻ chết vừa sống lại.

Các nữ tu và học sinh đều vây quanh Mẹ đang mỉm cười phủi bụi bặm gai góc trên mình. Đôi mắt Mẹ vẫn chưa lìa khỏi “con chiên lạc”.

  • Cho chị ấy uống cái gì đi cho đỡ sợ – Mẹ bảo. Và chúng ta hãy cùng nhau cám ơn Chúa. Có thể xảy ra những điều tệ hơn ấy chứ!

Mọi người đều cảm động khâm phục nhìn Mẹ rồi những câu hỏi, những lời khen ngợi không ngớt vang lên.

  • Không hiểu sao mà Mẹ lại làm thế được?
  • Mẹ cũng dùng thứ gì đi!
  • Nếu không có Mẹ thì biết tính sao nhỉ?

Nhưng một câu nói đùa vui và một bài hát cắt ngang, đã cho thấy rằng đức khiêm nhường của Mẹ không còn có thể chịu đựng hơn nữa những lời khen  ngợi ấy.

Và không còn ai tìm cách trở lại vấn đề trên trước mặt Mẹ nữa.

*******

 Lần khác, thay vì tai nạn, một cuộc gặp gỡ bất thường đã xảy ra.

Chủ đích cuộc đi chơi hôm đó là viếng thăm thánh điện Rocchetta.

Đoàn bộ hành Mornese đã chuẩn bị kỹ càng để lên tới đó: an vui, trong sạch tâm hồn, những bài ca kính Đức Mẹ và lòng bác ái nhân hậu.

Dĩ nhiên, gương mẫu của mọi người chính là Mẹ Mazzarello, người hướng đạo, người kiểu mẫu vô địch.

Trong lúc nghỉ chân, giữa đám cỏ xanh êm dịu miền thung lũng, những âm thanh đưa mãi lên cao, đem tâm hồn tới tận thiên cung. Bỗng có ai đi ra từ con hẻm gần đấy.

Thực là cuộc hiển hiện bất thường giữa chốn cô liêu này. Mọi đôi mắt đều hướng về phía cái hình hài mảnh khảnh, rách rưới đang rụt rè băn khoăn tiến lên như sợ hãi. Thì ra đó là một em gái nhỏ.

Người đầu tiên lên tiếng hỏi chuyện em chính là Mẹ Mazzarello:

  • Con tên gì? – tiếng nói êm dịu kèm theo nụ cười hiền mẫu trong sáng khiến em trả lời không chút ái ngại:
  • Maria!
  • Tốt lắm! Maria, con có thích chiếc bánh mì và những cái khác ở trong gói này không?

Thế là phần “cơm trưa” của Mẹ chẳng nhiều nhặn gì đã thay đổi chủ. Đứa bé nhìn Mẹ mỉm cười rồi đút vào miệng nhai ngấu nghiến chiếc bánh mì vừa nhận được.

Nụ cười ấy hầu như làm nổi bật lên trong trái tim âu yếm của Mẹ cái cảnh bần cùng khốn khó dưới manh áo bẩn thỉu rách rưới kia.

Và chính tấm lòng quảng đại ấy đã tung ra một đề nghị:“Ai trong các con có cái váy trông lành lặn hơn cả thì làm ơn đưa cho Mẹ!”. Ai cũng hăng hái muốn dâng hiến cái của mình. Mẹ chọn cái tốt nhất.

Nhưng mẹ muốn làm gì đây?

Chẳng mấy chốc ai cũng hiểu. Sẵn kim chỉ trong túi, với cái kéo dài luôn đeo bên mình, Mẹ lẹ làng khéo léo cắt, rồi khâu ngay tại chỗ. Thực chẳng ai sánh kịp khi Mẹ làm việc. Để đứa bé khỏi thẹn thùng trong yên lặng, Mẹ hỏi han bé, ôn lại với  bé vài câu kinh bổn. Điều đó không phải quá ít ỏi với tâm hồn tông đồ của Mẹ. Và đôi mắt thơ ngây kia tròn xoe nhìn Mẹ, miệng thốt lên những lời đơn sơ, tươi đẹp như mùa xuân chân lý vĩnh cửu.

Còn gì êm đẹp bằng ngồi trên thảm cỏ, bên cạnh Mẹ, lắng nghe những lời ấy với tấm lòng giản dị chân thành.

Trong khi ấy, chiếc áo mới đã thành hình nơi tay Mẹ.

Cô bé mặc thử, đi đi lại lại như thể đang cử động trong chính hơi nóng của tình bác ái giữa những nụ cười sướng vui nhân hậu.

Đẹp lắm! Vừa không thể tưởng được! Còn những cái này – Mẹ vừa nói thêm vừa thu lượm những mảnh vải vụn dư thừa và nhanh nhẹn cuộn lại – Con đem về nhà cho má. Má con có thể dùng để vá khi áo rách. Rồi như vẫn chưa thỏa mãn về công việc của mình, Mẹ thu thập những chiếc bánh thừa, gói vào giấy và dúi vào tay em nhỏ:

  • Đây, những chiếc bánh này con đem về cho các em ở nhà. Như vậy con tha hồ thích nhé!

Nụ cười nồng nàn thông cảm, vui như ngày xuân đã kết thúc cuộc gặp gỡ này, một cuộc gặp gỡ đã khiến cho cuộc đi chơi của Mẹ Mazzarello và các con cái Mẹ thấm nhuần hương thơm bác ái.

 

Chương XVIII

BẦU KHÔNG KHÍ VUI TƯƠI

Ngày lễ cũng như ngày thường, niềm vui là bầu không khí thường nhật ở Mornese.

Vẻ tưng bừng của ngày lễ: niềm vui của những tâm hồn có Thiên Chúa luôn ngự trị nơi đây.

Tuy nhiên, để đánh dấu những ngày tháng mà niềm vui tỏa ra sâu rộng hơn, như ngọn gió thổi mạnh làm căng cánh buồm linh hồn và đưa đẩy nó nhẹ nhàng trong ánh sáng của mọi nhân đức, chúng ta phải kể đến những ngày lễ trọng trong tôn giáo.

“Hỡi những mùa Giáng sinh 1874, 1875, 1876, các ngươi đã đi đâu?” chị Emilia Mosca ghi vào nhật ký. “Tại sao những ngày vui ấy không còn trở lại nữa? Các ngươi đã cho chúng ta nếm thử niềm vui thiên quốc, niềm vui trong sạch mà chỉ khi nào về trời, chúng ta mới còn được hưởng”.

Sốt sắng biết bao những tuần cửu nhật do Cha Costamagna giảng! Một cha Salêdiêng, tính khí cương nghị, cố công đào tạo Mẹ Mazzarello và các chị em trở thành những người con thực sự của Đức Maria Phù Hộ và của thánh Gioan Bosco.

Ngoài ra, còn phải nói đến những thánh lễ nửa đêm với các tác phẩm do chính cha nhạc sĩ tài ba sáng tác!

Giống như trong một gia đình, ở Mornese cũng có những thú vui bất ngờ trong những dịp đại lễ, chẳng khác gì những tiếng reo vui tí tách bên bếp lửa hồng của niềm vui gia đình đoàn tụ vậy.

Chính vì thế mà cha tuyên úy đồng ý với chị Enrichetta Sorbone, bí mật tụ họp tất cả các học sinh lưu trú lại để dạy một bài hát mới cho chiều hôm Giáng sinh.

Sự hăng hái của lũ trẻ thì khỏi phải nói! Chỉ cần trẻ trong tâm hồn để thấu hiểu điều đó!

Mẹ Mazzarello dĩ nhiên biết hết mọi điều, nhưng theo lối tế nhị khôn ngoan của các thánh cũng giả bộ “làm lơ”. Và rồi Giáng sinh đến với niềm kinh ngạc luôn đổi mới của tình yêu vô biên, hiện hình dưới bộ dạng trẻ thơ non yếu trong cánh tay Mẹ hiền ấp ủ – Mẹ Đấng Cứu Thế và cũng là Mẹ chúng ta. Mọi người hầu như đều sống cảnh ngất ngây ấy cách trực tiếp, cách thế mà chỉ có những tâm hồn trong sạch mới thực hiện được.

Chiều về, những tiếng xì xào đâu đây khiến cho các nữ tu đang kết thúc ngày qua bên cung thánh phải kinh ngạc.

Cánh cửa nhà nguyện rộng mở, các học sinh xếp hàng đi vào, những gương mặt trong sáng ẩn giấu dưới lớp khăn đội đầu. Những đôi mắt sáng long lanh vây quanh Chúa Giêsu Hài Đồng và những cặp môi hồng véo von những lời ca đơn sơ nhiệt thành tựa tâm hồn trẻ thơ trong trắng.

Rước hát chưa đủ, tình cảm cũng cần được nuôi dưỡng để lay chuyển ý chí, vị nữ hoàng của linh hồn. Do đó, các học sinh tận hiến trái tim mình cho Chúa Hài Nhi, cam kết với Người điều dốc quyết cho cả năm.

Mẹ Mazzarello cũng đã tìm ra một phương cách để đáp lễ lại điều bất ngờ của các học sinh trong dịp lễ Ba Vua.

Khi mùa Giáng sinh đang kết thúc với những ngày lễ đặc biệt, và những ánh nến sắp sửa tàn lụi trong bài ca cuối cùng “Các mục tử tới thờ lạy Chúa”, thì các nữ tu đọc bản tận hiến của họ với lời hứa nghiêm trang, nhất quyết nồng nàn như tâm hồn họ và nhất là tâm hồn Mẹ.

Chúa Hài Nhi hầu như vui mừng khôn tả với những tâm hồn đơn sơ này, khi thấy họ lần lượt hàng một tiến lên theo Mẹ trước niềm cảm động, hân hoan của các học sinh.

Họ hôn kính bàn tay nhỏ bé của Chúa. Niềm vui Giáng sinh tràn xuống nhốt mình trong những tâm hồn ấy, tựa làn hương thơm thần thánh không bao giờ phai nhạt.

*******

Tất cả những lễ Phục sinh đều đẹp, nhưng có thể nói lễ Phục sinh năm 1873 là một lễ Phục sinh đáng ghi nhớ nhất, trải qua bao năm tháng nó vẫn còn vang dội và tỏa hương thơm bình dị, mừng vui trong ký ức.

Đêm khuya giữa ngày thứ Năm và thứ Sáu tuần thánh đã là một đêm đặc biệt. Từ các nữ tu cho tới các tập sinh và học sinh đều được phép ở bên cạnh Chúa Giêsu Thánh Thể ít giờ. Trong yên tĩnh của nguyện đường, mỗi tâm hồn đều đền đáp lại mầu nhiệm Chúa hấp hối.

Khi các nữ tu được phép thức lâu giờ nhất đã lui ra, Mẹ vẫn ở lại một mình như ngọn đèn nhỏ sống động trong nguyện đường vắng lặng.

Không biết Mẹ đã nói gì cùng Chúa Giêsu trong đêm dài cầu khẩn ấy? Không thể vén lên hoàn toàn tấm màn che dấu sự thân thiết cùng Chúa nơi tâm hồn các thánh, nhưng dĩ nhiên ánh sáng và niềm vui chứa đựng trong bài ca sống lại đã âm thầm bắt nguồn nơi đó.

Buổi sáng Phục sinh ấy, chị Corinna phiêu lưu trên chín tầng xanh với những nốt nhạc phong cầm và chị Luigia Arecco với tiếng hát trong như bạc réo rắt hân hoan ca ngợi tình yêu Thiên Chúa từ mỗi câu ca.

Trong bầu không khí đầy ơn thánh và với niềm vui đó, chúng ta hiểu được tại sao không những tất cả các học sinh nội trú mà những học sinh ngoại trú cũng muốn “cắt tóc đi tu” ngay ngày hôm đó.

*******

 Khi đức tin đơn sơ sống động trong ánh sáng hy vọng và lửa bác ái thì chẳng cần bao nhiêu cũng đủ gây vui tươi, chỉ cần một tượng Đức Mẹ đến nhà chẳng hạn, sau bao ngày mong đợi, tượng đó đã đến. Các nữ tu, tập sinh, học sinh đều vây quanh cái hòm đóng kín bức tượng đầu tiên, tượng Mẹ Maria Phù Hộ được gửi đến Tu hội.

Ai sẽ là người nhìn thấy dung nhan Mẹ trước hết?

Thực là một cuộc tranh luận hào hứng kèm theo những tiếng hò reo thú vị của nhóm người trẻ trung nhất.

Đây, Mẹ Maria đây rồi. Không thể nói được rằng tượng đẹp lắm, nhưng những trái tim nồng nàn yêu mến tượng vì đó là dung nhan Mẹ Maria.

Với tình yêu ấy, các nữ tu, tập sinh, học sinh rước tượng Mẹ về đài kỷ niệm đã nở đầy hoa.

Ngay chiều hôm đó, trước đài kỷ niệm, bên cạnh Đức Mẹ, Mẹ Mazzarello ban huấn từ theo tục lệ hội dòng và khởi đầu hoa thiêng tháng năm bằng những lời nhuốm vẻ hương hoa thiên quốc: “Chúng ta hãy tự đổi mới như những cây mùa xuân bằng cách cố gắng chăm chú hơn khi thi hành các việc đạo đức, từ dấu thánh giá đầu tiên tới dấu thánh giá sau cùng”.

Thế rồi trong khi buổi chiều thơm ngát phủ chiếc áo màu xanh tím trên cảnh vật, chiếc phong cầm ẩn mình sau đám cây xanh vang lên những nốt nhạc êm đềm. Các nữ tu ca hát gần ngay đó. Các học sinh đồng ca đáp lại từ đàng xa.

Tiếng vang nhắc đi nhắc lại bản hợp ca trên khắp miền thung lũng.

Những ngày trong tháng Năm lần lượt qua đi giống như những hạt Mân côi quý giá và ngày 24 bừng sáng trong ánh vinh quang của lòng nhiệt thành. Có lễ mặc áo dòng nên không những chỉ trong lưu xá mà ngay cả ngoài xóm làng cũng có vẻ ngày đại lễ. Dù người ta không hiểu thấu vẻ đẹp của đời tận hiến đã lôi kéo ra khỏi thế trần biết bao tuổi xuân nồng cháy, để ném họ lên bàn thờ tình yêu, người ta cũng cảm thấy quanh Mẹ Mazzarello toát ra một cái gì đặc biệt giống như người đang hưởng ngày vui mừng với các thánh trên trời và đặc biệt hôm nay với Mẹ Maria Phù hộ.

Rồi khi chiều về, dân thành được chứng kiến một cảnh mới lạ chưa từng thấy. Những quả bong bóng muôn màu chứa khí cầu, từ nơi nào đó tung mình lên cao giữa những lời kinh tiếng hát dâng lên Mẹ trên trời. Mỗi quả bóng đem theo một lá thư. Và ai mà không rõ, nó mang theo những tâm hồn của thế giới nhỏ bé thơ ngây và sốt sắng kia.

Không phải chỉ lần này dân làng mới được hô hấp bầu không khí tưng bừng của lưu xá, thường có cả những buổi văn nghệ trên đó! Chị Corinna đàn, chị Arecco hát, học sinh biểu diễn và mọi người đều hưởng cái bầu không khí vui tươi mà Don Bosco cho là đường dẫn tới chân lý và nền giáo dục thật sự, một dụng cụ tốt để giúp ích cho các linh hồn.

Vẻ tưng bừng ở Mornese cũng chính là bầu không khí của hồn thơ trong sáng. Thơ có sức chắp cánh vào hồn để tung nó lên những khoảng trời chân lý, nhân hậu và mỹ lệ vô ngần.

Một học giả danh tiếng đã nói về Mẹ Mazzarello: “Mẹ có một trí thông minh biết thưởng thức nghệ thuật, biết bình phẩm và có khiếu về văn thơ”. Ông đã nêu lên nơi Mẹ cái khía cạnh của một tâm hồn phong phú sâu xa.

Khi mà giữa những ruộng lúa chín thơm về đêm lập lòe những ánh đèn đom đóm, Mẹ thích nhìn ngắm chúng bay lượn đó đây, thả hồn theo những cảm hứng đầy thơ mộng:

  • Những con đom đóm! Các con đừng bao giờ tàn sát chúng. Chúng là những thụ sinh của Thiên Chúa và chiếu sáng cho Ngài. Các con có biết tại sao chúng lại bay lượn nhiều thế quanh bông lúa không? Vì giữa những bông lúa ấy, sẽ có những bông trở thành bánh lễ để chúng ta lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể. Chung quanh nhà, chúng ta thấy có ít đom đóm. Không cần chúng phải chiếu sáng trong nhà, vì ở đâu có một tấm lòng tốt, ở đó có ánh sáng chiếu soi. Ít là một tấm lòng như thế phải tìm thấy trong mỗi gia đình. Còn ở nhà thờ thì đom đóm chẳng bao giờ bén mảng tới. Đã có ngọn đèn luôn chiếu sáng và chầu Chúa Giêsu! Ngọn đèn chầu tượng trưng cho tình yêu trung kiên của chúng ta đối với Người.

Chỉ cần nhìn bầu trời sao sáng, Mẹ Mazzarello hân hoan nghĩ tới trời, và Mẹ hát lên những câu say đắm.

Trong giờ chơi, Mẹ Mazzarello thường đến với chúng tôi như một người bạn thân thiết vậy – các học sinh thời đó kể lại – Mẹ thích nghe chúng tôi hát để Mẹ đánh nhịp – chúng tôi đi theo Mẹ quanh sân và hăng hái tung lên trời cao những lời ca thánh thót:

Hướng về Thiên quốc ai ơi

Trên tòa cao sáng ta ca hát Người.

Nỗi mong chờ quê trời này chính là sức sống, là hy vọng trong trái tim các thánh, nó đưa các ngài vào sống trong thơ, nó xâm chiếm cõi lòng các ngài đến nỗi khiến các ngài trở thành những máy phát quang của vẻ đẹp siêu nhiên và của tuổi xuân trường cửu.

Làm cho các linh hồn say mê Thiên quốc cũng là một đặc điểm của Mẹ Mazzarello. Thực đẹp đẽ và thực “Salêdiêng” biết bao, ngay cả trong giờ chơi, bằng những câu ca và những lời khuyên ngắn ngủi sống động tựa những tia lửa hồng, Mẹ đã thắp sáng trong các tâm hồn nỗi nhớ quê trời.

“Hầu như Mẹ đã trông thấy trời rồi vậy” – một em nhỏ viết.

Trong mối tình bạn lên hương giữa đám thanh thiếu nữ ấy, những ý định, những cảm nghĩ, những ước vọng của Mẹ đều là những ý định, những cảm nghĩ, những ước vọng của các con cái Mẹ.

Vì thế vẻ tưng bừng của “kinh đô các thánh” đã trở thành những ngày hân hoan tự nhiên nhất nơi các tâm hồn. Niềm hân hoan sống động không tách rời đời sống náo động ngoài sân chơi ra khỏi đời sống cần lao chăm chú và đời sống nội tâm nghiêm chỉnh. Trái lại, đời sống nọ hòa hợp với đời sống kia và quyện vào nhau để tạo nên bầu không khí độc nhất này.

Phải, niềm vui là bầu không khí quen thuộc ở Mornese.

 Chương XIX

ĐÀN CHIM ÉN TUNG BAY

01-02-1876

Trong chiếc áo dòng đen điểm trắng trên ngực như loài chim én, các nữ tu quây quần bên Mẹ Mazzarello trước khi vài chị trong đoàn sẽ cất cánh bay đi nơi khác.

Đó là buổi chiều cuối cùng trôi qua dưới bầu trời Mornese. Ngày mai các chị sẽ ra đi tới miền của muôn hoa đua nở: Bordighera.

Ở đó, giữa biển rộng đồi cao, các chị sẽ cộng tác với các cha Salêdiêng được Cha Bosco sai đi để nâng cao ngọn đuốc đức tin đang bị những lý thuyết sai lầm của bè rối Van-đê đe dọa.

Mẹ hăng hái nói về nghĩa vụ cao cả của các chị, về những lời dạy bảo hữu ích của Cha Bosco, về Hiến luật phải giữ cách trọn hảo như thể vẫn còn ở Mornese, về mối dây bác ái kết hợp tâm hồn các chị với tâm hồn Mẹ:

 “Các con hãy ăn ở nhân hậu với tất cả mọi người và đối xử dịu dàng với học sinh. Bè phái Van-đê phải nhìn thấy nơi các con những gương nhân đức sống động”.

Chiều tàn im lặng lắng nghe như muốn gói chặt lời khôn ngoan ấy, những vì sao nhấp nháy như bùi ngùi cảm động.

Đêm về, mây đen cuốn ngập trời và mưa tuyết xuống quàng cho cuộc chia ly chiếc áo màu trắng xoá

Rạng đông ngày hôm sau, mặc cho giá lạnh thấu xương, Mẹ Mazzarello cuốc bộ tiễn chân các con một quãng đường xa, rồi ngừng chân dưới bóng tháp chuông nhà thờ Đức Mẹ Canh Phòng:

  • Thôi, giờ đây chúng ta phải lìa xa nhau thực sự. Nhưng chúng ta hãy xa nhau dưới cái nhìn của Đức Mẹ.

Vừa nói Mẹ vừa chỉ ngôi thánh đường.

Một câu vắn tắt nhắc lại những lời khuyên bảo chiều qua; một kinh Kính mừng vang lên, tiếng mẹ hòa lẫn tiếng các con trong một lời khẩn cầu duy nhất.

Trong cái ngày tươi trẻ khoác lên chiếc áo trắng tinh như ngày chịu lễ lần đầu ấy, các nữ tu đã chia tay Mẹ, nhưng là để hòa hợp thân thiết hơn trong cùng một lý tưởng siêu nhiên.

Tuy thế, con tim cũng có những đòi hỏi của nó, con tim của những người tận hiến cũng kết tinh bằng thịt máu, nên vẫn như ai, cảm thấy đau thương trước cuộc từ giã phân ly và chính vì nhạy cảm hơn ai hết, nên của lễ hy sinh của các chị mới có giá trị.

Ai cũng ngậm ngùi.

Riêng với chị nữ tu trẻ tuổi Rosalia Pestarino, cuộc chia ly này đau đớn đến nỗi làm chị phải ngất đi.

Mẹ Mazzarello mạnh dạn tự chủ, nhưng có lẽ Mẹ là người cảm động hơn ai hết.

Và khi nữ tu trẻ tuổi kia đã tỉnh lại, đoàn người tiếp tục tiến bước ra đi, Mẹ còn đứng lại nhìn các chị thật lâu, giơ tay vẫy chào tạm biệt.

Mẹ âu yếm tiễn đưa các chị bằng những lời khấn, xin ơn phước lành của Mẹ Maria.

Tuy nhiên, đây chưa phải là chuyến bay đầu tiên.

Từ năm 1874, một đàn chim nhỏ đã bỏ Mornese để đi xây tổ ấm mới: Borgo San Martino.

Mở khánh lễ viện ngày Chúa nhật, dạy giáo lý, giặt giũ, khâu vá, nấu nướng cho các tu sĩ Salêdiêng là bổn phận của các chị.

Thế rồi, không đầy năm năm trời, các đàn chim khác tiếp nối nhau bay: Torino, Alassio, Biella, Lu Monferrato đều trở thành những tổ ấm mới của tình yêu Thiên Chúa và các linh hồn.

Sức sống mãnh liệt không ngừng lại được.

Những trụ sở mới thi nhau thành lập: Nizza Marittima, Lanzo Torinese, Chieri.

Nước Ý chưa đủ, còn cả Châu Âu và những châu khác đang mời gọi.

Có người đã nói rằng Cha Bosco là một người khổng lồ có cánh tay ôm ấp cả vũ trụ vào lòng.

Và ở đâu có con cái Cha Bosco, có tinh thần của thánh nhân hay tinh thần của Mẹ Mazzarello, ở đó có những con cái của Mẹ để đem Chúa Giêsu tới cho linh hồn các thiếu nữ trên mọi quốc gia.

*******

 Ngày 08-09-1877 là ngày đáng nhớ ở Mornese.

Mẹ Mazzarello tới sân chơi vui vẻ, rạng rỡ hân hoan hơn thường lệ.

Mẹ cầm bức thư Cha Bosco gửi và đọc cho tất cả các chị em đang vây quanh nghe. Mọi người như hưởng lây niềm vui của Mẹ.

Thư đọc tới đâu, những đôi mắt trong sáng thêm, những gò má ửng hồng thêm tới đó, vài tiếng hoan hô vang lên làm cắt quãng những điều đang loan báo.

Thực là một tin gây cấn!

Cha Bosco viết rằng: Chúa Quan Phòng cũng đã mở cửa cánh đồng truyền giáo cho các nữ tu, và ngài mời gọi những tình nguyện viên làm đơn xin đi chuyến tới.

Thực là một niềm vui không thể kiềm hãm nổi. Giấc mộng mà Mornese mơ ước từ lâu nay đang thành hiện thực, nhất là từ hai năm nay, khi các cha Salêdiêng được Cha Bosco gửi đi chiếm cứ những miền châu Mỹ xa xăm.

Lúc này ai cũng ao ước được đi. Mẹ Mazzarello xung phong đi trước nhất. Trong nhà của tình yêu Thiên Chúa như thể đang ca những bài ca hoan hỉ.

Tinh thần tươi trẻ làm nên đời sống Mẹ Mazzarello rung lên tha thiết, đến nỗi thông truyền cho các con cái của Mẹ chính lòng nhiệt thành sẵn có.

Thực là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Lý tưởng tận hiến cho tình yêu cũng gồm ý định ước ao đi truyền giáo.

Nếu trở thành người Công giáo có nghĩa là ôm ấp toàn thế giới với ý nguyện hiến dâng, thì trở thành tu sĩ có nghĩa là sống và chết cho lý tưởng ấy. Vì thế, chúng ta hiểu được tại sao Mẹ Mazzarello, trước hết và hơn ai hết, nuôi ý định trở thành nhà truyền giáo, tại sao lòng nhiệt thành và lời nói của Mẹ về hoạt động tông đồ lại rất phấn khích. Cho dù khi sử dụng giọng điệu khôi hài, những lời nói ấy cũng tỏ ra có cường độ cao xa và ánh sáng nồng nàn.

“…Con viết mãi cũng chưa hết tên những chị xung phong sang Mỹ – Mẹ viết cho Đức Cha Cagliero năm 1876 – con cũng muốn được đi mau chóng. Đức Cha nhớ sửa soạn một chỗ cho con rồi trở về đón con, chứ một thân một mình chúng con chẳng dám đi đâu, lỡ con thủy quái nào đói bụng dùng chúng con làm lương thực thì thật uổng công, thật tội nghiệp…”

Lần khác: “…Đức Cha cứ sửa soạn sẵn một cái nhà thật lớn, vì tất cả các học sinh nội trú đều muốn trở thành những nhà truyền giáo”.

Lại nữa: “Thực là một ơn vĩ đại nếu Chúa gọi chúng con sang châu Mỹ”.

Các lá thư khác đều chứng tỏ ước vọng duy nhất đó.

Tới ngày tuyển chọn, niềm vui dâng lên trong lòng tất cả, nhưng chỉ có sáu chị được chọn thôi. Mẹ phải hy sinh niềm khao khát vĩ đại ấy. Tuy nhiên, Cha Bosco muốn rằng Mẹ phải cùng đi với các chị tới yết kiến Đức Thánh Cha, để xin ngài ban phép lành cho những người ra đi, và cho công việc tông đồ của họ.

Cuộc hành trình này đã minh chứng rõ rệt đức khiêm nhường trong tình bác ái vinh quang sống động của Mẹ. Mẹ nói cùng cha tuyên úy:

  • Cha không nghĩ rằng việc con đi Roma làm mất danh giá Tu hội sao? Đức Thánh Cha cứ tưởng sẽ gặp nơi Mẹ Bề Trên Cả một con người học thức, gia giáo, ngờ đâu lại là một đứa ngu muội dốt nát như con.

Đây chẳng phải là đức khiêm nhường khoe khoang của những hạng người luôn luôn sẵn sàng nói xấu mình, để được nghe người khác ca tụng nồng nhiệt hơn.

Mẹ Mazzarello khiêm nhường theo kiểu Đức Nữ Trinh. Mẹ đơn sơ nói ra điều mình nghĩ, vì thế, Mẹ không chạnh lòng khi có người cho nhận xét của Mẹ là đúng, là hợp lý. Một khi đã bày tỏ tư tưởng của mình rồi, Mẹ không còn đau khổ, kêu than vô ích.

Trái lại, Mẹ tìm ra phương pháp chắc chắn để thắng vượt sự nghèo khó của mình, bằng cách, dù nghĩ tới mình hay quên mình đi, tất cả chỉ trong Thiên Chúa.

Tình bác ái của Mẹ như thế nào các chị truyền giáo biết rõ hơn ai hết. Trong những ngày trú ngụ ở Roma, Mẹ săn sóc âu yếm trông coi các chị với tất cả tấm lòng mẫu tử yêu thương.

Ai trong các chị lại không nhớ mãi những trái táo chín thơm mà Mẹ nghiêm khắc với chính mình, không hề dùng tới nhưng lại dám mua và gọt rửa tử tế cho các chị dùng?

Một thầy tư giáo Salêdiêng cũng được phúc hưởng tấm lòng khiêm nhu, nhân hậu của Mẹ Bề Trên Cả.

Lúc ấy, mọi người đang thăm viếng hang các thánh tử đạo (Catacombe). Thầy tư giáo lạnh quá, có lẽ thầy lên cơn sốt. Nhưng dưới những hành lang âm u kia, ai có thể nhận ra bóng chàng trai trẻ đáng thương ẩn mình sau chiếc áo chùng đen, vừa đọc kinh vừa run lên cầm cập?

Vậy mà, một người đã nhận thấy. Người ấy vội vàng bỏ chiếc khăn quàng ra, không màng tới đầu mình đang buốt giá đến độ nhức nhối.

Hang toại đạo lạnh lùng, lửa bác ái bao la! Hai thái cực ấy, Mẹ Mazzarello đã hòa đồng trong một cử chỉ hoàn toàn ăn khớp với khung cảnh đang sống.

Rồi lúc ở điện Vatican, khi đứng trước vẻ huy hoàng của Đấng thay mặt Chúa Kitô, Mẹ như thấy mình hiện diện với sự nhưng không của chính mình. Đức khiêm nhu ấy như khoảng không rộng mở, khiến những hồng ân Thiên Chúa tự do lấp đầy cho Mẹ, và cho tất cả hậu duệ của Mẹ.

*******

 Gió lạnh, mưa sa tầm tã trên mặt biển.

Cảnh mưa rơi, sương mù, gió lộng vào ngày 14-11 ở Genova như muốn tăng thêm cái buồn của những kẻ ra đi.

Chiếc tàu Savoia đậu mãi đàng xa. Con thuyền nhỏ phiêu lưu trên sóng, dẫn đưa kẻ ở người đi lên mãi boong tầu. Mẹ Mazzarello tiễn biệt các con lần sau hết. Mẹ muốn xem xét mọi sự: từ phòng ngủ, nhà nguyện cho đến máy điều hòa không khí.

Đây chính là người mẹ tận tình thương con, Mẹ đang lo cho các con một chuyến bay đầu đầy nguy khó. Mẹ không tiếc lời khuyên bảo, dặn dò, nhất là về vấn đề trung thành với Hiến luật dòng. Những lời nói ấy nhuốm đầy tình âu yếm, thiết tha.

Trong khi đó, thời gian trôi qua mau chóng. Đã đến giờ tụ họp các tu sĩ Salediêng lại để cùng đi. Cha Bosco giơ tay ban phép lành cho cả đoàn con.

Trong ánh sáng người cha chung, còn phản ánh những miền rừng núi trong mơ, những gương mặt mọi rợ. Và chính vì niềm khát vọng yêu thương, vì sự hy sinh xả kỷ này của các vĩ nhân, mà một ngày kia, chúng sẽ được đưa về cùng Chúa Kitô.

Giờ chia ly đã điểm, sự cảm động không chừa một ai. Gió thổi nhấp nhô những làn sóng biếc như hát lên khúc nhạc tha thiết của Beethoven.

Mẹ Mazzarello ôm hôn từ giã từng chị em và với mỗi chị em, Mẹ cố cầm lòng để nói lên lời an ủi, khích lệ cuối cùng.

Rồi Mẹ trở lại chiếc thuyền con, vào bờ với Cha Bosco.

Sóng to, gió lộng, mưa sa như nói lên tình nhân loại than khóc cảnh biệt ly, cho dù trước những lý do cao siêu, mối tình nhân loại ấy đã được nuôi dưỡng bằng anh dũng, hy sinh.

  Từ trên boong tàu, Cha Costamagna, cựu tuyên úy Mornese, nay đứng đầu đoàn viễn chinh, cất tiếng ca bản “Con muốn yêu Mẹ Maria”.

Nghe cái tên ngọt ngào đó, những giọt nước mắt nhuốm phần êm dịu, và cảnh biệt ly đau xót trở nên như vết thương vừa được băng bó.

Ngày 02-01-1879, mười nữ tu nữa lại cất bước ra đi tới miền Nam Mỹ. Cuộc từ giã này cũng không kém phần cảm động sâu xa.

Mẹ Mazzarello hiện diện, âu yếm, lo lắng cho các con.

Mẹ thực là kho tàng quý cho mỗi chị em, vì lần này, cũng như lần đầu tiên từ giã Mornese để thành lập trụ sở tiên khởi, chị truyền giáo trẻ tuổi nhất, chị Emilia Borgna, đã ngất xỉu trong tay Mẹ!

Từ những chuyến bay đầu tiên này, các đàn chim én khác lũ lượt theo sau.

Trong ít năm, những trụ sở truyền giáo Con Đức Mẹ Phù Hộ đã tràn lan trên khắp mặt đất.

Chúng ta phải ngạc nhiên trước những con số “kỳ ảo”: 371 nhà tại châu Mỹ, 181 nhà tại châu Âu, 43 nhà tại châu Á và 4 nhà tại châu Phi.

Đây chính là câu chuyện hạt cải nhỏ bé của Phúc âm đã trở nên cây vĩ đại. Sức sống của hạt cải đó chính là tình yêu Thiên Chúa và lòng yêu mến các linh hồn, trong trái tim khiêm tốn của Mẹ Mazzarello.

*******

Ngày 04-02-1879 đánh dấu một chuyến bay mới nữa từ Mornese. Nhưng lần này thì chính Mẹ Mazzarello giã từ tổ ấm đầu tiên.

Từ năm 1877, cựu tu viện các thầy khổ tu Đức Mẹ Ban Ơn ở Nizza Monferrato đã nhường chỗ cho Cha Bosco, để ngài mở lưu xá, giáo dục các thanh thiếu nữ.

Những gian phòng rộng lớn được trùng tu, đã biến tu viện trở nên một trụ sở đầy hứa hẹn. Dần dần, đa số các nữ tu, tập sinh và thử sinh đều chuyển về Nizza, nơi mà lưu xá và khánh lễ viện mỗi ngày một phát triển.

Lúc này, Nizza chỉ mong đợi có Mẹ với sự ước ao và niềm vui rộng lớn.

Mẹ đến thực khiêm nhường và vâng phục, cho dù từ giã Mornese đối với Mẹ là điều đau đớn nhất.

Vĩnh biệt nhé ngôi thánh đường thân yêu giữa những ngọn núi đồi, nơi mà những giây phút ban mai qua đi mau chóng trong niềm vui kinh nguyện.

Vĩnh biệt giếng rửa tội, nơi đã sinh lại con người cho Thiên Chúa. Vĩnh biệt bàn thờ cổ kính, nơi gặp gỡ Chúa lần đầu tiên và bao nhiêu lần khác, với sự ý thức và sốt sắng tăng thêm cùng thời gian.

Vĩnh biệt mái nhà nhỏ bé Mazzarelli và Valponasca với cánh cửa sổ mở ra ngoài thung lũng, như con mắt ai kia lo lắng tìm kiếm tháp chuông để thỏa mãn nỗi mong nhớ của tâm hồn.

Vĩnh biệt tòa lưu xá hiên ngang đồ sộ trên đỉnh đồi đã từng chứng kiến bao thời thanh nữ xa xưa, nhà của tình yêu Thiên Chúa; nơi bao đàn chim én trắng, đen đã tập bay lên cao giữa vòm trời nhân đức.

Vĩnh biệt những vườn nho êm dịu, phất phơ theo chiều gió, dưới ánh nắng mặt trời, nơi mà từ thời thơ ấu đã chứng kiến nỗi vất vả của công việc đồng áng, của công việc được thánh hóa trong kinh nguyện, biến cần lao thành bài ca ngợi khen tình yêu Thiên Chúa.

Vĩnh biệt những người bạn cũ “Con Đức Mẹ Vô Nhiễm”, những người đã từng tranh đấu cho lý tưởng tông đồ lúc đó đang đến chỗ trưởng thành.

Vĩnh biệt thánh địa nhỏ bé, nơi an nghỉ cuối cùng của Cha Pestarino, và của những chị em đang yên lặng nghỉ giấc ngàn thu, đợi chờ ngày sống lại.

Đặc biệt, xin vĩnh biệt ba má, đã già nua tuổi tác, đôi mắt mệt nhọc tiên báo ngày ra đi vĩnh viễn sẽ không còn xa lắm.

Và vĩnh biệt các con, thanh thiếu nữ, quý hóa như con ngươi trong đôi mắt Mẹ.

Vĩnh biệt tất cả dân làng, già trẻ, lớn bé, yếu đau, tật nguyền; những người đã mến Mẹ, đã minh chứng về Mẹ: “Ai cũng quý trọng Mẹ, vì Mẹ đã làm cho mọi người yêu mến”.

Dân làng đã thấy Mẹ Bề Trên qua đường phố nơi họ ở và họ đã nói: “Mẹ khiêm nhường đến độ không tỏ ra chút tầm quan trọng nào”.

Buổi sáng lành lạnh vào tháng Hai ấy, có lẽ các con đã không trông thấy những giọt nước mắt tuôn chảy, đã không thấu hiểu nỗi lòng đau đớn, vì Mẹ biết ẩn dấu bằng sức mạnh qua nụ cười tươi.

Thật vậy, khâm phục các thánh thì chẳng khó gì, thông cảm với các ngài mới là chuyện khó.

Chúng ta nghĩ tới nhân đức của các ngài như nghĩ tới một luồng ánh sáng phát ra từ mạch suối trường sinh, nhưng chúng ta không biết lắng nghe tiếng rí rách đau thương dưỡng nuôi nguồn suối ấy.

Trái lại, thực là tuyệt diệu khi nghĩ tới những giờ mà các thánh cũng sống như chúng ta, cũng đau khổ như chúng ta, chỉ khác có một điều: các ngài luôn luôn hoàn toàn tuân theo thánh ý chúa.

*******

Chương XX

NGƯỜI TRÔNG CÂY KHÉO LÉO

Với trí thông minh tuyệt diệu, lại được ánh sáng thần linh điều khiển để lãnh nhận chân lý, để hiểu thấu con tim của mỗi người và mỗi hoàn cảnh, tất cả kết thành một trực giác tế nhị, một nền móng quản trị vững chắc, một khả năng giáo dục mạnh mẽ nơi Mẹ Mazzarello.

Vào năm 1874, Catarina Daghero, cùng với những tập sinh khác đang sửa soạn mặc áo dòng.

Catarina, một cô gái thành thực, cởi mở, hứa hẹn, tựa thân cây chắc chắn đầy nhựa sống. Vậy mà không biết tại sao, sau một thời gian ngắn sống trong tu viện, một bức màn đen tối đã bao phủ tâm hồn chị. Những nghi ngờ, những chán nản vu vơ, những day dứt trái khoáy không rời bỏ chị lúc nào.

Niềm hứng khởi của chị đã phiêu lưu tới đâu? Niềm vui trong sáng đời tận hiến đã biến mất nơi nào?

Liều thuốc thần diệu cho bao nhiêu ám ảnh đó là cứ đi trình bày sự thể cùng Mẹ Mazzarello.

Catarina bày tỏ tâm hồn, và những lời của Mẹ ví như ánh sáng làm êm dịu cõi lòng.

“Đó chỉ là cơn cám dỗ mau qua” – Mẹ Mazzarello khuyên chị, và báo cho chị biết trước nỗi vui mừng khi được giải thoát.

Nhưng ngày lại ngày qua đi, với những nghi ngờ mới, với những day dứt mới, Catarina muốn trở về gia đình. Chị không thể khuây khỏa chút nào, vì nỗi nhớ thương nung nấu.

Vậy mà thánh ý Thiên Chúa giống như cây thánh giá thẳng thắn, chói lọi, đâm sâu vào tâm hồn, và chị cảm thấy không thể, và không có quyền nhổ nó đi. Cuộc đấu tranh tiếp tục, đưa chị đến chỗ nhờ người đem va-li để sẵn ngoài phòng khách:

  • Có lẽ ngày mai mình sẽ ra đi. Tốt hơn là kết thúc cái tình trạng day dứt không giải quyết nổi này, càng sớm càng hay.

Giữa các Bề Trên, cũng có vị đồng ý với Catarina. Chỉ có Mẹ Mazzarello là bình tĩnh, cương quyết:

  • Không, con phải ở lại đây. Giờ đây càng đau khổ bao nhiêu, sau này con càng được mãn nguyện và thực hiện được nhiều công việc thánh thiện bấy nhiêu.
  • Ngày lại ngày lạnh lẽo trôi qua trên những đỉnh đồi Mornese, đến ngày nhận áo dòng, mà vẫn chưa có gì thay đổi nơi tâm hồn Catarina.

Chị yêu Tu hội, khâm phục nếp sống thánh thiện ở nhà dòng, nhưng lại sợ không ôm ấp nổi đời sống ấy. Chị muốn trở về với những người thân yêu, nhưng cây thánh giá thẳng thắn, cây thánh giá của thánh ý Chúa vẫn còn thâu qua tâm hồn chị.

Để đi đến quyết định sau cùng, chính cha tuyên úy cũng chạy tới bàn hỏi cùng Mẹ Mazzarello:

  • Chúng ta phải tính sao với Catarina Daghero đây? Mẹ cho rằng Thiên Chúa muốn gì nơi chị ấy?
  • Con đã nói nhiều lần rồi – Mẹ trả lời – Thánh ý Chúa muốn rằng chị ấy cứ ở lại đây, mặc áo dòng, bởi vì chị được gọi để thực hiện những công việc to tát cho các linh hồn.

Ngày hôm sau, lời của Mẹ được thực hiện từng nét. Nghi lễ mặc áo phá tan cái bí thuật cuồng phong kia. Và trái tim chị Catarina được luyện lọc trong cuộc tranh đấu thầm kín dữ dội trở nên như cánh buồm trắng bay nhẹ nhàng trong an bình của tình yêu Thiên Chúa, để hướng về những chân trời rộng lớn bao la.

Và chính chị, một ngày kia, kế vị Mẹ Mazzarello sẽ lái con thuyền Tu hội.

*******

Vì biết nhận xét những hoàn cảnh tâm lý, nên Mẹ Mazzarello không bao giờ gần gũi tâm hồn nào mà không thông tri cho tâm hồn ấy điều mà tình yêu vô biên của Thiên Chúa ước muốn.

Để đòi hỏi vâng lời, Mẹ tìm ra giọng điệu thích hợp nhất, và đôi khi với cách thức lạ lùng hơn cả.

Chẳng hạn, khi phải chọn chị Giuseppina Pacotto làm Bề trên ở Alassio, Mẹ liền gọi chị lại trước giờ chơi:

  • Chiều nay sẽ chơi “trốn tìm”, lúc nào con cũng chạy theo Mẹ nhé!

Thế rồi, giữa lúc giờ chơi gay cấn nhất, thấy chị nữ tu nấp bên cạnh mình sau cánh tủ, Mẹ tinh nghịch nhìn chị với đôi mắt trong sáng:

  • Con giúp Mẹ điều này được không? – Mẹ nói cách tự nhiên.
  • Thưa Mẹ, con sẵn sàng – chị nữ tu trả lời.

Mẹ liền nói với chị về thánh ý Chúa muốn chị âu yếm chấp nhận lệnh truyền bất ngờ kia.

Và rồi, trước khi chị nữ tu kịp hồi tâm lại, Mẹ đã cam kết ngay:

  • Chúa chờ đợi con ở đấy! Chúa sẽ giúp con. Nào chúng ta hãy vui lên.

Và Mẹ tiếp tục hăng hái vui chơi, để tránh cho chị mọi lo lắng, để chỉ hoàn toàn đơn sơ tin cậy vào Chúa.

Theo gương Cha Bosco, lợi dụng bầu không khí đặc biệt của buổi chiều tàn, lúc mà các tâm hồn chú ý hơn tới lời chân thật, Mẹ Mazzarello luôn ban huấn từ (“buona notte”) mỗi buổi tối – một thói quen thân mật, hoàn toàn Salêdiêng, đầy cảm tình sống động.

Người điều hành tu viện nói lên vài lời thân yêu ngắn ngủi có liên quan tới đời sống, tới kinh nguyện của tuổi trẻ, và kết thúc ngày qua trong bầu không khí an vui. Với cách thức đó, Mẹ gieo vãi vào những tâm hồn chút men chân lý, để nó thấm nhập và tự do hoạt động.

Nhiều nhân chứng tuyên bố rằng: “Những lời của Mẹ đơn sơ trong câu văn, mà siêu việt trong tư tưởng”, bất kỳ khi nói với ai, chung hay riêng.

Thực thế, cũng như Cha Bosco, Mẹ Mazzarello biết sử dụng  bí thuật của câu nói nhỏ nhẹ bên tai có sức khuyến khích khi thất đảm, an ủi khi khổ đau, sửa chữa lúc sai lầm, nhưng không bao giờ đàn áp hay lăng mạ.

“Sau khi đã bày tỏ cùng Mẹ, không chị em nào lại đi ngủ với điều bí mật hay cay đắng trong lòng” – một nữ tu chứng nhận.

Một chị khác:

“Tâm sự với mẹ về những khó khăn riêng, y như là được giải thoát khỏi những khó chịu ấy!”

“Mẹ cũng thế đấy con ạ! – nhiều khi Mẹ cúi mình trên những tâm hồn e lệ – nhưng con đừng thất đảm về những khuyết điểm này, Thiên Chúa tốt lành biết chừng nào! Tại sao chúng ta lại không tín nhiệm nơi Người?”

Cứ như thế, các tâm hồn tìm thấy nơi Mẹ niềm vui và hy vọng.

*******

Đức khôn ngoan, tinh thần lạc quan, công cuộc giáo dục lành mạnh dựa trên lòng kính cẩn.

Ai mà chẳng biết rằng: lưu trú sinh nào cũng “lắm mồm lắm miệng”.

Giá có người trông coi thì “con muỗi bay cũng nghe thấy”, nhưng nếu ở một mình, thì nhất định là “ong vỡ tổ”.

Điều đó chị Enrichetta Sorbone, chị hộ trực dịu hiền, am tường lắm, nên hôm đó, khi Mẹ Mazzarello gọi chị có chuyện cần gấp, chị đã bối rối:

  • Con sẽ gọi ai đây để thay con trông coi lũ trẻ?

Chị nhìn Mẹ như dò hỏi, và hơi lo lắng, vì lúc đó không có chị em nào khác rảnh việc cả.

  • Sofia – mẹ trả lời – con gọi Sofia.
  • Trời đất ơi! Gọi ai chứ gọi con nhỏ nghịch ngợm phá phách nhất lớp ấy thì chết rồi! Có lẽ Mẹ chưa biết nó là ai? – Những ý tưởng này thoáng qua linh động trong đầu óc chị Enrichetta, nhưng vì là một nữ tu biết phán đoán, chị sẵn sàng xua đuổi chúng đi. Nếu Mẹ đã nói vậy, chắc chắn mình sẽ lầm khi không vâng lời Mẹ – chị nghĩ thế.

Điều xác nhận đã được chính nữ sinh minh chứng sau này: “Cử chỉ tín cẩn ấy đã đưa tôi đến chỗ sửa mình, và từ đó cố gắng tuân giữ cái quy luật im lặng trong phòng học”.

Mùa xuân quyến rũ lạ lùng, nhất là khi các cành cây khô đã chi chít những cánh hoa xinh đẹp. Ai chẳng muốn chạy tung tăng trong vườn, ngắt cành hoa duyên dáng quyện quanh mái tóc, hay mơn trớn những đóa hoa dịu dàng lướt trên khuôn mặt? Một cô gái nhỏ ở Nizza đã làm y như vậy: bẻ gẫy cành hoa, hãnh diện chạy đi trước, với đoàn tùy tùng vui sướng theo sau.

Nhưng khổ thay cành hoa đó lại là cành hoa có quả! Một người trông thấy cô bé với đoàn “tùy tùng” mới lạ kia, không đồng ý mấy, đã mắng cho cô một trận nên thân: la cô là nhẹ dạ, là không kính trọng tài sản kẻ khác, là… nhiều thứ lắm, câu chuyện lan xa đến tai Mẹ Mazzarello.

Thật là một điều hay. Tất cả hiểu lầm kia đều bị phá tan vì nhận xét khôn ngoan trong sáng của Mẹ:

  • Ơ kìa! Nó ở tỉnh lên, thì làm sao phân biệt được cây có quả với cây không?

Sự thực được phơi bày, và đồng thời vấn đề được giải quyết. Thay vì lời quở mắng không chính đáng kia, kẻ tình nghi được bồi thường một phần trái cây nhiều hơn mọi khi, để chia vui cùng các bạn đồng bàn.

*******

Phải ngồi im một chỗ trong nhà may, đối với nhiều tập sinh, không phải là một thử thách nhỏ. Những mái đầu xanh cúi xuống trên đường kim mũi chỉ, mà vẻ mặt không dấu nổi điều bực bội, khó chịu. Bầu không khí tự do, những cuộc chạy đua một thời vẫn còn quá gần gũi, đang lớn tiếng kêu mời các chị.

Nếu đi qua phòng khâu, thế nào Mẹ cũng nhận ra cuộc tử nạn nhỏ bé ấy. Sau một lời nói nhiệt thành, giúp các chị em thánh hóa công việc, hoặc hỏi chị này hay chị khác: “Con đã làm điều gì mà không vì yêu mến Chúa Giêsu không?”. Mẹ hướng về những ai cần thiết:

  • Nào, các con, chạy một mạch ra vườn xem sao!

Hay là:

  • Cần phải tưới vườn, các con đi đi rồi trở lại ngay.

Những đôi mắt lúc ấy chiếu sáng hẳn lên, đồng thanh sung sướng cám ơn. Thân xác tiếp xúc với bầu không khí trong sạch bên ngoài sẽ trở nên mạnh mẽ hơn để sẵn sàng tùng phục tinh thần.

*******

Ở Nizza, vào ngày cuối năm, bao giờ cũng có phần thưởng cho những học sinh xứng đáng nhất.

Xếp hàng đâu vào đấy, dưới bộ đồng phục kiểu mẫu, các nữ sinh coi có vẻ dịu dàng và giống nhau hết lượt: mềm mại, tươi xinh như những bông hồng đang chớm nở trong cùng một luống hoa.

Phần văn nghệ kết thúc bằng bản đồng ca du dương trầm bổng, như đưa hồn người lạc vào cõi thiên thai.

Cuộc phát phần thưởng bắt đầu.

Các em được gọi hân hoan cảm động từ sân khấu đi xuống lãnh quà.

Lúc này, tới lượt cô bé tóc nâu. Cha mẹ cô âu yếm sung sướng nhìn cô giữa hàng khán giả đang nhiệt liệt hoan nghênh. Trong khi đó, đối với ai có đôi mắt tinh vi, sẽ thấy ngay một mái  đầu với bộ tóc nâu khác thẹn thùng cúi nhìn xuống đất, rồi nấp mình sau bức màn sân khấu.

Đấy là đứa em ruột, có lẽ lần đầu tiên trong đời, đang nếm thử cảnh đắng cay chua xót của sự thua kém.

Đôi mắt tinh vi ấy chính là của Mẹ Mazzarello, người đã trông thấy hết và hiểu hết.

Lễ phát phần thưởng thế là xong! “Không một ai, thực là không một ai nghĩ tới mình!” – em nhỏ thầm nghĩ.

Thì đây, từ một cánh cửa sổ nhỏ bên ngoài bức màn sân khấu, có tiếng ai gọi – tiếng Mẹ Mazzarello:

  • Này, con cầm lấy! Cuốn sách này phần con đấy. Con cũng đã hát, đã làm tử tế vai trò của mình. Thôi chạy ra đưa phần thưởng cho ba má coi.

Êm ái và mạnh mẽ, dịu dàng và cương quyết cần phải hòa hợp với nhau nơi nhân vị của nhà giáo dục; đó là hai bộ mặt của cùng một tình yêu.

Nếu thiếu sự dịu dàng, sức mạnh sẽ đè bẹp hay cắt đứt việc thiện mới khai mào. Nếu thiếu nghị lực của một ý chí cứng rắn, sự êm ái lại trở thành yếu nhược.

Mẹ Mazzarello không bao giờ tách rời tình mẫu tử dịu dàng ra ngoài ý chí cương quyết, luôn hướng về điều thiện hảo, với bất cứ giá nào.

“Chúng ta không đòi hỏi có những nữ tu hay học sinh không có khuyết điểm – Mẹ thường nói – nhưng chúng ta muốn họ đừng làm hòa với những khuyết điểm ấy”.

Và chính Mẹ, con người thành thực với bản thân, đã không ngần ngại tranh đấu, để các chị em, hay học sinh đừng sống phẳng lặng dưới bộ mặt nạ của đê hèn, của hứa hẹn hiểm nguy.

Những ác cảm cố ý đối diện với tình yêu cũng ví như tro tàn so với lửa hồng vậy.

Mẹ không tài nào chịu đựng nổi những ác cảm cố ý ấy.

Ngày kia, gặp một tập sinh, Mẹ nhìn thẳng vào đôi mắt chị, như muốn đánh tan vài bóng dáng tối đen:

  • Con có những ác cảm với ai đó phải không? – Mẹ hỏi.
  • Thưa… vâng! – nạn nhân thú tội ngay và còn nói ra cả tên chị nữ tu liên can.

Chị cũng không giấu giếm tất cả những lý do khiến chị không thể tiếp xúc với người chị em kia.

Mẹ im lặng một giây, rồi tiếp:

  • Con cần phải đền bù điều đó. Chiều nay, con sẽ tìm cách đi hôn chân chị ta.

Liều thuốc thực là cay đắng. Nó giống như những loại điều chế bằng chất sắt, do các dược sư tài ba tạo ra để chữa bệnh thiếu máu.

Bất lực và sợ hãi tiến tới dồn dập trong tâm hồn chị tập sinh. Chị tuôn tất cả nỗi gớm ghét ra ngoài theo lời nói và những hàng nước mắt.

Không chút thương hại, Mẹ chỉ nói thêm:

  • Con sẽ làm điều đó vì yêu Chúa Giêsu. Còn Mẹ, Mẹ sẽ giúp con khi đến lúc.

Bữa cơm chiều đã xong. Giờ chơi đã điểm. Người tập sinh vẫn chưa tìm ra cơ hội thuận tiện. Trong tâm hồn chị, những cảm tình liên tiếp đổi thay: nửa muốn vâng lời, nửa ngại ngùng. Biết thắng mình sao đây?

Mẹ Mazzarello hiện đến bên nhắc nhở:

  • Đến lúc rồi đấy! Chị kia đã hộ trực xong ở phòng ăn, và đang đi ngủ. Con hãy chạy theo sau.
  • Tôi “phó linh hồn” cho Thiên thần bản mệnh, rồi đi vào “chốn khổ hình ấy” – chị tập sinh kể lại – nhưng vừa bước vào phòng, một bàn tay êm ái đã đặt trên vai tôi.
  • Thế đủ rồi! – Mẹ nói – con đã thắng vượt mình. Sáng mai con hãy dâng hy sinh đó trong khi hiệp lễ.

Bài ca an bình lập tức tràn ngập cõi lòng chị. Với nghị lực của chị và nhất là sự tế nhị của Mẹ Mazzarello, cuộc chiến đấu với chính mình đã đem lại chiến thắng thật vẻ vang.

Để cho ý chí giữ vai trò chủ động là đã đạt được bí quyết của sự thành công.

Mặc cho ý chí một đức tin vững mạnh ấy là đã để cho tuổi xuân của bạn bay lên cao, mạnh dạn và chắc chắn tựa phượng hoàng trong ánh dương.

Mẹ Mazzarello cũng biết rằng, với chị nữ tu trẻ tuổi Rosalia Pestarino, có thể áp dụng bí quyết đó.

Rosalia, cháu cha tuyên úy, đã tới Mornese thăm cậu và không chịu về nhà nữa.

Vào thời phôi thai, Tu hội vẫn còn phải sống quá nghèo khó, hy sinh.

Rosalia hiểu rằng tất cả chỉ vì yêu mến Thiên Chúa nên cứ ở lại với bất cứ giá nào.

Cắt đứt liên lạc với đời sống đầy đủ tiện nghi trong gia đình, chị cố gắng thích hợp với đời sống mới.

Tuy có một điều mà chị không chịu nổi, và vì tính tình ngay thẳng, chị nói với Mẹ:

  • Không đời nào con lại chịu xưng tội với cậu của con!

Mẹ mỉm cười im lặng.

Vài tuần đầu, khi mà mọi người đi trình diện cùng cha giải tội của cộng đoàn, Rosalia đi xưng tội với cha xứ Mornese .

Cùng với thời gian, Mẹ Mazzarello (thực sự lúc đó hãy còn là Phụ tá) tìm hiểu tính tình Rosalia và hiểu rằng, cái xấu hổ tưởng tượng kia có thể thắng vượt và do sự chiến thắng đó, ý chí sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, đức tin sẽ trở nên sống động hơn.

Một ngày kia, Mẹ gọi Rosalia lại bảo:

  • Rosalia này, chị nghĩ em không thể tiếp tục mãi điều riêng biệt thế này. Em hãy nghĩ rằng nơi cha giải tội có Thiên Chúa. Em cứ can trường sống bằng đức tin, đi trình diện với ngài như mọi người trong chúng ta. Rồi nếu em cần điều gì khác, chúng ta sẽ lo liệu sau. Nhưng cuộc chiến thắng của em lúc này mới là điều chị mong muốn!

Tới ngày xưng tội. Rosalia vừa thức dậy đã day dứt trong tâm hồn:

  • Mình phải đi ư? Lỡ không thành công thì sao?

Suốt ngày hôm đó, cuộc chiến nội tâm mỗi lúc một căng thẳng. Nhưng rồi cái giờ khủng khiếp kia đã điểm.

Một hàng dài các nữ tu, tập sinh, thử sinh, học sinh đã thưa dần.

Sau cùng, mọi người đã xưng tội xong, chỉ còn mình Rosalia, nặng như chì, bất động tại chỗ.

Mẹ tới bên: Can đảm lên! Nếu em không biết nói gì cũng chẳng sao, miễn là tới trình diện cùng cha giải tội. Chúa sẽ nhìn nhận sự cố gắng này.

Cô thiếu nữ ngập ngừng giây phút rồi run run tới quỳ trước tòa cáo giải. Nhưng kìa, cái gì đã xảy ra? Một bóng người vừa chạy vụt ra ngoài nhà nguyện nhanh như tên bắn.

Sự thẹn thùng quá mạnh. Khi Rosalia vừa mở miệng ra định nói, thì nó đã đóng miệng chị lại ngay, đến nỗi làm chị phải tẩu thoát.

Mẹ Mazzarello vẫn không chịu đầu hàng:

  • Cố gắng phân nửa chưa đủ, Rosalia! Em hãy trở lại để chị đi gọi cha.

Cô bé gật đầu xin vâng, và trên cái “vâng” đó, một ý chí toàn thắng đã lôi kéo cái nhìn của Chúa Giêsu, khiến chị đắm chìm trong tinh thần đức tin mạnh mẽ.

Thế là cuộc chiến đấu đã kết thúc trong hoan lạc.

Cửa mở ra, làm dấu thánh giá, rồi hoàn toàn quên đi ai là người ngồi trong đó. Tôi sung sướng biết mấy, khi nhận ra rằng mình đến với Bí tích này không phải để tự tìm mình, nhưng tìm tình thương Thiên Chúa và khám phá ra Người, tin Người nơi cha giải tội – chị Rosalia kể lại.

Mornese, với những núi đồi trùng điệp, ngày nào đã được chứng kiến “Main”, cô gái lành nghề khéo léo hơn ai hết khi chăm sóc những nhánh nho non; đã hân hạnh hưởng thụ trong vinh quang ánh sáng mặt trời cả tuổi xuân hùng mạnh, cần mẫn lao công.

Nhưng chỉ có những linh hồn được phúc ở bên Mẹ Mazzarello mới biết được những đặc điểm của sự tiếp tục hiến thân đó: chăm chỉ, thông minh, Mẹ trở nên nhà giáo và người vun tưới cho các linh hồn.

Vườn nho Thiên Chúa nhờ bàn tay Mẹ mà khai hoa kết quả bội phần.

*********

Chương XXI

VỀ BẾN

Cánh buồm trắng chẳng bao lâu đã gần cập bến. Sự vinh quang, ánh mặt trời quyện quanh Mẹ. Và làn gió, làn gió độc nhất luôn đưa đẩy cánh buồm, để cánh buồm mỗi lúc một nhẹ nhàng mau lẹ hơn, đó là làn gió của tình yêu.

Ai cũng nhận ra điều đó. Giữa hàng giáo sĩ, đã có vị lên tiếng: “Mẹ của các chị thực là một người nữ đầy sức mạnh! Một thánh Têrêsa thứ hai”.

Và một Giám mục: “Các chị có một Mẹ Bề Trên rất thánh thiện. Các chị hãy coi mẹ như phần gia sản quý giá”.

Ai trong các nữ tu được Mẹ tới thăm viếng cũng thầm nghĩ: “Mẹ của chúng ta đang tự hủy mình cho Thiên Chúa và cho chúng ta”.

Thực vậy, lửa hăng hái thiêu đốt Mẹ. Nỗi lo lắng của Mẹ lúc này là làm sao cho các chị em, dù có sống trong hoàn cảnh sung túc, cũng luôn coi mình như những người nghèo của Thiên Chúa, và sốt sắng yêu mến Người. Mẹ dặn các chị ở Biella:

  • Các con hãy nhớ rằng, chúng ta rất nghèo nàn ở Mornese, nơi đây được đầy đủ mọi tiện nghi, các con phải sống khó nghèo trong tinh thần mới được.

Lúc khác, Mẹ lại hăng hái ao ước cho tất cả các con cái Mẹ hãy say mê tuân giữ hiến luật để đưa các chị tới niềm vui sâu xa của tình yêu hy sinh.

Nhưng  bao giờ cũng vậy, Mẹ làm rồi mới nói.

Tới thăm một chi nhánh nhỏ bé nghèo nàn kia, Mẹ thấy có mấy gian phòng nhỏ, và chỗ ngủ chỉ vừa vặn cho các chủ nhân. Một chiếc chiếu thừa cũng không có.

Mẹ nhìn quanh tổ ấm trần trụi và tỏ vẻ mãn nguyện trong ánh sáng ấm áp nghèo nàn đáng yêu ấy.

Dĩ nhiên, khi các chị em dành riêng cho Mẹ một gian phòng, Mẹ nhất định không chịu nghe. Và các chị phải vất vả lắm mới làm thay đổi được cái ý định cương quyết của Mẹ: muốn nghỉ đêm trên một chiếc ghế ngồi.

Ở một nhà khác, chị Giám đốc muốn dùng ý chí để chiến đấu với sức khỏe suy tàn, nhưng hầu như thất bại và để chị hiểu điều đó, Mẹ dùng những lời bác ái, tế nhị, khôn ngoan và trong sáng:

  • Con tin rằng con bó buộc phải đeo đẳng bệnh tật đến mức độ đó ư ? Con làm như thế không đúng tí nào, vì các chị em sẽ phải đau khổ nhiều khi thấy mặt mũi con xanh xao, vàng vọt. Trái lại, con phải chăm lo sức khỏe của mình và làm tất cả những điều có thể để làm cho các chị em vui lòng.

Một nữ tu khác có việc phải ra ngoài tu viện luôn luôn và trong một thời gian ngắn, phải cáng đáng rất nhiều công việc.

Nhưng bạn cứ yên trí, thế nào chị cũng được Chúa và Mẹ Mazzarello yêu thương cách riêng. Mẹ nói cùng chị:

  • Mẹ luôn nghĩ tới con, sáng cũng như chiều! Và Mẹ cầu nguyện để con sống qua một ngày tốt đẹp.

Cứ như thế, khách bộ hành của tình thương đi từ nhà này sang nhà khác.

Được Mẹ thăm viếng là như được lãnh nhận những làn sóng của mùa xuân ánh sáng.

Cô gái nhỏ ở Lu Monferrato cũng được niềm vui đó, khi bé lên dâng cho Mẹ một bó hoa trắng lớn. Mẹ nhìn đứa bé bảy tuổi đó hồi lâu, rồi hỏi tên bé. Bé trả lời và Mẹ ôm lấy em trong nụ cười tươi:

  • Bé ngoan nhé! – Mẹ bảo bé – chừng nào bé lên 15 tuổi, bé sẽ mặc chiếc áo dòng như chúng ta.

Tương lai đã không lừa dối lời tiên đoán đó. Đúng 15 tuổi, cô bé trở thành tập sinh, sẵn sàng tiến bước trên bước đường Thiên Chúa.

*******

 Đức ái thúc đẩy Mẹ ra đi không mỏi mệt. Trên xe lửa và ở bất cứ nơi nào, Mẹ cũng đem thiên quốc trong tâm hồn và luôn luôn liên kết với những công dân trên đó.

Những “điện tín” lừng danh, những lời nguyện ngắn mà Mẹ thường nói với các học sinh, khuyến khích chúng gửi về trời, vẫn tiến triển điều hòa trong những cuộc du hành của Mẹ.

Tất cả đều dùng để thổi lớn hơn ngọn lửa nhiệt thành trong tâm hồn.

Đó đây, bóng ngôi thánh đường xuất hiện nơi chân trời.

  • Nhìn kìa – Mẹ nói với người đồng hành – ở đó có tình yêu của chúng ta.

Hay là: “Chúng ta hãy để tâm hồn tìm về ngôi nhà Tạm. Chúa Giêsu tự nhốt mình trong đó vì chúng ta. Chúng ta hãy cùng nhau chịu lễ thiêng liêng đi”.

Khi phải đi bộ một quãng đường, Mẹ nói: “Mỗi bước đi, mỗi lời nói của chúng ta phải là một hành động yêu mến Chúa, chúng ta hãy làm mỗi việc đó, để cứu lấy một linh hồn”.

Như thế, Mẹ đã hô lên khẩu hiệu của thánh Phaolô: “Đức ái thúc giục chúng ta hành động” và lời nói đó đã được thực hiện nơi Mẹ.

Đức Cha Costamagna viết: “Mẹ sẵn sàng hứng lấy những khó chịu, rầy rà, đánh đập, nhục mạ, miễn là đưa được các linh hồn về cùng Thiên Chúa”.

Mẹ đi tới đâu là như nâng cao bầu không khí lên tới đó. Bạn sẽ không hiểu tại sao và như thế nào. Có lẽ bạn không nghe Mẹ nói về Chúa đấy chứ! Thế mà bạn cảm thấy rằng, câu chuyện của Mẹ có tính cách cao thượng và tâm hồn bạn vô tình đang được đưa vào bầu không khí siêu việt hơn.

*******

 Từ xa, tử thần đã ra hiệu. Hắn định đưa Mẹ mau vào đời sống thật, vì bông hoa đẹp nhất thường được hái trước hết, và mùi thơm càng nồng nàn càng lôi kéo sự chú ý của người hái hoa. Phải chăng tử thần là người hái hoa của Thiên Chúa?

Sức khỏe của Mẹ mỗi ngày một suy yếu. Thực ra, Mẹ đã chẳng bao giờ có một sức khỏe dồi dào. Nhưng năm 1881 này đã đem đến cho Mẹ nhiều triệu chứng mới và các con cái Mẹ phải sầu khổ khi thấy mẹ bước đi xiêu vẹo sang một bên hông, vì phải đeo một vật chữa bệnh lạ lùng: một hòn gạch nóng.

Một điều tiên báo quá rõ rệt bao phủ trên tu viện Nizza: Mẹ biết chẳng mấy chốc sẽ ra đi vĩnh viễn. Mẹ đã hiến dâng đời sống mình cho Thiên Chúa. Đức khiêm nhu, lòng yêu mến các linh hồn đã đưa mẹ đến chỗ đó.

  • Lúc này Tu hội ngày một tiến triển, các con còn muốn gì nữa một Bề Trên ngu muội dốt nát như Mẹ đây? Thôi, Mẹ chết đi thực là phải lẽ và cần thiết.

Với chị Giuseppina Pacotto, Mẹ nói rõ rệt hơn:

  • Con giúp mẹ một điều được không?
  • Một, chứ hai, ba, con cũng sẵn sàng!
  • Vậy thì Mẹ cần con phải sang châu Mỹ. Con đã sửa soạn rồi, đó là điều con làm Mẹ vui lòng hơn cả.

Và như để chặn đứng những giọt lệ đã bắt đầu chảy quanh mắt chị nữ tu, Mẹ nói tiếp:

  • Vâng, Mẹ biết lắm! Mẹ biết con sẽ đau khổ nhiều vì phải xa mẹ. Nhưng Mẹ xin nói với con điều này, không phải để an ủi con, nhưng là để nói lên một thực tại. Chị Giuseppina! Nếu con ở lại đây, chúng ta cũng sẽ phải xa nhau, bởi vì Mẹ sẽ không sống hết năm đâu.
Chị nữ tu buồn rầu phản kháng:
  • Nhưng thưa Mẹ, tại sao Mẹ lại muốn nói với con những điều này?
  • Bởi vì Mẹ biết trước.

Đôi mắt đen như sâu đậm thêm, đầy ánh sáng, nhìn xa xôi tới một đích điểm nào chỉ mình chúng biết.

Và rồi một tiếng nói thì thầm mau lẹ vang lên:

  • Vì nhiều điều có liên quan tới Tu hội, nên Mẹ đã dâng mình làm của lễ hiến dâng cho Chúa. Bàn thờ đã sẵn sàng, chỉ còn việc dâng hiến của lễ toàn thiêu.
  • Không còn một ý chí nhân loại nào còn có thể ngăn cản được nữa.

Sau một thời gian khi Cha Bosco tới Nizza, chị Giuseppina như không tin ở chính mình, khi kể hết câu chuyện cho thánh nhân hay.

  • Thưa cha – chị khẩn khoản – với lời cầu nguyện của cha, cha không thể lấy lại lời Mẹ đã khấn hứa sao?

Cha Bosco nhìn chị suy nghĩ rồi tiên báo:

  • Của lễ hài lòng Thiên Chúa, nên Ngài đón nhận rồi.

Nhưng nỗi đau khổ thắt chặt trái tim người con lo lắng cho Mẹ hơn lo cho chính bản thân mình:

  • Không thể thay đổi nữa hay sao? Thưa cha, con sẽ dâng mình con thay cho Mẹ.

Nhưng Ngài khe khẽ lắc đầu với nụ cười buồn nhưng đầy ánh sáng:

  • Không được – Cha Bosco cương quyết trả lời – quá muộn rồi.


Chương XXII

NHỮNG TIA SÁNG CUỐI CÙNG

Một nhóm người can đảm nữa đang sửa soạn để sang Mỹ châu. Đây là chuyến đi thứ ba.

Cánh đồng truyền giáo bao la, và mùa gặt thiêng liêng đầy hứa hẹn bên đó đang cần thêm thợ gặt. Cha Bosco sẽ gửi các tu sĩ Salêdiêng đi, và các chị Con Đức Mẹ Phù Hộ được chọn cũng sẽ cùng đi với họ.

Lý tưởng truyền giáo của Mẹ thay vì lịm tắt, lại càng bừng cháy hơn bao giờ hết.

Với các nữ tu nài nẵng xin mẹ sang Mỹ châu thăm các chị, Mẹ trả lời:

  • Vâng, Mẹ sẽ đi và ở lại với các con.
  • Nếu thế thì còn gì sung sướng bằng Mẹ nhỉ.

Nhưng rồi, với đôi mắt nồng nàn giãi chiếu nguồn sáng của tâm hồn, lại thêm sáng hơn vì cơn sốt nấu nung, Mẹ giải thích:

  • Mẹ đã tận lực rồi còn đi đâu được nữa! Nhưng Mẹ sẽ luôn luôn ở bên các con trong tư tưởng, trong tình yêu, trong kinh nguyện. Các con còn biết tìm Mẹ nơi đâu để lắng nghe Mẹ nữa không? – Ở trong Hiến luật mà đã biết bao lần Mẹ cắt nghĩa cho các con nghe.

Dù sao, Mẹ cũng muốn tiễn chân các chị tới nơi có thể tới.

Cùng với các chị, Mẹ bắt đầu cuộc hành trình để đi tới Sampierdarena.

Nếu cơn bệnh làm cho cái nhà thể xác yếu nhược, vô phương cứu chữa, thì linh hồn ngự trị trong đó vẫn còn tuyệt diệu trong bài ca cuối cùng của tình hiền mẫu.

Quên mình trong tình trạng sức khỏe hao mòn ấy, thực là kiên nhẫn, anh hùng! Cảm tình nhân loại lúc này đã trở thành tình nghĩa cao siêu.

“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống vì bạn hữu của mình” – Chúa Giêsu đã nói, và chính Ngài đã minh chứng lời ấy.

Mẹ Mazzarello cũng đang thiêu hủy đời sống mình cho các con, sau khi đã đặt nó trên bàn thờ tận hiến cho toàn Tu hội.

Cuộc hành trình không chút tiện nghi cho một người đang sốt rét, đã tiến triển mau chóng giữa lời dặn dò này sang lời khuyên bảo khác:

Biết bao nhiêu điều Mẹ còn phải nói – Mẹ nhắc đi nhắc lại – biết bao nhiêu điều, nhưng Mẹ cảm thấy không còn sức lực nữa.

Phần các chị em cứ tiếp tục xin Mẹ đừng nói nhiều cho đỡ mệt, sự hiện diện của Mẹ đã làm cho các chị hài lòng rồi. Nhưng không thể ngăn cản dòng nước dâng lên cao để tìm về đại dương.

Đại dương đó là tình yêu Thiên Chúa, phần rỗi các linh hồn, sự trung thành tuân giữ Hiến luật: cả là một chương trình bao quát, mà suốt cuộc đời cao thượng Mẹ luôn lo lắng thực hành.

Trong khi đó, cơn sốt trở lại dữ dội. Lúc mê sảng Mẹ cũng nói về các con:
  • Tội nghiệp các chị quá! Chỉ có bốn chị, chỉ có bốn chị thôi! – Mẹ than vãn!

Thế mới biết nỗi đau khổ của Mẹ quá sâu xa, vì bốn người trong các chị sẽ phải từ giã các chị em để đi về vị trí khác.

Bác sĩ được mời tới. Nhưng lần này, Thánh ý Chúa lại giao kết với ý định của Mẹ, nên cơn bệnh chưa đến nỗi nguy nan, Mẹ vẫn có thể tiếp tục cuộc hành trình.

Chiều ngày 03-02, tàu nhổ neo đi tới Marseilles. Các chị truyền giáo vui vì có Mẹ, nhưng lại sợ làm Mẹ quá mệt nhọc.

Tuy thế, với sức mạnh hiếm có của tâm hồn, Mẹ đã không mất đi cái tính dễ khôi hài, có tài che đậy những hy sinh to tát cách tự nhiên niềm nở.

  • Ô hay thật! Các con đi mãi tới châu Mỹ mà Mẹ lại không được phép tiễn chân một quãng đường ngắn ư? Thực các con không biết rằng tiễn đưa các con là Mẹ được an ủi sao?

Thế nhưng đêm đến mới thực khủng khiếp! Cơn sốt trở lại dữ dội muốn quật ngã Mẹ với bất cứ giá nào.

Bất lực, tâm thần bất khuất đành phải hàng phục; chẳng bù với ban ngày, nụ cười và lời nói ẩn dấu hết mọi sự.

  • Các con hãy can đảm lên! Sẽ có ngày chiến đấu gay go và thánh giá trở nên nặng nề, lúc đó, hỡi các con thân yêu, hãy siết chặt nó vào lòng, vì đã đến giờ để các con tỏ ra trung thành hơn cùng Chúa Giêsu chịu đóng đanh.
  • Mẹ sẽ cầu nguyện cho các con ở trần gian này, và nơi thế giới bên kia.

Rồi tình yêu mến tăng thêm. Mẹ nói tựa như muốn gắn đời sống các chị vào niềm hy vọng mai sau.

  • Các con hãy nhớ rằng, những mũi gai nhọn phải chịu vì yêu mến Chúa Giêsu sẽ trở thành những đóa hoa hồng tươi thắm. Đừng bao giờ quên Đức Mẹ, hãy luôn kể cho Người nghe tất cả những nỗi đau buồn và cả những điều vui sướng nữa.

Trong khi đó, đôi mắt Mẹ ngừng lại trên khuôn mặt xanh xao của một chị. Mẹ quay lại dặn đi dặn lại người hướng dẫn cuộc “viễn chinh”:

  • Đừng để chị ấy thiếu thốn gì, đừng để chị ấy phải đau khổ!

Nhưng khi thấy những đôi mắt chung quanh mình bắt đầu rướm lệ, khi vì những cử chỉ tế nhị của mình lại làm cho cuộc chia ly sắp tới càng thêm ảo não, thì Mẹ vẫn có thể giỡn chơi được ngay.

Câu nói đùa, trong nhiều trường hợp, đánh tan bầu không khí ưu phiền.

Gần một người Mẹ như thế, nâng mình lên cao hô hấp bầu không khí Thiên đàng thực rất dễ dàng.

Đúng thế, Mẹ luôn nghĩ tới Thiên Đàng. Mẹ nói với niềm vui không gì thay đổi được:

  • Đau khổ quá ngắn ngủi, hưởng hạnh phúc mới dài lâu!

*******

Đến Marseilles, lại một biến cố khác xảy ra.

Tầu hỏng, cần phải sửa chữa. Các chị truyền giáo phải đi kiếm chỗ trọ.

Một mái nhà hoang lạnh đã đón tiếp họ. Những khách bất ngờ này không có lấy một manh chiếu để nằm.

Lần này, Mẹ cũng chứng tỏ tài tháo vát của Mẹ. Tám cái bao bố được dồn đầy rơm, khiến các chị bận bịu suốt ngày. Chiều đến, khâu lại. Thế là đã có chỗ sẵn sàng mời gọi các chị ngả lưng cho quên hết mệt nhọc .

Duy người không thể nghỉ ngơi được, đó là Mẹ Mazzarello. Cơn sốt, lửa hồng thiêu đốt lễ hy sinh, nung nấu Mẹ suốt đêm, đến nỗi ngày hôm sau, Mẹ không tài nào dậy nổi.

Khi Đức Cha Cagliero tới thăm Mẹ, Ngài khôi hài:

  • Cái bao rơm này là một chiếc giường lý tưởng lắm rồi còn gì nữa! Cái nôi của Chúa Giêsu ở Bethlem ngày xưa cũng chẳng êm đẹp hơn, Mẹ nghĩ sao?

Sau cùng, ngày 06-10, con tàu  lại nhổ neo .

Giữa cảnh tượng lộn xộn cầu cống, xà ngang, khung gỗ vì người ta đang kết thúc việc sửa chữa, đoàn viễn chinh lại khăn gói lên boong tàu.

Quang cảnh cảm động của chuyến đi đầu tiên lại tái diễn. Cha Bosco ban phép lành cho tất cả đoàn con, Mẹ Mazzarello thì thầm mau lẹ với mỗi người một câu vĩnh biệt âu yếm nhất, quý giá nhất.

Rồi Mẹ nói với tất cả các chị em:

  • Can đảm lên! Các con hãy ra đi bình an. Ở bên đó, các con sẽ có dịp làm rất nhiều việc thiện.
  • Tiếp đến là việc ôm hôn cảm động lần chót.

Không thể chịu đựng nổi những làn sóng dào dạt yêu thương đang cuồn cuộn trong tâm hồn, Mẹ đã khóc.

Còn gì đẹp bằng những giọt nước mắt này. Chúng giống như những hạt kim cương quý giá, thêu dệt con đường phiêu lưu của đoàn con và lối về trời của Mẹ.

*******

Các chị truyền giáo đi rồi, Cha Bosco muốn Mẹ đi Saint Cyr dưỡng bệnh. Các chị em ở tỉnh lỵ miền duyên hải giữa thành Toulouse và Marseilles sẽ vui mừng được chăm sóc Mẹ.

Ở Saint Cyr, bác sĩ  xem xét bệnh nhân và tuyên bố rằng Mẹ bị sưng màng phổi vào giai đoạn trầm trọng, cần điều trị lâu và nghỉ ngơi nhiều.

Tin này được loan truyền mau chóng tới tận Nizza, và tới mọi nhà của hội dòng.

Đâu đâu cũng cầu khẩn, lo âu.

Còn bệnh nhân cứ tiếp tục ghi lại những bằng chứng của  tình yêu hoàn toàn tận hiến.

Người ta hành hạ mẹ bằng những cuộc giải phẫu đau đớn. Từng tảng da thịt phải cắt đi, Mẹ vẫn an vui, và còn tìm ra cách chú ý tới một nữ tu trẻ tuổi không khỏe mấy trong những ngày ấy.

Có một nữ tu kia than phiền vì không được cử theo phiên như các chị em khác, vì ai cũng cho là chị bất tài, lại được chính Mẹ chọn làm y tá riêng:

  • Con giỏi lắm đấy, chứ kém ai đâu? Món cháo con nấu thật là tuyệt diệu! – Mẹ khuyến khích để người chị em tin tưởng ở mình, dù có phải thiệt thòi do sự vụng về của chị gây ra.

Bao giờ cũng thế, điều lý tưởng đối với Mẹ là có dịp để hãm mình hy sinh. Và còn gì đẹp hơn khi mà từ dịp quên mình này, Mẹ lại có thể thi hành đức bác ái thông cảm và khích lệ những người chung quanh.

Vì thế, gian phòng nhỏ bé của Mẹ đã trở thành tổ ấm vui tươi, nơi Mẹ tự hiến cho các con, một tổ ấm và một bàn thánh.

Các chị em tới thăm nom lo lắng cho Mẹ, nhưng đồng thời khao khát được nghe Mẹ nói. Mặc cho những cơn ho dữ dội, những hơi thở nặng nề, Mẹ vẫn niềm nở tiếp đón, và nâng lòng mọi người lên cùng Thiên Chúa.

Vẻ vinh quang của buổi hoàng hôn như chiếu giãi nơi các linh hồn để họ được thưởng thức những chân trời tuyệt mỹ.

Tuy nhiên, còn có một điều Mẹ ao ước là được trở về Nizza, trung tâm Tu hội.

Ở đó các chị em đang chờ đợi, đang khẩn cầu.

Khi mùa xuân tới thì cơn bệnh cũng chấm dứt. Mặc dù nó sẽ trở lại tấn công vũ bão hơn.

Nhưng chỉ cần cơn bệnh ẩn mình đi một chút là Mẹ nhất quyết lên đường.

 

Chương XXIII

CHÚNG TA HÃY CÙNG NHAU CA HÁT

Nizza đã nhận được lá thư báo tin Mẹ Mazzarello lên đường, và chỉ còn ít ngày nữa sẽ ở nhà.

Mọi tâm hồn đều sung sướng hân hoan.

Có một cuộc nghỉ chân ngắn ở Nizza Marittima.

Cha Bosco đang ở đó, vị thánh nhân mà hồi còn xuân xanh, Thiên Chúa đã đưa đẩy Mẹ bước theo vết chân Ngài; vị thánh mà cùng trong lý tưởng tông đồ của Ngài, Mẹ đã thực hiện cách hữu hiệu lý tưởng của mình.

Bên cạnh Cha Bosco, Mẹ tỏ ra thực là người con thảo đối với Cha hiền, Mẹ cởi mở cõi lòng, nói cho Ngài nghe về cái chết sắp tới của chính mình. Mẹ còn hỏi Cha Bosco với lòng tín cẩn, với tâm tình tự nhiên:

  • Thưa cha, cha nghĩ sao, con có khỏi bệnh không?

Thánh nhân không trả lời ngay. Nhìn Mẹ một giây rồi nửa đùa nửa thật, cha mỉm cười, kể câu chuyện sau đây:

“Có một lần, tử thần tới gõ cửa tu viện kia. Chị canh cổng ái ngại ra mở.

  • Hãy tới theo ta – tử thần mời gọi.

Sức mấy mà chị ấy nhận lời!

  • Đâu có ai thay tôi mà đi? Không, không thể được!

Hắn chẳng nói chẳng rằng, đi thẳng vào nhà trong. Gặp ai hắn cũng mời: nữ tu, giáo viên, thử sinh, học sinh và cả chị làm bếp nữa. Nhưng tất cả đều chối từ, họ nói rằng, họ còn có nhiều công chuyện phải thu xếp cho xong.

Bấy giờ tử thần nhất quyết đi tới bà Bề Trên và ra lệnh:

  • Hãy theo ta!

Bà Bề Trên chưa kịp chối từ, thì hắn đã tiếp:

  • Làm Bề Trên thì phải đi trước, làm gương sáng cho mọi người, dù có phải hành trình sang thế giới bên kia đi nữa!
Bà Bề Trên đành cúi đầu bước đi theo hắn.

Mẹ Mazzarello im lặng lắng nghe, không bình phẩm, chỉ mỉm cười ra bộ không hiểu chi hết về ý nghĩa câu chuyện đó, Mẹ không muốn làm cho kẻ đồng hành đã nghe câu chuyện phải buồn phiền.

Nhưng trong tâm hồn Mẹ, vẳng lên câu vâng cuối cùng đầy ý thức: Lạy Chúa, này con đây!

 Mẹ cảm ơn Cha Bosco lần sau hết. Câu cám ơn phát ra từ tâm hồn Mẹ lúc đó như gói ghém tất cả tấm lòng biết ơn của toàn Tu hội.

Thế rồi, không chần chừ, Mẹ lên đường trở về Nizza.

Mẹ về tới nhà ngày 28-03, một ngày khải hoàn chính thức.

Giá có vị nữ hoàng nào tới, các chị em và học sinh cũng không thể tiếp đón nồng hậu hơn.

Trong nhà nguyện, bản “Tạ ơn” vang lên; ngoài sân những tiếng hoan hô long trời lở đất.

Âm nhạc, thơ ca, mùa xuân đượm thắm hương hoa đón chào mẹ với tất cả niềm vui trong sáng, mến thương sau bao ngày lo lắng đợi trông.

Trên gương mặt mệt nhọc đau đớn của người mẹ chiếu sáng một niềm vui thanh thản, niềm vui dịu dàng của kẻ chắc chắn về điều sắp xảy ra:

  • Cám ơn các con rất nhiều. Nhưng xin các con đừng quá hân hoan.

Vì không muốn dập tắt niềm hứng khởi đó, Mẹ đưa nó tới chỗ ôn hòa:

  • Đừng bao giờ nên hoan hỷ quá khi vui, cũng như không nên âu sầu quá lúc đau buồn. Đôi mắt âu yếm của mẹ như đang nhìn thấy những gương mặt hớn hở kia ngày nào đó sẽ đẫm lệ sầu.

*******

Từ ngày trở về, Mẹ lại tiếp tục công việc thường lệ, theo đúng luật nhà, không có chi thay đổi cả, mặc dù Mẹ vẫn còn mệt nhọc và đau đớn bên hông.

Chị em chỉ thấy Mẹ mỗi ngày một khao khát yêu mến tận hiến, hy sinh.

Hôm đó, vào giữa tháng Tư, mùa xuân cười tươi trong ánh nắng, và cây anh đào vừa chớm nở nụ hoa.

Ngày giặt giũ.

Mẹ cũng bận rộn chung quanh chiếc vại lớn.

Đời sống tiếp tục nở hoa chung quanh Mẹ trong một mùa xuân ơn thánh, cho những ai thấy Mẹ khiêm nhu làm việc, hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

  • Thôi Mẹ để đó đi, đừng lao nhọc quá như vậy! – chị em can ngăn Mẹ .
  • Cứ để cho Mẹ làm. Chúng ta làm việc cho một ông chủ giàu có vô cùng. Vậy chúng ta hãy làm cho hăng hái, tới giờ Chúa sẽ trả công cho chúng ta – Mẹ trả lời.

Nhưng về sau, vì các chị bó buộc, Mẹ mới thôi không giặt giũ nữa. Và vì thế, Mẹ liền đi khuân củi để đun bếp, để nhóm ngọn lửa hồng. Trong khi thi hành cái công việc đẹp đẽ, đầy ý nghĩa tượng trưng này, Mẹ đã ngã quỵ, phải bỏ tất cả, phải nằm bẹp trên giường và không bao giờ trỗi dậy nữa.

*******

Bệnh sưng phổi trở lại trả thù cách dữ dội. Trong nhà ai cũng biết rằng Mẹ sắp ra đi vĩnh viễn. Ngay cả những bức tường vô tri vô giác cũng hình như âu sầu về sự thật chua xót này.

Bên ngoài, mùa xuân vẫn tiếp tục hát ca nguồn vui sống.

Từ chiếc giường nhỏ cạnh bàn thờ, Mẹ chiêm ngắm cảnh đất trời, thì thầm cùng Mẹ Petronilla đang ở bên, trung thành như người bạn cũ xa xưa.

  • Cảnh thiên nhiên sao mà đẹp thế! Nhưng thiên đàng còn đẹp biết bao nhiêu lần thế nhỉ?
“Sống sao thác vậy”.

Mẹ Mazzarello say mê Thánh Thể, đã rút ra những lần hiệp lễ cuối cùng tất cả sức mạnh, tất cả lòng hăng hái, để đổi những đau thương thành niềm vui dâng hiến, và thời giờ thành những cuộc đối thoại lâu dài cùng Thiên Chúa.

  • Càng đau khổ bao nhiêu, càng hạnh phúc bấy nhiêu! – Mẹ nói gương mặt cháy sáng lửa yêu mến – sự sung sướng trên trời chờ đợi tôi to tát đến nỗi những đau khổ ở đời này tôi cho là quý giá.

Rồi bỗng nhiên, tha thiết ôm cây thánh giá Mẹ thốt lên:

  • Lạy Chúa, nếu con gặp Chúa trên đường Calvê, con sẽ không để Chúa vác cây thánh giá, đeo mão gai nhọn này. Con sẽ không để những ác nhân đánh đập, đối xử tàn tệ với Chúa như thế. Ôi! Nếu con có thể ở đó để ôm lấy Chúa, và hứng lấy tất cả những đau khổ mà Chúa phải chịu. Vâng con sẽ làm thế. Và lúc này, con cũng có thể làm được. Hãy giữ cho con thật nhiều đau khổ. Ôi Chúa Giêsu, Chúa Giêsu của con. Con yêu mến Chúa bây giờ và cho đến muôn đời.

Những lời nói ấy mỗi lúc một hăng hái hơn, gương mặt chói lọi hơn, cái nhìn sâu thẳm như bị sức vô hình thu hút.

Hầu như chính lửa tình yêu Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, đã ngự xuống trên khí cụ hữu hiệu này, để dùng miệng nó mà nói lên những lời sốt mến, đầy ánh sáng trước khi đem nó đi, vì nó đã hoàn toàn biến đổi trong Ngài.

“Sống sao thác vậy”.

Tâm hồn Mẹ Mazzarello vẫn luôn ở trên trời mà không bao giờ quên trái đất.

Con đường thiêng liêng của Mẹ, cốt yếu và đơn sơ như chính lộ của phúc âm, đó là niềm say mê Thiên Chúa và các linh hồn.

Cho tới giờ hấp hối, Mẹ còn chú trọng đến sự cần thiết của mỗi người.

Chị Maria Besucco có nhiệm vụ canh cổng biết rõ về điều đó. Chính ngay trước ngày Mẹ qua đời, chị gõ cửa phòng Mẹ để vào đưa thuốc. Chị trông coi Mẹ lúc ấy nhận lấy lọ thuốc rồi cáo từ chị. Mẹ Mazzarello trông thấy liền lên tiếng:

  • Ấy, cứ để chị ấy vào. Tội nghiệp chị ấy lúc nào cũng bận rộn ngoài cổng, nên đã lâu Mẹ không trông thấy chị.

Rồi Mẹ nói với chị nữ tu:

  • Thế nào, con có mạnh giỏi không? Con có cần gì không?

Chị cảm động khóc. Mà làm sao không khóc được, khi sắp mất một người Mẹ dịu dàng như vậy?

  • Không, con đừng khóc – Mẹ yên ủi chị – Mẹ về trời chứ có đi đâu! Còn con mới phải chăm sóc tới sức khỏe của mình.

Và Mẹ chỉ cách thức chữa bệnh chị ấy ra sao, y như thể phải chữa chính bệnh mình vậy. Thế rồi gọi chị lại gần, Mẹ bảo:

  • Chúng ta hãy cùng nhau hát một bài!

Với giọng run run, Mẹ cất bản “Tung hô Mẹ Maria”.

Ca khúc ấy nói lên tấm lòng âu yếm đối với Mẹ trên trời, và tình thương đối với đứa con khiêm nhu mà Mẹ sắp phải giã từ.

Mẹ Maria Mazzarello dù gần tới cửa mồ cũng vẫn là nhà giáo của cuộc đời:

  • Các con hãy yêu thương nhau, hãy yêu thương lẫn nhau. Hãy thực thi đức ái chân thật, tuân phục và khiêm nhường – Mẹ khuyên các nữ tu.

Rồi như để đánh tan nỗi buồn sầu đang bao phủ những gương mặt đầy nước mắt của các con, Mẹ tỏ ra vui vẻ như một cô bé đang nhí nhảnh hái hoa:

  • Các con hãy luôn luôn vui vẻ trong Thiên Chúa!

Vào lúc đó, một số học sinh vừa mặc áo hội Con Đức Mẹ đã được đặc ân tới thăm Mẹ. Các em đem biếu Mẹ một chùm hoa trắng, thay mặt toàn thể học sinh, “các con nhỏ” của Mẹ.

  • Các con hãy luôn luôn thành thật, nhất là khi xưng tội – Mẹ khuyên các em, tay nhẹ nhàng mơn trớn những cánh hoa mềm mại.

Rồi nhìn các em hồi lâu, Mẹ mỉm cười – nụ cười nói lên tất cả tấm lòng thiết tha yêu mến các em.

Khi chúng đi rồi, Mẹ quay sang nói với các Bề Trên và các chị em đang hiện diện:

  • Các con hãy hết sức giáo dục các thanh thiếu nữ, dạy chúng phải ăn ở thành thật, vì làm như thế là các con đã sửa soạn cho chúng sống hẳn hoi và chết ngay lành rồi đó! Các con hãy dạy giáo lý và tìm hết cách để chúng ưa thích học giáo lý. Nhưng giáo lý thì phải cho ra giáo lý, những câu chuyện tưởng tượng phải bãi bỏ ra ngoài.

Những lời chân thật, nghiêm nghị này có giá trị như một di chúc thiêng liêng.

*******

Đây, Mẹ vừa chịu phép xức dầu.

Thiên quốc, tất cả đại gia đình Thiên quốc đang chờ đợi, đang thúc giục Mẹ trở về nhà Cha.

Cám ơn vị linh mục xong, Mẹ mừng rỡ thưa với ngài:

  • Giờ đây, cha đã ký kết giấy tờ xong xuôi. Con có thể đi được chứ?

Giây phút đợi chờ bình tĩnh an vui làm sao! Mẹ nhìn tất cả các chị em:

  • Nào, chúng ta hãy cùng nhau ca hát!

Chẳng khác gì mở nhạc ca ngợi cái chết sau khi đã hát trọn bài ca cuộc sống. Vì Mẹ hiểu rằng, cần phải hát cho xong bài ca cuộc sống, và sống luôn luôn bài ca ấy, ngay cả khi đã tới ngưỡng cửa đời đời. Nhất là trong giờ chết, vì niềm vui sắp được hưởng sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa.

  • Tôi muốn yêu mến Mẹ Maria, tôi muốn dâng hiến Mẹ tâm hồn.
  • Ai yêu mến Mẹ Maria sẽ được vui thỏa.

Như thế, bài ca Đức Mẹ đã bắt đầu khi bình minh lên, lại kết thúc cung nhạc dịu dàng khi hoàng hôn xuống.

*******

Đêm về, cái đêm đau khổ cuối cùng trong an bình, vì lòng luôn hướng về Mẹ trên trời.

Sáng sớm ngày 14-05, một ngày thứ Bảy. Bên ngoài, hoa vẫn đua nở, bát ngát hương thơm.

Tất cả thiên nhiên đều ca hát, thấm nhuần bài ca Đức Mẹ.

Giữa cảnh hòa hợp lạ lùng ấy, bỗng nhiên vang lên một nốt nhạc sầu. Cơn hấp hối Chúa Giêsu trong vườn được diễn ra nơi các thánh. Cả Mẹ Maria Mazzarello cũng phải qua cơn thử thách hãi hùng ấy.

  • Mình có được cứu rỗi không?- Mẹ tự hỏi.

Linh hồn như bị dìm sâu trong nỗi buồn rầu đến chết được.

Nhưng không tuyệt vọng, Mẹ dùng hết sức ngồi thẳng trên giường. Hình như muốn đe dọa kẻ thù đang thách thức trong bóng tối, Mẹ nhục mạ hắn:

  • Đồ khốn kiếp! Đồ khốn kiếp!
  • Mẹ nói với ai thế? – Các chị em lo lắng hỏi.
  • A! Ta biết lắm! Ta biết mình đang nói với ai! Giọng nói run lên, nhưng chứng tỏ một ý chí quật cường.

Và rồi, đôi mắt lang thang đi tìm đâu đó một điểm tựa. Đôi mắt đó ngừng lại nơi tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm dưới cuối giường.

  • Chà! – Mẹ kêu lên – Ta còn sợ chi? Ai đã tin cậy nơi Đức Mẹ mà phải uổng công? Can đảm lên, Maria, ta là con Đức Mẹ kia mà?
Lời nói chậm lại, giọng nói mông lung như vọng lại từ chốn xa xôi

Thế rồi, rất dịu dàng, cuộc độc ngôn tiếp diễn mà chúng ta có thể gọi nó là bài ca phó thác.

  • Ai đã tin cẩn nơi Mẹ Maria mà phải thẹn thùng? Ngày mai bắt đầu tuần chín ngày kính Mẹ Phù Hộ. Ta hãy ca lên những bài ca về Mẹ trong sự thương khó Chúa Giêsu.

Rồi thu hết tàn lực, Mẹ Mazzarello cất tiếng ca:

  • Ai yêu mến Mẹ Maria sẽ được vui thỏa.

Bàn tay chậm rãi giơ lên âu yếm từ biệt:

  • Về cùng Thiên Chúa! Về cùng Thiên Chúa! Hẹn gặp nhau trên cõi trời!

*******

Tất cả triều đình Thiên quốc cúi xuống trên người mẹ nhỏ bé mà lớn lao này.

Của lễ toàn thiêu đã được đón nhận.

Đời sống Mẹ Mazzarello là cả một bài ca thánh lễ.

Mẹ Maria đã cùng ca với Mẹ bài ca nhập lễ vào một buổi sáng tháng Năm, lại cùng Mẹ kết thúc câu “Thánh lễ đã hoàn tất” vào chính tháng Năm, trong ngày thứ Bảy, ngày đặc biệt cung hiến cho Người.

Mẹ Maria Mazzarello đã về tới nhà.

Bài ca của Mẹ còn vang lên mãi trong niềm vui bất diệt.

*********

Chương XXIV

ĐIỆN  THOẠI  VỀ  TRỜI

 

Mẹ mến yêu,

Khi còn sống, Mẹ đã khuyến khích chúng con luôn luôn “đánh điện tín” về trời. Lúc này thì chính con lại gọi điện thoại cho Mẹ từ cõi trần gian.

Con cần phải nói với Mẹ.

Những trang sử đời Mẹ vừa được diễn ra trước mắt con, đã bày tỏ rõ dung nhan và nếp sống của Mẹ.

Con hiểu Mẹ thực sự.

Giờ đây con muốn thưa rằng: con mến Mẹ.

Khi nhìn Mẹ từ xa, nhân đức của Mẹ khiến con kinh ngạc, nhưng lúc này, sự kinh ngạc ấy không chỉ còn là một niềm khâm phục lạnh lùng.

Con mến Mẹ, hiểu Mẹ và cảm thấy gần gũi Mẹ.

Ngắm cây Tu Hội Mẹ vĩ đại, cành lá xum xuê đang bao phủ khắp năm châu, con nghĩ tới Mẹ, tới hạt giống nhỏ đã muốn dành cho mình cái chết phong phú, cái chết sinh ra sự sống.

“Nếu hạt lúa mì gieo xuống đất không thối đi, nó chỉ trơ trọi một mình. Nhưng nếu nó thối đi sẽ sinh được nhiều bông hạt” – Chúa Giêsu đã nói.

Trong vực sâu thẳm đức khiêm cung, Mẹ để cây đâm rễ sâu xa. Và cây đã, đang khai hoa kết quả không ngừng.

Từ các trường đủ loại và cấp bậc đến các cô nhi, lưu xá, khánh lễ viện, đâu đâu cũng có những người hăng say làm việc để giáo dục lớp người trẻ tuổi, và do đó, đáp lại phần lớn những nhu cầu của thế giới ngày nay.

Còn những địa điểm truyền giáo, từ năm 1877 xa xôi đến nay chưa dứt tiếng vang hứng khởi vui tươi và trở nên mỗi ngày một thịnh vượng và tăng thêm con số.

86 trung tâm truyền giáo chính thức rải rác khắp thế giới hôm nay đã lặp lại tiếng than của Chúa Giêsu từ 20 thế kỷ trước: “Ta đến mang lửa xuống thế gian này, và ta ước mong cho lửa ấy bừng cháy lên”.

Thưa Mẹ, đây chính là mùa màng của Mẹ.

*******

Và trên Mẹ, con người nhỏ bé mà lớn lao đã mở rộng ánh vinh quang.

Buớc đường thực mau lẹ, sáng ngời.

Ngày 03-05-1936, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã công nhận lòng sùng kính Thánh Thể, sự kết hợp với Chúa, tình yêu cực độ với các linh hồn trong đời sống trọn hảo của Mẹ. Và ngài đã đặt Mẹ lên hàng đáng kính.

Ngày 20-11-1938, Ngài lại tuyên bố Mẹ vào giữa các vị chân phước. Lòng sùng kính Mẹ tăng thêm và lan rộng khắp nơi. Những phép lạ do Mẹ bầu cử mỗi ngày một nhiều hơn.

Ngày 02-11-1951, Đức Thánh Cha Pio XII đã ghi tên Mẹ vào sổ các thánh. Toàn thế giới kêu cầu Mẹ, thanh thiếu nữ hướng về sự trung gian có thế lực của Mẹ trước ngai tòa Thiên Chúa.

Ai bước đi theo đường lối Mẹ đã đi, cũng sẽ trở thành thánh. Thì đây: chị nữ tu trẻ tuổi Teresa Valse Pantellini, mẹ Maddalena Morano và em nhỏ Laura Vicuna.

Trong ánh sáng của Mẹ, các ngài đã từng mơ những đỉnh trọn lành, và đã đạt tới bằng tình yêu và khiêm nhường.

Giờ đây, Hội thánh đang vận động cuộc phong thánh cho các ngài và chúng con chờ đợi bài ca vinh hiển ấy.

Các ngài cũng đang chờ đợi chúng con, cùng với Mẹ, trên ngưỡng cửa nhà Cha.

*******

Ôi, thưa Mẹ, Me cao cả biết bao! Với trái tim cao thượng của Mẹ, Mẹ vẫn còn gắn bó với đời sống chúng con, với những lo lắng, sợ hãi, khao khát, ước mong của thanh thiếu nữ trên trần.

Bởi vì Mẹ biết thông cảm và yêu mến, lắng nghe và khuyến khích. Mẹ đi tìm chân lý đến cùng, và nêu lên trước mặt mỗi người chúng con dung nhan của lý tưởng có cùng tên: Thiên Chúa.

Xin Mẹ hãy dẫn dắt chúng con tới cùng Chúa, dưới nụ cười của Trinh nữ Maria và trong sự chở che của Thiên thần bản mệnh đang ở bên chúng con.

Hãy giúp chúng con đừng phí phạm tuổi thanh xuân, hồng ân cao cả của cuộc đời. Trái lại, hãy giúp chúng con biết ném mình trên bước đường trong sáng, và nếu Thiên Chúa muốn, trên chính con đường quảng đại vô điều kiện của tình yêu mà Mẹ đã từng tiến bước.

Thế rồi, trong những giây phút vui, buồn, sống, chết của cuộc đời, và cũng là khởi điểm của cuộc sống mai sau, Mẹ hãy vang lên bên tai chúng con lời kêu gọi cuối cùng: “Chúng ta hãy cùng nhau ca hát!”

Bởi vì đẹp biết bao khi hát lên bài ca cuộc sống và sống như mẹ, cho tới cùng, chính bài ca ấy.

********

THÁNH NỮ MARIA DOMENICA MAZZARELLO

Đồng Sáng Lập Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ với Don Bosco

Maria Domenica Mazzarello sinh  ngày 09 tháng 05 năm 1837, thôn nữ làng Mornese, thuộc vùng Bắc Ý. Gia đình Mazzarello nghèo, đông con, sống bằng nghề trồng nho. Cuộc sống vất vả nhưng gia đình đạo hạnh. Nơi đây, Mazzarello đã có một tuổi thơ hồn nhiên, hạnh phúc và thấm nhuần sâu đậm tinh thần Kitô giáo. 

Năm 12 tuổi, gia đình Mazzarello từ Mornese chuyển đến Valponasca, giữa một nông trại ở ngoài làng. Vì yêu Chúa Giêsu Thánh Thể tha thiết,  Mazzarello không quản ngại đường xá gập ghềnh, hẻo lánh, xa xôi; vừa chu toàn bổn phận, vừa trung thành tham dự Thánh lễ mỗi ngày. Khi màn đêm buông xuống, trên căn gác nhỏ, qua chiếc cửa sổ nhỏ bé của nhà (cửa sổ Valponasca), nơi có thể nhìn thấy ánh đèn chầu bên cạnh nhà Tạm của nhà thờ Giáo xứ, Mazzarello thường xuyên và say sưa trò chuyện với Chúa Giêsu Thánh Thể.  Tại Giáo xứ, Mazzarello là một trong những thành viên nhiệt thành nhất của nhóm thiếu nữ  Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (Nhóm tiền thân của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ).

Một biến cố xảy ra năm Mazzarello lên 21 tuổi: một tên trộm lẻn vào và lấy đi hầu như toàn bộ gia sản, cha mẹ cô quyết định chuyển gia đình vào trong làng. Hai năm sau, một nạn dịch lớn trong vùng đã hướng cuộc đời Mazzarello sang một khúc rẽ khác. Sau hành động bác ái là chăm sóc gia đình người cậu, chính cô đã mang lấy bệnh dịch của họ. Từ đây, sức khỏe của Mazzarello không còn nữa, cô không thể tiếp tục làm công việc đồng áng.

Dù sức khỏe yếu ớt nhưng với nhiệt tình tông đồ hăng say, Mazzarello cùng cô bạn thân là Petronilla đề ra một chương trình mới: trở thành thợ may và qua đó dẫn đưa các trẻ nữ đến với Chúa. 

 Ngày 7 tháng 10 năm 1864 tại Mornese, đánh dấu một biến cố lịch sử quan trọng: Don Bosco gặp gỡ Mazzarello. Qua đó, Mazzarello cảm nhận cùng một kế hoạch tông đồ mà Chúa đang mời gọi: nơi Don Bosco hiến mình cho thanh thiếu niên; còn nơi cô, chăm lo cho thanh thiếu nữ.

Ngày 5 tháng 8 năm 1872, Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ ra đời trong sự dẫn dắt của Don Bosco. Mazzarello trở thành nữ tu và sau đó là Mẹ Bề Trên Tổng quyền Tu hội này. Sự kiện này ứng nghiệm thị kiến khi Mazzarello còn là thiếu nữ và sau khi bị bệnh dịch: Trong thị kiến, Mazzarello thấy trên ngọn Borgo Alto phía trước, một toà Lưu xá đồ sộ,   có những nữ tu đang được những thiếu nữ vây quanh và họ cùng vui chơi ca hát. Và một tiếng nói vang lên: “Ta trao phó chúng cho con!”.

Trong vai trò là người hướng dẫn Tu hội, Mẹ thánh Mazzarello đã thể hiện phong cách giáo dục Salesien mang đậm nét nữ tính và sinh động các chị em trung thành, sáng tạo theo tinh thần của Cha thánh  Gioan Bosco, Đấng Sáng Lập. 

 Ngày 14 tháng 5 năm 1881, Mẹ Mazzarello qua đời tại Nizza Monferato, Nhà Mẹ thứ hai của Tu hội.

Ngày 24 tháng 6 năm 1851, Đức Piô XII phong thánh cho Mẹ và nhìn nhận vai trò Đồng Sáng Lập Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ với Don Bosco.

MỤC LỤC

  1. Thôn xóm đó
  2. Cánh hoa đồng nội
  3. Giấc mộng đẹp của Thiên Chúa
  4. Tiến lên đi gặp mặt trời
  5. Con đường trong sáng
  6. Bước sang một nẻo đường
  7. Tổ ấm đầy ánh sáng
  8. Cuộc hội ngộ vĩ đại
  9. Đài kỷ niệm sống động
  10. Khi có lửa trong nhà
  11. Khi ngọn lửa tình yêu bành trướng
  12. Người mẹ
  13. Thanh bần, vui vẻ cùng chung sống dưới một mái nhà
  14. Một tấm lòng
  15. Hãy cho tôi các linh hồn
  16. Cuộc phiêu lưu thần thánh
  17. Như một gia đình
  18. Bầu không khí vui tươi
  19. Đàn chim én tung bay
  20. Người trồng cây khéo léo
  21. Về bến
  22. Những tia sáng cuối cùng
  23. Chúng ta hãy cùng nhau ca hát
  24. Điện thoại về trời

Leave a Reply

Your email address will not be published.